|
Contributed by: Admin |
Views: 2.248
Chúc Chân
Tác giả tên thật Hùng Túy Trước, tuổi Giáp Ngọ, cư trú
tại Austin, Texas, tự sơ lược tiểu sử: 18 năm làm kỹ
sư, hiện làm nghề thợ săn việc.
* * *
Phải thú nhận tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao khá
sáng. "Con đường sự nghiệp" của tôi trôi trảy như bài
học thuộc lòng "công cha như núi thái sơn....".
Khi qua tới Mỹ, tôi phải làm lại từ đầu như hầu hết
"baby boomer" đám con VN sinh sau ngày nam bắc phân tranh. Từ
con số không với việc làm lương minimum wage lúc đó là 3
đồng một giờ, tôi bò lần qua "white colar" job và leo
thang qua ngạch kỹ thuật.
Tôi đi qua hầu hết các nước Á Châu làm công chuyện cho
công ty, đương nhiên tất cả chi phí do công ty đài thọ.
Thượng vàng. Đi máy bay first class và business class với
ghế bành rộng rải. Ở khách sạn năm sao sang nhứt xứ
Tôi là "customer" khách quí VIP, nên khi tới viếng được
"supplier" tiếp hết mình, đải tiệc yến tưng bừng với
những móm ăn đặc thù bản xứ.
Như có lần ở Osaka, tôi được mời đi ăn Tempura, dỉa
đồ ăn gồm các món cải và đồ biển lăn bột chiên mà
bây giờ khá thịnh hành ở Mỷ. Bàn ăn kiểu Nhật ngồi
quì gối chung quanh một bậc gổ thấp. Sau khi chủ khách
phân ngôi, thì bậc gổ tự động mở ra, bên dưới từ
một hầm nhỏ từ từ nâng lên, trên một platform, ông
đầu bếp ngồi bên chảo mở cùng tẩt cả vật dụng. Sau
khi cuối đầu chào tất cả quí thực khách, Chef bắt tay
vào việc bên những lát khoai lang mỏng, khoanh hành, những
con tôm tươi. Khi "trình diển" màn nấu nướng xong xuôi
và bày biện thức ăn hết sức mỷ thuật trên những cái
dĩa sành cổ, Chef cuối đầu chào. Platform từ từ hạ
xuống và bậc gổ khép lại.
Thực khách bắt dầu thưởng thức món tempura đặc thù
Nhật Bản. Nhà hàng nầy nổi tiếng ở Osaka gần trăm năm
và chỉ phục vụ khách hàng là những công ty "xộp" nhất
thành phố.
(Ô . Tôi nên trở lại viết về đời sống ở Mỹ.)
Anyway.... Làm lâu lên lão làng. Tôi sau đó cũng hay than
phiền "hit the glass ceiling". Khi không còn bậc thang nào
để leo lên bên ngạch kỹ thuật, tôi bắt đầu bò qua
ngạch "quản trị" và bước tới khá trôi trảy. Ông xã tôi
chào thua và bảo rằng tôi điếc không sợ súng.
Dựa hơi công ty cuộc đời tôi lên hương như diều gặp
gió.
*
Con đường sự nghiệp của tôi thật ra bắt đầu ở ngôi
trường Sơ Cấp Chợ. Ngôi trường không tàn tệ như ngôi
trường làng trong chuyện Cỏ Non của Lê Tất Điều thỉnh
thoảng được con heo của lối xóm tới viếng.
Trường tôi có mái ngói cũ rêu đen vá lấp, vách phong tô
quét vôi ngà vàng loang lổ, và vỏn vẹn chỉ có ba gian lớp
học. Một vòng hàng rào bằng cây me keo trái chát ngắt bao
quanh thỉnh thoảng có những con chó đi rong chui vào qua lổ
chó chạy vào. Cái sân đất nện trước dảy lớp để
sắp hàng chào cờ mỗi buổi sáng cũng là sân chơi giờ
giải lao cho đám học trò ngờ nghệch. Trường thuộc thị
xả, nằm đối diện tòa hành chánh xã. Về sau khi chiến
tranh leo thang hành chánh xả dọn đi nhừng chổ cho Ty Thông
Tin của tỉnh lỵ.
