Viet Nam Network

Welcome to VN.NET
21/10/14

Người vợ và con chó
  |      Contributed by: Admin  |  Views: 10.529
Nguyễn Đình Khánh

Một nông dân khắc khổ sống trong một trang trại tồi tàn bên ngoài thành phố. Trông chàng cũng tồi tàn như trang trại của chàng. Người dong dỏng cao, lầm lì, quần áo rộng thùng thình, lôi thôi lếch thếch, mỗi khi đi, chàng chỉ nhìn xuống đất. Với cây gậy có nhiều mấu trong tay và với mớ tóc nâu phủ lòa xòa xuống mặt, trông chàng có vẻ già trước tuổi. Thực ra chàng còn trẻ, không gắt gỏng càu nhàu như nhiều người tưởng. Chàng chỉ là một kẻ cô đơn. Vì chàng luôn xa cách mọi người nên dân trong tỉnh cũng nghĩ rằng tốt nhất là họ nên giữ khoảng cách với chàng. Kẻ đồng hành duy nhất của chàng là một con chó săn màu vàng lợt, mảnh khảnh và ưa đùa giỡn. Con chó cái này rất trung thành với chủ, và không như dân chúng trong tỉnh, nó không hề e ngại cậy gậy của người nông dân hoặc sự lầm lì khó hiểu của chàng. Ở ngoài trời, trên cánh đồng hay trong thành phố, người nông dân và con chó luôn luôn yên lặng và không biểu lộ một tình cảm nào, tuy cả hai có vẻ rất thông cảm và thoải mái bên nhau.

Dân trong tỉnh rất ngạc nhiên vì con chó. Nó hoàn toàn không giống một con chó ở đồng ruộng, không phải một con chó mà người ta có thể nhờ cậy được. Nét đẹp và khả năng... vô tích sự của nó hoàn toàn không thích hợp với vùng quê sỏi đá. Không những thế, khi đi trên con đường chính, mắt nó còn có vẻ thách đố. Nhiều người đồn rằng con chó có một quyền lực ma quái, và có thể cả người nông dân nữa.

Con chó này có một lai lịch rất bí mật. Người ta chỉ biết rằng sau khi biến mất trong mấy ngày trời, người nông dân trở về với con chó ngồi trên ghế trước chiếc xe vận tải của chàng.

Thực ra người nông dân đã tìm thấy nó tại ngôi chợ của một thành phố lớn gần bên. Người bán chó có vẻ không muốn bán nó. Là người thật thà, ông úp mở nói rằng con chó đã đem lại sự bất hạnh cho người chủ trước, và tốt hơn đừng nên đụng chạm tới nó. Nhưng người nông dân đột nhiên cảm thấy ưa thích con vật xinh đẹp đứng riêng ở một góc sân xa cách cả bầy chó, sau khi yên lặng quan sát con chó có những điểm giống chàng: cô đơn, là đề tài của những câu chuyện không hay ho gì, và có thể cũng bị bạc đãi như chàng khi còn nhỏ. Người bán chó còn cảnh cáo rằng con chó cái này có tiếng tru rất rùng rợn, khủng khiếp tới độ có thể khiến cả người chết cũng phải sống dậy. Tuy nhiên đứng một mình ở góc sân, nó lại hoàn toàn yên lặng. Người nông dân không thèm để ý tới những lời cảnh cáo của người bán chó và quyết định mua nó.

Những buổi tối cô đơn trong nhà, hai thầy trò nô đùa trước lò sưởi. Người nông dân la hét cười vang trong khi con chó vừa táp vừa kêu ăng ẳng một cách thích thú. Con chó này rất ít khi sủa, nhưng mỗi khi sủa, tiếng sủa của nó lớn và chói tai gần như tiếng tru, như bất chấp lỗ tai của loài người. Dù trang trại bề ngoài có vẻ tồi tàn, nhưng bên trong lại rất sạch sẽ, dễ chịu. Không những thế, con chó còn được cho ăn uống ngon lành khiến nó trở thành một kẻ đồng cư dễ dãi và biết vâng lời. Rồi một hôm sau khi ở lại ngôi chợ tỉnh gần bên hầu như suốt tuần, người nông dân và con chó trở về cùng một người đàn bà xinh đẹp khiến dân tỉnh thêm tò mò. Một số người còn đặt câu hỏi với ác ý là không biết có phải người nông dân cũng tìm thấy người vợ như khi tìm thấy con chó hay không.

