|
Contributed by: Admin |
Views: 36.028
Nguyễn Đức Can
Ở VN ta các chùa thường hay thờ Phật, thờ Tổ, thờ
Thánh. Nhờ Phật độ nên mỗi năm tôi về VN một lần,
mà lần nào tôi cũng đi từ Nam ra Bắc hầu hết thời
gian tôi đều dành cho việc đi tham quan các chùa, do đó
tôi thấy: Cách bài trí các tượng chư Phật, chư Bồ
Tát, ở trong chùa tuy cũng có công thức và ý nghĩa rõ
ràng, nhưng vì xưa nay không có sách vở nào ghi chép cho
tinh tường. Do đo,ù người ta mỗi khi bước chân vào
chùa không phân biệt được pho tượng nào thờ vị nào.
Nay ta muốn biêt rõ, trước hết phải phân biệt tượng
thờ chư Phật, tượng thờ chư Bồ Tát. Dưới đây tôi
chỉ trả lời câu hỏi nêu trên, không giải thích về sự
thờ Thánh của một số chùa ở VN.
Ở trong chánh điện thờ Phật, chỉ có cái ý thờ Phật
mà thôi, nhưng Phật có tam thân là Pháp thân, Báo thân và
Ứng thân. Cách bài trí các tượng Phật ở chánh điện
theo đúng ý nghĩa ấy cho nên ở lớp trên cùng là thờ
Pháp thân Phật, tức là thờ thường trụ Phật ở trong
vũ trụ ; Ở lớp thứ hai thờ Báo thân Phật, tức là
thờ Thụ dụng trí tuệ Phật ở cõi cực lạc; ở lớp
thứ ba là thờ Ứng thân Phật, tức là thờ Phật đã
hoá hiện ra sác thân ở trần thế. Từ lớp thứ tư trở
xuống bày những cảnh quan hệ đến lúc sơ sinh của đức
Thích Ca Mầu Ni Phật và những tượng các vị thần khác.
Vậy cách bài trí các tượng ở chánh điện từ trên
xuống dưới theo thứ tự său đây :
A. Tượng Tam Thế Phật. Lớp trên cùng tột ở chỗ giáp
vách phía trong, có ba pho tượng để ngang một dẫy, hình
dáng giống nhău, tức là tượng "Thường trụ tam thế
diệu pháp thân", người ta thường gọi tắt là tượng Tam
thế Phật, nghĩa là Phật thường trụ, trong thời gian quá
khứ, hiện tại và vị lai.
B. Tượng Di Đà tam tôn. Lớp thứ hai có ba pho tượng
lớn, pho tượng ngồi giữa là pho tượng đức A Di Đà
Phật, tức là Thụ dụng Trí tuệ thân, Pho tượng đứng
bên tả là tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát, pho tượng
đứng bên hữu là tượng đức Đại Thế Chí Bồ Tát.
Đức Phật và hai Bồ Tát ấy ở Tây phương Cực lạc,
chủ việc Cứu độ chúng sinh ở cõi Sa bà qua cõi Cực
lạc.
C. Tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh. Lớp thứ ba có ba pho tượng
lớn, pho tượng lớn ngồi giữa là tượng Thích Ca Mầu
Ni Phật, tức là Ứng thân hay là biến hóa thân, giáng
sinh xuống trần thế, tu thành chính quả và thuyết pháp
độ chúng, pho tượng ở bên phải, hoặc đứng trên toà
sen , hoặc ngồi trên con sư tử xanh là tượng Đức Văn
Thù Bồ Tát; pho tượng ở bên hữu, hoặc đứng trên toà
sen, hoặc ngồi trên con voi tráng là tượng Đức Phổ
Hiền Bồ Tát, theo thuyết nói trong Hoa Nghiêm kinh.
Ở lớp thứ ba ấy có nhiều chùa làm tượng đức Thich
Ca Mầu Ni ngồi cầm hoa sen, như khi ngài thuyết pháp ở
Linh Thưù Sơn; bên tả là tượng Ca Diếp Tôn Giả, vẻ
mặ.t già, bên hữu là tượng A Nan Đà tôn giả, vẻ mặt
trẻ, là hai đại đệ tử của Đức Thích Ca khi ngài còn
ở thế gian. Tượng hai vị tôn giả ấy đều tạc đứng,
hình dáng hai người tỳ khưu.