Trường chia làm hai buổi dạy sáu lớp, từ lớp một cho
tới lớp ba do cô Một (thứ mười một trong gia đình),
cô Tư và cô Mai dạy buổi sáng. Cô Vỉnh, Cô Năm và thầy
Hó dạy buổi chiều. Chồng cô Vĩnh về sau được TT
Thiệu chọn vào tối cao pháp viện. Tôi kể nhiều về các
giáo viên. Ở tỉnh lỵ tôi lớn lên "một nơi ai cũng quen
nhau".
Tôi nhớ ngày đi học đầu tiên trong đời ở ngôi
trường Sơ Cấp Chợ. Mùa hè năm đó tôi được cho theo
học lớp hè do anh học sinh vừa đậu tú tài một dạy kèm
trong xóm trước khi năm học bắt đầu. Thả long rong, tôi
đi theo anh tôi kế bắt dế hay đá cá xiêm thì hết duyên
con gái.
Hết hè năm đó thì tôi đã rành rọt i tờ, vần xuôi,
vần ngược. Hôm khai trường cô tôi đưa tôi đi học. Cô
đưa con cô hơn tôi 1 tuổi đi học nên tạt ngang đưa tôi
luôn. Ký ức của tôi còn ghi lại căn lớp học chật thích
những bàn gổ sắp thành ba dảy dài, lốn nhốn hơn năm
mươi đứa trẻ nao nức trong ngày đầu đến trường. Cô
giáo thì bận bịu lo ghi danh, điền tên học sinh vào sổ
học bạ, duyệt xét bản khai sinh và sắp chổ ngồi cho học
trò.
Tôi nhớ mình là đứa trẻ cuối cùng được sắp chổ
trong lóp. Trouble maker. Cô giáo nhìn tôi, vốn thân nhỏ hơn
tuổi, khai sinh không thể lầm được. "Saù tuổi, xin lổi
bà dắt cháu về đi, phải bảy tuổi mới vô lớp năm
được". Tôi nhìn xuống dảy bàn lố nhố , mấy đứa bạn
cùng xóm, cùng lớp học hè với tôi dang hãnh diện tươi
cười và "chẻm chệ" ngồi trên cái băng ghế gổ xiu vẹo.
Tự nhiên chân tôi chôn cứng trên cái nền xi-măng căn
lớp năm trong ngôi trường Sơ Cấp Chợ hôm đó, không ai
lay chuyển nổi.
Không biết vì những giọt nước mắt lưng tròng của tôi
đã khiến cô Năm hôm đó cảm động hay vì cô không có
nhiều thì giờ trong một ngày bận bịu nhất trong năm. Cô
giải quyết vấn đề khá mau lẹ và công bình. "Thôi
được, em phải đánh vần cho cô nghe, nếu được thì cô
nhận". Cô bắt đầu bằng nhừng chử trong bảng mẩu tự,
rồi thử qua vần đôi, rồi vần kép. "Chữ nghĩa" trong
tôi cứ tuôn trào "lai láng". Nhìn nhừng đứa trẻ cao long
nhong ngồi dảy bàn cuối, với mớ tóc chôm bôm, ổ chí
cô phải trông , rồi cô nhìn lại tôi đang háo hức "thi
tài" Cô Năm nhận tôi vào lớp năm bỏ qua hết luật lệ.
Ngôi trường tiểu học duy nhất trong tỉnh lỵ nhận học
sinh từ lớp năm đến lớp nhất và tất cả học sinh
chuyển từ những trường sơ cấp (lớp ba) trong thị xả
và các xả lân cận. Trường được thiết kế hồi thời
Tây thuộc địa xa xưa, nhưng đến năm tôi lớn lên vẫn
không thay đổi. Chỉ củ kỷ hơn. Trong khuôn viên bao bọc
bốn dảy lớp học chia thành hai trường. Trường Nam Tiểu
Học Tỉnh lỵ và Trường Nử Tiểu Học Tỉnh lỵ. Dảy lớp
được cất trên một nền cao, nóc lợp ngói, vách phong
tô như hầu hết các cơ sở công cộng khác do Pháp xây
cất. Qua bao nhiêu năm chỉ được tu bổ cầm chừng. Chính
phủ nghèo không có ngân sách chỉnh trang, ngôi trường đi
xuống. Chỉ có mấy cái sân cỏ và bờ rào me keo là
được cắt vén tươm tất. Cây phượng già trước cổng
trường sau những cơn mưa dầm nhiệt đới , trổ bông
đỏ ối mấy tháng hè.