Người đàn bà nhỏ nhắn, tròn trịa, má hồng, da trắng với mái tóc đen dợn sóng. Nàng mỉm cười dễ dãi trước sự bối rối của con chó khi lông nó xù lên mỗi lần nàng vuốt vẹ Nàng cười vang trước mái tóc lòa xòa của ông chồng nông dân và lấy tay nhẹ vuốt mái tóc của chàng, để lộ một khuôn mặt khá đẹp trai.

Nàng rất thích sự sạch sẽ trong nhà cũng như rau trái ở vườn sau. Được người nông dân chăm sóc, cà tô mát và những loại đậu mọc thật tốt tươi khiến nàng không kịp hái. Những người dân tỉnh, không tìm được một khuyết điểm nào khi nàng luôn luôn đàng hoàng, lễ phép, tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà như nàng lại có thể sống hạnh phúc bên một nông dân lầm lì.

Bây giờ, mỗi khi hai vợ chồng người nông dân và con chó bước trên đường phố chính, chàng và nàng yên lặng, không biểu lộ một tình cảm nào tuy có vẻ rất thông cảm và thoải mái bên nhau. Con chó đi theo với vẻ bực dọc, thỉnh thoảng lại tru lên như xé rách màng nhĩ thiên hạ khiến nhiều người giật mình, kể cả người nông dân, khiến chàng vội vã ra lệnh cho nó im lặng. Con chó không hề bị xao lãng. Người nông dân vẫn vuốt ve nó, vẫn chuyện trò với nó thật dịu dàng và hàng ngày vẫn cho nó theo ra đồng ruộng. Tuy nhiên, mọi sự không còn như trước nữa! Những buổi tối trong căn nhà cũ kỹ, hai vợ chồng người nông dân nằm bên nhau trên đống chăn mền trước lò sưởi trong khi con chó cố tình nằm ở một góc nhà giá lạnh, làm ngơ trước việc hai vợ chồng chàng ngoắc nó lại gần.

Người nông dân chưa bao giờ được hưởng hạnh phúc như hiện tại. Chàng lớn lên trong cô đơn và sống trong cô đơn. Với tính cả thẹn quái gở khiến không ai thấy chàng có vẻ gì là hấp dẫn, người nông dân không nghĩ gì khác hơn là việc sống cô đơn cho tới ngày cuối của cuộc đời. Chàng cũng ngạc nhiên không kém những người dân trong tỉnh khi thấy người vợ xinh đẹp, đáng yêu chấp nhận chung sống với chàng và sống hạnh phúc trong căn nhà cũ kỹ của chàng. Đó là một món quà mà chàng không dám ước ao, không dám mơ tưởng. Trong khi hạnh phúc không thay đổi bề ngoài của chàng - chàng vẫn ăn bận lôi thôi, căn nhà vẫn tồi tàn - chàng cảm thấy mình là một con người đã thay đổi. Vì thế, chàng luôn biết ơn vợ, và với tính tình chân thật, chàng nghĩ rằng chàng sẽ mãi mãi sống hạnh phúc bên nàng.

Đặc điểm của người vợ khiến chàng yêu nhất không phải nét đẹp hoặc tính tình dịu ngọt mà là giọng nói của nàng. Như tiếng nhạc! Giọng nói của nàng có thể trầm như tiếng đại hồ cầm hoặc cao như tiếng sáo, cộng thêm với những âm điệu trung gian. Buổi trưa khi nàng cất tiếng gọi chàng ở ngoài đồng, giọng ngân kéo dài của nàng như cắt một con đường trong không khí. Khi nàng vội vã đón chàng hoặc kể cho chàng nghe về những cây cỏ trong vườn, giọng nói của nàng tràn đầy sức sống. Khi nàng nằm bên chàng trước ánh lửa bập bùng, những tiếng nói thì thầm của nàng như khiến cả sàn gỗ cũng trở nên thật êm đềm, ve vuốt. Đối với người nông dân, giọng nói của nàng là tất cả. Được sống với nàng sau thời gian sống lặng lẽ cùng con chó khiến chàng cảm thấy như có thêm một giác quan thứ sáu.

Tuy nhiên con chó rõ rệt không ưa giọng nói của nàng, dù chỉ là những lời nói ngọt ngào, âu yếm trong một cố gắng vô vọng làm thân với nó. Con chó vẫn xù lông mỗi khi nàng ve vuốt nó và vẫn nhận đồ ăn một cách miễn cưỡng từ bàn tay dịu mát của nàng. Nếu người nông dân huýt sáo gọi nó khi có người vợ ở gần, nó cưỡng lại. Khi chỉ có nó và người vợ, nó táp váy nàng, hoặc gầm gừ, hoặc cất tiếng tru mà người vợ không thể bắt nó ngưng được. Trong vườn, nó đi ngang lối đi của nàng khiến nàng vấp ngã. Trong bếp, nó hất đổ một tô cháo nóng khiến nàng phải nhẩy vội sang một bên để khỏi bị phỏng. Nàng chỉ quở trách nó một cách nhẹ nhàng, vì buồn phiền hơn là giận dữ. Những việc đó nàng không bao giờ nói với chồng vì cho là không đáng kể.