D. Tượng Cửu Long. Lớp thứ tư có pho tượng Cửu Long
để giữa. Tượng này theo điển nói khi đức Thích Ca
Mầu Ni mới giáng sinh, có chín con rồng xuống phun nước
cho ngài tắm, đoạn ngài đi bẩy bước tay tả chỉ lên
trời, tay hữu chỉ xuống đất mà nói rằng : "Thiên
thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn. Trên trời, dưới
đất, chi có ta là quí hơn cả" Bởi vậy tượng Cửu long
làm chín con rồng vây bọc chung quanh và ở trên những
đám mây có chư Phật chư thiên, nhã nhạc, cờ phướn và
bát bộ Kim Cương, ở giưã có pho tượng nhỏ, đứng một
tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất, đó là
tượng Bổn Sư Thích Ca Mầu Ni Phật lúc sơ sanh. (Ý nghĩa
ngày Đản Sinh, tôi đã viết và phổ biến trong cuốn sách
"Tôn Giáo và Dân Tộc", cũng có trên Internet và một số
báo). Bên tả tượng Cửu Long có tượng Đế Thích ngôi
ngai, mặc áo đội mũ Hoàng Đế, bên hữu có tượng Đại
Phạm Thiên cùng một kiểu như pho tượng Đế Thích, đó
là theo điển nói hai vị Đại Thiên Vương này chủ tế ở
cõi sa bà thế giới và lúc nào cũng hộ trì Đưc Thiùch
Ca khi ngài chưa thành Phật.
Những chùa thường, ở trong điện thờ Phật, chỉ bầy
có thế mà thôi. còn những chùa rộng lớn thì bầy thêm
hai lớp tượng nữa là :
E. Tượng Tứ Thiên Vương. Ở ngoài tượng Cửu Long
để bốn pho tượng Tứ Thiên Vương mạc áo Vương phục,
bày làm hai dẫy đối nhau, tức là bốn vị hộ thế.
F. Tượng tứ Bồ Tát. Có chùa bỏ tượng Tư Thiên Vương
mà bày tượng bốn vị Bồ Tát, tạc hình Thiên thần gọi
là Ái Bồ Tát, tay cầm cái tên; Sách Bồ Tát, tay cầm
cái cây; Ngũ Bồ Tát, tay cầm cái lưỡi; Quyền Bồ Tát
tay nắm lại và để vào ngực.
G. Tượng Bát Bộ Kim Cương. Có nhiều chùa tạc 8 vị Kim
Cương, là thần tướng trên trời, thường gọi là Bát
bộ Kim Cương gồm có :
1. Thanh Trừ Tài Kim Cương.
2. Tích Độc Thần Kim Cương.
3. Hoàng Tuỳ Cầu Kim Cương.
4. Bạch Tĩnh Thủy Kim Cương.
5. Xích Thanh Hoả Kim Cương.
6. Định Trừ Tai Kim Cương.
7. Tử Hiền Kim Cương.
8. Đại Thần Lực Kim Cương.
Bốn vị Bồ Tát và Tám vị Kim Cương này, theo điển tích
ở trong các kinh thi có nhiều thuyết khác nhău, xong đại
ý là nói những bậc thần đã phát Bồ Đề Tâm, đem
thần lực mà hộ trì Phật Pháp.
Sơ qua về các vị Bồ Tát
Định nghĩa Bồ Tát : Bồ Tát (Bodhisattva), Tên đầy đủ
là Bồ đề tát đoá, còn gọi là Bồ đề tác đóa, Ma
ha đế tác đóa. Cũ dịch là Đại đạo tâm chúng sinh,
Đạo chúng sinh.v..v. mới dịch là đại Giác hữu tình, Giác
hữu tình....nghĩa là người có đại tâm cầu đạo. Các
vị đại Bồ Tát đối với trên thì cầu được đạo
Phật, đối với dưới thì cầu giáo hoá chúng sinh. Chư
Bồ Tát khi mới phát tâm, ai nấy đều phát nguyện bốn
đều thề lớn său đây, sau này gọi là tứ hoằng thệ :
1. Chúng sanh vô biên, thề nguyện độ. Thề xin độ hết
thẩy chúng sanh vô biên. Ấy là lấy Khổ đế làm duyên
mà phát thệ.
2. Phiền não vô số thề nguyện đoạn. Thề xin dứt hết
phiền não vô số. Ấy là lấy Tập đế làm duyên mà
phát thệ.