Những năm tiểu học của tôi vào thời Đệ nhất Cộng
Hòa. Lúc đó chiếc áo dài cổ trẹt kiểu "bà cố vấn"
rất thịnh hành và những tiệm uốn tóc trong tỉnh lỵ bới
những mái tóc "ổ quạ" cho các cô rất khéo. Dãi nhựa
Viêt Nam nhạc thời trang đã phổ biến. Ở Sài gòn, nhạc
Twist đã được du nhập. Thế mà khi những cơn mưa đầu
mùa ào ào trút xuống ngôi Trường Tiểu Học Tỉnh lỵ,
nước tràn lên sân ngập tới nền lớp.Và cá, vâng cá,
cá theo con rạch nhỏ ăn thông qua rảnh mương khơi dọc
trước dảy lớp lội tới thềm.
Sang trung học, tôi học ở ngôi trường công lập duy nhất
trong vùng bao gồm 4 quận (county), quận châu thành và ba
quận lỵ lân cận . Trường có từ lớp đệ thất (lớp
6) đến đệ nhất (lớp 12). Học sinh phải qua kỳ thi
tuyển, mới được vào. Nếu không trúng tuyển thì
"Tương Lai" sáng lạng chờ đón. Tương Lai là trường tư
thục do một nhà thờ công giáo điều hành.
Trường trung học công lập có được "lực lượng" giáo
sư hùng hậu hơn, tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học sư
phạm quốc giạ Nhưng trường ốc thì thuộc về xứ nghèo
chậm tiến. Ba dảy lớp chính từ tàng tích "trăm năm đô
hộ giặc Tây". NămTôi vào trường, sau cái sân cỏ quanh
cột cờ là hai ao bèo xanh tươi, gần bờ mớ rau muống
nước thả rong, thỉnh thoảng được vớt cắt làm bửa canh
rau đạm bạc cho gia đình bác lao công quét dọn trong
trường. Sau Mậu thân 1968, trong chương trình Phát Huy Sinh
Hoạt Học Đường, nhờ viện trợ đồng minh, hai ao rau
muống được lấp lại để lấy đất xây thêm hai dảy
lớp học.
Chiến tranh leo thang, khu vực chung quanh trường được bộ
tham mưu sư đoàn 21 Bộ Binh và căn cứ đồng minh trấn
đón. Những dây kẽm gai không những "quấn trên vùng phòng
ngự", mà còn ngự trị ngay trong tỉnh lỵ và là thử thách
cho những tà áo dài trắng phất phơ của các cô học trò
cố giử sao cho vạt áo khỏi vướng vòng kẽm gai.
Lớp đệ tam (lớp 10), tôi học ở dảy lớp nối dài mới
cất thêm. Bên kia khung cửa sổ của lớp học sau hàng kẽm
gai là bãi dáp trực thăng của bộ tham mưu. Lớp lợp tôn,
nên "khi cơn mưa dầm kéo qua thành phố lạ", thầy trò
chúng tôi gấp sách lại "lắng nghe" tiếng mưa đổ ầm ì
trên mái thiết. Ngày nắng đẹp, khi những chiếc trực
thăng vô tình cất cánh hoặc hạ cánh, vị giáo sư già
lớp Anh văn chỉ biết nhìn lủ học trò vội vàng kéo lại
cánh cửa sổ để giữ những trang giấy không bị "cuốn
the chiều gió", cùng đám bụi mù quận lên theo cơn lốc
và tiếng gầm của những con chim sắt.