Nàng là một con người độ lượng và chấp nhận bất kỳ việc gì xẩy đến. Khi còn nhỏ, nàng cũng cô đơn và bị bạc đãi, và vì đẹp, nàng bị nghi ngờ làm những việc xấu xa mà nàng không hề làm. Bởi thế nàng cảm thấy may mắn trong đời sống mới và nàng thấy vô cùng hạnh phúc. Nàng không phải là người bực bội vì sự bực bội của con chó. Nàng cho rằng thế nào rồi nó cũng thay đổi. Cuộc sống hạnh phúc của người nông dân kéo dài được ba năm trước khi người vợ bị một chứng bệnh bí mật, tuy không đau đớn nhưng làm nàng mất sức. Chứng bệnh này chưa từng xẩy ra trong vùng nên dường như không ai có thể làm gì được để cứu nàng.

Người nông dân tự tay cho vợ ăn uống và năn nỉ nàng cố chống chọi để sống với chàng, nhưng người vợ chỉ lắc đầu. Trong cơn tuyệt vọng, người nông dân như muốn truyền sức sống của chàng cho vợ, nhưng cuối cùng người vợ cũng không qua khỏi. Quá đau đớn, người nông dân chôn vợ cách nhà một khoảng khá xa. Một thời gian sau, tuy vẫn còn đau khổ, nhưng sự khổ đau này pha trộn với ý nghĩ là chàng đã lớn lên trong cô đơn, đã từng sống cô đơn, và như vậy, chàng sẽ phải tiếp tục sống cô đơn đến ngày nhắm mắt. Thời gian hạnh phúc bên người vợ là một khoảng hạnh phúc mà chàng được hưởng ngoài cả ước mợ Chàng tìm nguồn an ủi bên con chó, bây giờ lại trở nên thích chơi đùa và ngoan ngoãn như xưa.

Khi chàng và con chó cùng đi trong tỉnh, cả hai lại trở lại với sự thông cảm và thoải mái bên nhau. Đối với những người dân tỉnh, sau khi chia buồn cùng người nông dân, họ lại giữ một khoảng cách với chàng. Một đêm hè trăng sáng, trong khi đang nằm trong nhà với cánh cửa sổ mở rộng, người nông dân chợt nghe thấy tiếng người vợ gọi tên mình từ phía xa trên những cánh đồng. Chàng chạy vội tới bên cửa sổ và đáp lại lời nàng trong đêm tối. Tiếng người vợ vẫn liên tục gọi chồng, khi gần khi xa như đang trôi dạt tìm chàng trong màn đêm nhưng không được.

Đột nhiên con chó bước tới bên cửa sổ cất tiếng sủa. Với tiếng chó tru liên tục, tiếng người vợ gọi chồng mỗi lúc một gần và cuối cùng lọt được vào nhà, giọng nói quen thuộc mà bây giờ người chồng cảm thấy như có thể sờ vào được. Người nông dân vô cùng mừng rỡ. Suốt đêm hai vợ chồng trò chuyện trong khi con chó nằm lặng thinh, co quắp ở một góc nhà. Họ nói với nhau như khi còn chung sống, về những chuyện vặt vãnh hàng ngày - như trang trại, thành phố, vườn rau... - và tình yêu. Giọng nói tuyệt vời của nàng không hề thay đổi vì cái chết. Khi ánh bình minh xuất hiện là lúc nàng phải giã từ.

Sau đó nàng thường xuyên trở lại. Lần nào người nông dân cũng thức suốt đêm với nàng, kể cho nàng nghe những câu chuyện thường ngày và cảm thấy vô cùng sung sướng, nếu không muốn nói là ngạc nhiên, khi món quà quí lại được trao lại cho chàng, dù không trọn vẹn như xưa. Mỗi khi giọng người vợ vọng lại từ phía xa, con chó lại tới bên cửa sổ giúp nàng tìm tới, vì chỉ có tiếng tru của nó, tiếng tru ma quái như một mũi tên xé rách màn đêm, mới có thể hướng dẫn được nàng. Còn tiếng gọi của người nông dân hoàn toàn vô hiệu.