3. Pháp môn vô tận, thề nguyện học. Thề xin học hết
pháp môn vô tận. Ấy là lấy Đạo đế làm duyên mà
phát thệ.
4. Phật đạo vô thượng thề nguyện thành. Thề xin thành
đạo Phật vô thượng. Ấy là lấy Diệt đế làm duyên
mà phát thệ.
Đối với tâm thân mình, chư Bồ Tát phát bốn điều
nguyện lớn său dây :
1. Tâm như đại đại. Nguyện cái tâm mình như đất lớn,
để nuôi lớn chúng sinh cho được thành chánh quả.
2. Tâm như kiều thuyền : Nguyện cái tâm mình như cái
cầu, cái thuyền để đưa chúng sinh sang bến bên kiạ
3. Tâm như đại hải: Nguyện cái tâm mình như bể lớn,
để nuôi chứa chúng sinh trong chỗ chân nguyên (mối đầu
chân thật phát sinh ra vạn vật).
4. Thân như hư không : Nguyện cái thân mình như hư không
bao hàm hết thẩy vạn vật, cùng với chúng sinh bình đảng
vô nhi .
Đối với chúng sinh, chư Bồ Tát phát bốn điều thệ
nguyện lớn như sau :
1. Vị độ giả, linh độ : Ai chưa được độ, thì khiến
được độ.
2. Vị giải giã, linh giải : Ai chưa hiểu, thì khiến được
hiểu.
3. Vị an giả, linh an: Ai chưa được an, thì khiến được
an.
4. Vị Niết bàn giả, linh niết bàn :Ai chưa được niết
bàn thì khiến được niết bàn.
Trên đây tôi chỉ dẫn giải một số hạnh nguyện chính
của các vị Bồ Tát, tôi không đi sâu vào Hạnh nguyện của
từng vị, mỗi vị có một hạnh nguyện khác nhau như :
Di Lạc Bồ Tát : Di Lạc Bồ Tát tiếng Phạn gọi là Maitreya
Bodhisattva phiên dịch ra, theo nghĩa thì gọi là A Dật Da
(Adjita), căn cứ theo lời Thích Ca Mầu Ni nói ra khi ngài
thuyết pháp, thì hiện nay Đức Di Lạc Bồ Tát còn ở
trên tầng trời Đầu Suất, đợi đến ngày giáng ainh
làm người ở trần gian để tu thành Phật, tức là một
vị Phật tương lai nối sau đức Thích Ca Mầu Ni Vậy.
Đức Di Lạc Bồ Tát tuy lúc chưa thành Phật vẫn lấy
lòng từ bi mà phổ độ chúng sinh cho nên người ta thờ
Ngài cũng như thờ một vị dã thành Phật. Thường ở
chùa người ta thờ Đức Di Lạc ngồi giữa, bên tả có
Đức Pháp Hoa Lâm Bồ Tát, bên hữu có đức Đại Diệu
Tướng Bồ Tát, gọi chung là Di Lạc tam tôn.
Có sách chép đức Di Lạc Bồ Tát ở trên tầng trời
Đầu Suất xuống giảng thuyết : "Phi không phi hữu, trung
đạo diệu lý" làm ra sách Du già sư địa luận, truyền cho
Vô Trước Bồ Tát (Asangha) ở đất Ấn Độ. Sách ấy là
sách cốt yêù của phái Du Già, tức là một phái chuyên
bàn về cái tông chỉ Duy Thức. Những kinh nói về đức Di
Lạc Bồ Tát, có bộ Di Lạc bản kinh, Di Lạc thượng sinh
kinh nói : Ngài sinh lên cõi trời; Di Lạc hạ sinh kinh nói
Ngài sẽ sinh xuống trần thế; Di Lạc đại thành Phật kinh;
nói lúc Ngài sẽ thành Phật.
Quán Thế Âm Bồ Tát : Kinh Pháp Hoa nói : Khổ não chúng
sinh, nhất tâm xưng danh, Bồ Tát tức thị quan kỳ âm thanh,
giai đác giải thoát. Dĩ thị danh Quán Thế Âm, những
chúng sinh bị khổ não mà nhất tâm đọc đến Quán Thế
Âm Bồ Tát, tức thì ngài nghe âm thanh của chúng sinh mà
độ cho được giải thoát. Bởi thế gọi tên ngài là Quán
Thế Âm.