Tỉnh lỵ nằm cận kề chót cùng của chữ S, nơi khỉ ho cò
gáy, mặc dầu tôi chẳng bao giờ thấy khỉ hoặc cò. Khi
cuộc chiến lan tràn trên bốn vùng chiến thuật, giao
thông từ tỉnh lỵ lên Sài gòn rất khó khăn. Thành phố
thì buồn thiu, không nơi tiêu khiển, không cả một quán
cà phê để ngồi nghe nhạc tình TCS ngắm cô thâu ngân
duyên dáng. Đổi về tỉnh lỵ dạy học không là nơi ai cũng
uớc mong. Mặt dầu đám học trò ngây ngô rất chịu khó,
trường không giữ được giáo sư lâu . Có Huyền Trân
công chúa nào muốn ở lại Chiêm Thành?
Ngôi trường tiều tụy tuy vậy cũng hảnh diện là nơi
dừng chân của nhà văn Thái Phương, giáo sư vạn vật lớp
11 và lớp 12, xuất sắc với bài giảng chu trình chất
đạm và những câu chuyện tiểu thuyết đang được dàn
dựng. Người nhạc sỉ tài hoa Vũ Đức Sao Biển đã sáng
tác nhạc phẩm "Thu Hát Cho Người" trong những ngày chôn
chân trong tỉnh lỵ. Giáo sư triết, tác giả đã trình bày
bài hát nầy trong một "thính phòng" là lớp 12 ọp ẹp của
chúng tôi.
Trường chỉ có 2 ban cho đệ nhị cấp (high school), ban vạn
vật và ban toán. Sau khi xong lớp 11 và đậu kỳ thi tú tài
1, hầu hết các nữ sinh theo ban toán, đều đổi ban kéo
về ôm quyển sách vạn vật dầy cộm ngồi tụng. Lớp
đệ nhất ban toán thường chỉ có 1 hoặc 2 nữ sinh theo.
Tôi vốn rất dốt văn chương. Sách vạn vật theo định
nghĩa của tôi cũng là văn chương, nên quyết chí trung
thành với ban toán. Năm đó mùa hè đỏ lửa, với những
trận đánh ác liệt ở Quảng Trị và Bình Long. Lớp đệ
nhất của trường qua bao năm, lần đầu tiên tôi một nử
sinh đậu được tú tài hai ban toán.
Vào đại học có nghĩa là phải đi xa và tốn kém. Gia đình
tôi trung lưu, tuy dư giả nhưng ba tôi nghỉ con gái cần gì
phải vào đại học. Ít sau đi lấy chồng uổng công phí
của. Đám bạn tôi, sau khi đậu tú tài 2 hớn hở và đang
hoạch định chương trình đại học. Tôi thì không vuị Ba
tôi chỉ đống ý cho tôi vào cao đẳng sư phạm nếu
được trúng tuyển. Học làm cô giáo toán, không phải
điều tôi ước mợ
Thiếu tuổi đã là trở ngại cho tôi ngày sơ khai đi học,
bây giờ một lần nữa định đoạt tương lai tôi. Trường
cao đẳng sư phạm không nhận đơn thi của ứng viên dưới
19 tuổi . Có lẻ vì chương trình chỉ có hai năm, vị giáo
sư chưa hơn 20 tuổi ra trường không đủ phong độ chăng?
Năm đó tôi 18 tuổi.
Con đường đại học của tôi bị bí lối nếu mùa hè năm
đó không có người bạn của anh tôi tới chơi . Anh kỷ sư
trẻ mới tốt nghiệp quyết chí thuyết phục ba tôi ít
nhất cũng để cô tú 2 ban toán đầu tiên của tỉnh lỵ thi
thử vào đại học chuyên khoa kỷ thuật. Nếu không đậu
ít nhất cho học một năm dự bị khoa học để thi vào y
khoạ Không biết tài ăn nói của anh ra sao mà ba tôi mặc
dầu thở ra nhưng đồng ý.
Tôi ôm quyễn sách toán giải tích (calculus) "luyện công"
mùa hè năm đó, quyết chí vào đại học. Tôi trúng tuyển
vào trường kiến trúc Sài Gòn, cô học trò trường tỉnh,
làm thêm kỷ lực mới cho dân áo dài trường trung học
công lập tỉnh lỵ.
Nhờ nhạc sĩ hạm Duy "con đường Duy Tân cây dài bóng mát"
được nhiều giới biết tới. Nhưng ít ai biết song song
với con đường Duy Tân, đường Pasteur kế cận với hàng
cây sao cao rợp bóng mát thã những trái sao với hai cánh
dài quyện gió xuống con đường nhựa dài rất là nên
thợ Nói tới đường Pasteur, người ta chỉ biết chốn
hải hùng xui xẻo, chích ngừa chó dại. Thực tế hơn những
tô phỡ Pasteur nổi tiếng, sau nầy mang tận tới Mỹ.
Không ai nói tới thơ, tới mộng. Ngôi trường Kiến Trúc
củ kỷ nằn sau trường luật trên đường Pastuer ít ai
biết tới.
Số tôi phải học trường nghèo. Năm tôi vào, trường đang
tiến hành xây cất giảng đường mới với hàng cột bê
tông đang đúc. Ngân sách èo uột, họa đồ phải sửa
đổi và cắt giãm thảm thương. Dảy họa thất củ dọc bờ
đường Phan đìng Phùng với họa thất 4 nhộn nhịp giáp
ranh trường luật tha thướt bay lượn tóc dài, áo vắn
(mini jupe) bên kia bờ rào. Bên này đám sinh viên con trai
nghịch ngởm ăn ngủ tại trường những ngay lên bảng vẻ
họa đồ dự án, réo gọi hổn hào "cô áo xanh kia, cô xinh
lắm nghe".
* * *
Sự nghiệp kiến trúc của tôi chưa kịp bất đầu thì
biến cố 1975 và trận vượt biên làm thay đổi cuộc
đời hoàn toàn.
Khi tôi tới Mỷ dự tính theo đuổi "nghề" kiến trúc chìm
lần khi người ta nói mình tuy nghe được cả, nhưng không
hiểu họ nói gì.
Tôi bắt đầu đi học lại ở Mỹ với lớp ESL trong
trường Community College, ngôi trường cũ gần trăm năm ra
đời trước khi máy lạnh được sáng chế và không có
hệ thống sưởi central heat.
Sau đó không lâu tôi xin được việc làm part time trong
một hảng điện tử. "Sự nghiệp" tôi bất đầu bằng
công việc không cần chuyên môn (no skill) với mức lương
tối thiểu (minimum wage) 3 dollar một giờ như đã kể. Tôi
dự định làm việc nầy tạm thôi, sau khi tốt nghiệp sẽ
tìm được việc làm khá hơn. Công việc của tôi lúc đó
là đặt vào và dở ra những "cái bánh" silicon với li chi
transitors vào máy thử (test). Làm ca đêm, giờ giấc không
thích hợp cho nhiều "dân bản xứ", nhưng với dân tị nạn
rất tiện vì ban ngày có thể theo học các lớp dể dàng
hơn.
Với cái job tạm cho người "tạm dung", tôi bắt đầu cuộc
hành trình sự nghiệp kéo dài hơn 20 năm.
Một năm sau khi đi làm, một hôm anh bạn người Mỷ làm
chung với kéo tôi lên bảng dán "opportunity" những việc
làm cần người trong hảng, chỉ tôi "post" cần technician
về assembly packaging, thuộc mechanical. Thấy tôi đang ngại
ngùng , anh ta đốc vào, you bỏ đơn vô, không được you
đâu có mất cái gì, bất qua you ở đây tiếp tục kéo
cày nửa. Sau cùng tôi nghe theo, bỏ lá đơn xin việc vào
ngày cuối cùng "posting".
Thình lình hôm đó "supervisor" gọi tôi vào văn phòng làm
tôi rất phân vân, hổm rày mình chạy máy đâu có lổi
lầm gì, mà cũng không đi làm trể không biết "Xếp" gọi
có chuyện gì. Khi nghe Xếp báo cho tôi biết là opportunity
center muốn sắp giờ job interview cho tôi, tôi thở phào
nhẹ nhỏm. Xếp muốn biết tôi ngày nào tôi vào ban ngày
được để nói chuyện với "hiring manager".