Đức Quán Thế Âm mà có cái danh hiệu ấy là do một
đức Phật đã thụ ký cho Ngài, cho nên chính Ngài đã nói
trong Kinh Lăng Nghiêm: "Về vô số kiếp đời xưa có Đức
Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm Như Lai. Ta đến
trước Phật mà phát Bồ Đề tâm. Phật dậy ta theo ba
phép : Văn, Tư, Tu, nghĩa là nghe lời giảng dậy, suy nghĩ
về đạo lý, và tu hành mà vào tam ma đề (Samadhi). Phật
khen ta chóng được viên thông pháp môn và tức thì ở
ngay chỗ đại hội thụ ký cho ta cái hiệu là Quán Thế
Âm". Như thế Ngài được lấy cái danh hiệu của Bản Sư
làm danh hiệu của Ngài.
Đại Thế Chí Bồ Tát : Đại Thế Chí Bồ Tát tiếng Phạn
là (Mahasthanaprâta Bodhisattva), cùng với Quán Thế Âm cùng
phụ giúp Đức Phật A Di Đà để tế độ chúng sinh. Trong
kinh Lăng Nghiêm có nói : "Về vô số kiếp đời xưa, có
Đức Phật hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai ra
đời, dậy ngài tu phép niệm Phật tam muôi, thu cả lục
căn là : nhãn, nhỉ, tỵ, thiệt, thân, ý, định tâm chuyên
nhất về việc niệm Phật, bởi thế tâm khai, ngộ đạo
viên thông được danh hiệu là Đại Thế Chí".
Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, tán thán công đức của
đức Đại Thế Chí Bồ Tát rằng: "Ngài đem ánh sáng trí
tuệ soi khắp hết thẩy, khiến chúng sinh đều thoát khỏi
ba nơi ác đạo, mà cái sức mạnh vô thượng". Bởi cái
công đức của Đại Thế Chí to lớn như thế, cho nên Vân
Thế thiền sư làm bài Tán Định Tây Phương Nguyện Văn
"Đức Phật A Di Đà với Đức Phật Quan Thế Âm và đức
Đại Thế Chí cùng các đấng hiền thánh, phóng hào quang
ra mà tiếp dẫn chúng sinh giắt tay đề huề, chỉ trong
một khắc là người mệnh chung được về cõi cực
lạc".Vì thế ở các chùa người ta trưng bầy Tượng
đức Đại Thế Chí và Đức Quan Thế Âm đứng hai bên tả
hữu đức A Di Đà gọi là hai vị Nhiếp Sĩ.
Hiện nay ở Bắc Việt, chùa Tây Phương, thuộc phủ Quốc
Oai, tỉnh Sơn Tây có pho tượng Tuyết sơn, tạc rất khéo,
và chùa Bút Tháp thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bác Ninh có
pho tượng Tuyết Sơn cũng rất mỹ thuật. hai pho tượng
ấy thật rất đáng chiêm ngưỡng. Trong dịp tôi đến
vãng cảnh chùa Đậu thuộc Quận Thường Tín, tỉnh Hà
Đông, cách Hà Nội có 25 cây số về phía nam, có hai pho
tượng đặc biệt đó là hai vị : Vũ Khắc Minh và Vũ
khăù`c Trường hai chú cháu đều tu đăù`c đạo cách đây
trên 300 năm, hiện toàn thân xá lợi đang thờ tại chuà
Đậu, mà du khách trong nước cũng như quốc tế đều tìm
đến chiêm ngưỡng, Cũng tại chùa Đậu tôi còn thây thờ
ở nhà hành lang có 18 vị A La Hán ở hai bên dẫy nhà Hành
lang.
Chi tiết, địa danh và di tích lịch sử của ngôi chùa
Đậu tôi đã phổ biến trên website ở Mỹ, Úc, Ấn Độ
và in trong cuốn sách "Trở về cội nguồn" xuất bản năm
2000, do nhà xuất bản "Văn Nghệ" phát hành và hiện có ca
cuốn sách "Tôn Giáo và Dân Tộc" mới phát hành 2004, nếu
muốn đọc xin mở : www.thuvienhoasen.org roi tim chu Index bấm
vào do xong nó sẽ ra chữ "tác giả và dịch giả" bấm vào
đó sẽ tìm chữ "Tuệ Minh Đạo Nguyễn Đức Can", bấm vào
đó sẽ có cả 2 quyển sách này đủ các bài trong đó.
Cư Sĩ : Nguyễn Đức Can USA; E Mail : ndcan2000@yahoo.com
oOo
|
|