Tim "the hiring manger" chào tôi và nói sơ về công việ đang
cần, sau đó tôi qua nói chuyện với Jim, người đang cần
phụ tá kỷ thuật. Jim là người kỷ lưởng, anh kể tỉ mỉ
công việc dài dòng văn tự cả tiếng đồng hồ. Tôi gật
gù "ừ hứ" lia chia một đổi và sắp ngũ gục thì may quá
lúc đó tới phiên tôi nói về mình. Tôi cũng chẵng có
gì nhiều để nói.
Những ngôi trường nghèo nơi xa xôi đâu đó, căn trại tỵ
nạn chen chúc không thêm vào được "quá trình sự nghiệp"
của tôi. Với tiếng Anh đặc giọng lớ, tôi sơ lược
"tiêù sử" ngắn gọn cũa mình. Sau đó Jim cám ơn tôi tới
nói chuyện nhưng không hứa hẹn gì cả. Anh cho biết có
nhân viên đang làm nơi đó cũng xin việc. Bắt tay giả
từ, linh tính hay vì thói quen tôi vuột miệng "See you
later".
Mấy tuần sau đó, tôi gặp lại Jim, "report to work" cho anh.
Về sau, Tim cho tôi biết dọc giòng "tiẻu sử" với quá
trình đại học cuả tôi, Tim nghỉ "tội" cho tôi kéo cày "a
no skill job".
Từ đó tôi mới thật sự đi vào con đường sự nghiệp,
một sự nghiêp cũng khá "xôi nổi".
Ít lâu sau khi làm cho Jim, "thầy trò" tôi có "develop" một
phương thức (process) assembly để giải quyết một vấn
đề kỷ thuật, căn cứ vào một ý kiến của Tim, Jim và
tôi lo phần chi tiết và thi hành. Công việc hoàn thành
tốt đẹp vàTim đề nghị chúng tôi "file patent" co-investors.
Năm sau patent của chúng tôi được hảng và sau đó chính
phủ Hoa Kỳ công nhận. Tôi có tên vào thư viện quốc gia
Mỷ. Thực tế hơn, được tiền thưởng hai ngàn, và uncle
Sam lấy bớt vài trăm.
Công việc giao cho tôi ngày càng nhiều, tương đương với
việc làm của một kỷ sư chuyên nghiệp, tuy vậy tôi không
phàn nàn. Jim sau đó được hậu thuẩn của ông director,
đưa tôi ra trình hội đồng kỷ thuật duyệt xét để
đổi ngạch cho tôi qua kỷ sự Trước khi đi trình làng,
tôi phải chuẩn bị đệ trình những chương trình tôi đã
hoàn tất. Jim " dợt" (rehearsal) tôi như quay dế. Hôm
"dợt" lần chót, Jim quay đến độ tôi "đòi" bỏ cuộc
"Come on Jim, ask other engineers, I don't think they know". Jim
phải ngọt lại, chẳng thà you bí ở đây còn hơn ra đó.
Hôm tôi đi "trình làng", "làng" ngồi trong phòng họp đầy
đủ bá quan kỷ thuật, 6 vị uy nghị Một anh thợ "dân bản
xứ" vào trước tôi trình xong đi ra, lắc đầu thở dài
thở vắn. Thôi thì lở phóng dao phải theo chớ sau, tôi
nhủ thầm. Khi cô thư ký gọi, tôi hồi hộp mở cửa đi
vào.
Mặc dầu đã dợt trước, tôi cũng khớp lắm, nhưng sau
một hồi "nóng máy", tôi thao thao tường trình những dòng
báo cáo trên trang transparency, với chử nghĩa tuông trào
như cô bé lớp năm khi xưa. Khi trình xong, theo "thủ tục"
tôi hỏi quí vị có gì thắc mắc không. Cả phòng im lặng.
Tôi nhủ thầm, thôi tiêu rồi, chẳng ai buồn thắc mắc
gì cả. Jim nói họ sẽ quay mình như quay chong chóng kia mà.
Sau cùng có một bàn tay giơ lên, "Tôi có thắc mắc, nhưng
xin lổi nghe, nếu không tiện you khỏi trả lời". Oh my God,
tôi than thầm chuyện gì đây? "Xin you cứ hỏi.", "You rời
Viet Nam sau 75, thế thì you đi ra bằng cách nào?", "By boat"
tôi đáp gọn lỏn và vỏn vẹn hai tiếng. "Xin hỏi thêm một
câu nửa", "Dạ được", "Sao you không làm lại nghề kiến
trúc?", tôi nhủ thầm good question, "Dạ hồi mới qua em nói
tiếng Anh không được, mà bây giờ như you biết, em vẩn
chưa nói rành giọng. Trong khi đó ngành kiến trúc cần
phải tiếp xúc với client nói năng cho lưu loát nên em
đành chào thua", "Cám ơn you".
Tôi hỏi lần nửa quí vị có
gì thắc mắc không. Vài người trả lời "Không". Mừng
quá, tôi cuốn gói chào ra ngay. Kết quả ra sao, tôi không
cần biết. Thoát nạn. Jim nói "You presented really well", tôi
đáp lại "Thank you và you dợt tôi quá chừng".
Thế là tôi qua ngạch kỷ sư, thêm một bước tiến. Rồi
liên tục, "nghiệp" của mình, tôi bay vòng liên miên về
các nước Đại Hàn, Nhật Bổn, Phi Luật Tân, Mả Lai... khi
công việc assembly đổ qua đó. Tokyo, Osaka, Kyoto, Souel,
Kuala Lumpur, Manila, Hồng Kông, "gót son" của tôi đều đặt
lên nhiều lần.
Cái patent Jim và tôi file tưởng đã chìm vào quên lảng,
tiền thưởng hai ngàn năm đó chúng tơi xài xong mấy
kiếp. Nhưng nó không chết.
Năm 1999, trong một dịp họp tòan khu tam cá nguyệt (quarter),
xếp tôi (tôi không còn làm chung vớI Jim) cứ tới nhắc
tôi nhớ đi dự ba lần bảy lượt, tôi rủa thầm "anh nầy"
lẩm cẩm quá, vâng tôi nhớ chớ khổ quá nói mải....
Cuộc họp trong một ball room rộng rải của một khách sạn
sang trọng chứa mấy trăm người. Sau khi khai mạc thường
lệ, Ông VP tuyên bố những thành quả của hảng và tuyên
dương "công trận"nhân viên. Mình đâu có làm chuyện gì
"anh hùng", nên tôi lơ đảng. Ông VP bất đầu khai màu , "
... in technology, I am please about a patent that has been selected
for 1999 Sector Patent of the Year, the highest reward in technology
...".
Oh yeah, mấy cái patents, tôi cũng được ba cái bỏ
túi. Đang thản nhiên nhìn vẩn vợ Hình như trên phóng
thanh, tôi nghe tên mình. Rồi tôi nghe ông VP gọi, " Chuc
Chan, where are you, please stand up". "Mẻ". Mấy người bạn
ngồi gần vổ tay thúc "Yes. Yoụ Stand up". Patent cũa Tim, Jim
và tôi đã mang vào lợi nhuận hàng chục triệu Mỷ kim cho
công ty trong những năm vừa quạ
Sau đó tôi dự buổi tiệc tiếp tân Patent thường niên
tổ chức linh đình và chích thức nhận lảnh giải
thưởng. Đứng giửa sân khấu thênh thang, với dàn đèn
pha làm choá mắt, tôi chỉ thấy tấm check15 ngàn đô thơm
phức và cái trophy nặng ôm kèm. Tôi và Jim gặp lại đêm
đó "thầy trò" hạnh phúc. Tim đã đổi hảng sau khi nhánh
anh làm bị spin off. Jim và tôi được mang bảng tên đặc
biệt "Gold badge" dành cho special inventors, những người
được phần thưởng Patent tối danh dự. Từ dó tôi mang
cái "gold badge" bên mình, lá bùa hộ mạng.
Mấy năm sau, hảng xuống dốc, sa thải nhân viên hàng loạt.
Tôi đang lọt vào một nhánh đang bị "giải giới". Những
tưởng cái "gold badge" lá bùa hộ mạng giử hộ job cho
mình. Nhưng thời buổi "nhiểu nhương" lắm điều thay
đổi, lá bùa hộ mạng không còn linh thiêng.
Chính là nhờ vậy mà tôi có thời giờ nhàn rỗi để
tập viết luận văn trở lại.
oOo
|