Trong một thời gian khá dài, người nông dân sống hạnh phúc trong tình bạn của con chó lúc ban ngày và giọng nói yêu thương của người vợ đã chết về đêm. Nhưng rồi con chó mỗi lúc một già. Trong những lúc băng ngang cánh đồng, người nông dân nhận thấy con chó đi mỗi lúc một chậm và thở phì phò, nhưng vẫn cố gắng đi theo. Một hôm, cảm thấy con chó không còn đi theo phía sau mình nữa, người nông dân đi ngược lại một đoạn đường ngắn và thấy nó nằm gục trên đường. Chàng bồng nó về nhà, đặt nó lên tấm mền trước lò sưởi, cho nó uống nước bằng hai bàn tay chụm lại cho tới khi nó nhắm mắt tắt thở. Người nông dân chôn nó dưới một cái cây gần vựa lúa.

Bây giờ, người nông dân sống thật cô đơn. Ban ngày chàng đi một mình. Đêm tối chàng vô cùng đau khổ khi nghe tiếng vợ gọi trên những cánh đồng nhưng không thể tìm đến với chàng khi không còn tiếng chó tru hướng dẫn! Nhiều đêm tiếng gọi của người vợ vang lên, van nài, trong khi người nông dân đứng bên cửa sổ đáp lại nhưng vô ích! Khi tiếng gọi tuyệt vọng xa dần, chàng đóng cửa sổ lại với những giọt lệ đắng cay dâng tràn cổ họng. Rồi người vợ không còn gọi chàng nữa và người nông dân tự hỏi việc không có món quà trời cho là điều đáng buồn, hay khi trời cho rồi lại tàn nhẫn lấy đi là điều đáng buồn hơn? Rồi một đêm khi chàng không ngủ được, tiếng tru ma quái của con chó vang lên trên những cánh đồng. Người nông dân chạy vội tới bên cửa sổ. Tiếng chó tru mỗi lúc một gần và tìm vào nhà một cách dễ dàng.

Tuy chàng không thể vuốt ve hoặc đùa giỡn với nó, và tuy nó không tru nữa khi đã vào nhà, người nông dân cảm thấy dễ chịu và nghỉ ngơi thoải mái hơn, khi cảm thấy sự hiện diện của con chó thân yêu. Vào một đêm trăng, sau khi con chó đã tới, đang ngồi bên cửa sổ, người nông dân chợt nghe tiếng người vợ gọi chàng trên những cánh đồng. Chàng nhẩy cẫng lên và cố la thật lớn gọi nàng. Đột nhiên từ bên cạnh chàng, tiếng chó tru khủng khiếp vang lên bén ngót như xé nát màn đêm. Người nông dân muốn ôm con chó để tỏ lòng biết ơn, nhưng không thấy nó. Cũng như trước đó, tiếng chó tru liên tục tới khi tiếng gọi của người vợ lọt vào trong nhà. Người nông dân run lên vì cảm xúc. Chàng muốn ôm chặt lấy nàng, nhưng... chàng đành chấp nhận những gì chàng được hưởng.

Giọng nói của vợ chàng cũng hết sức vui vẻ, nhưng khi nàng vừa khởi sự nói về việc tìm lại được nhau thì giọng nói của nàng bị tiếng chó tru lấn át. Chàng nông dân nghiêm giọng ra lệnh cho con chó ngưng lại, nhưng lần đầu tiên nó cãi lời chàng. Giọng người vợ mỗi lúc một cao, khẩn cấp: Nàng đang kêu cứu! Những tiếng nói của nàng biến thành những tiếng thét gào, rồi thành những tiếng rú kinh hoàng bao phủ cả không gian. Trong khi đó, tiếng chó tru cũng trở thành những tiếng rít khủng khiếp phủ kín căn nhà với sự hung tợn và điên cuồng vẫn bị dồn nén từ lâu. Người nông dân chạy tới chạy lui một cách vô vọng, hai tay chàng vươn ra như muốn chạm vào một cái gì. Tiếng gào thét đầy đau đớn của người vợ ngắn dần và đứt quãng giữa những tiếng chó tru kéo dài trong đêm tối. Người nông dân điên cuồng chạy tới chạy lui, hai tay vung tứ phía. Cuối cùng tiếng người vợ nhỏ dần như tiếng khóc cùng tiếng chó thở dồn dập. Rồi cả hai giọng chìm xuống và tan biến vào hư vộ Khi dân trong tỉnh tới xem thì người nông dân đã bỏ đi. Phòng ngủ bừa bãi tan hoang như vừa bị một trận cuồng phong tàn phá. Ở gần cửa sổ, một vài người nói rằng thỉnh thoảng họ vẫn nghe thấy một tiếng thở hổn hển, khàn khàn như của một con thú bị đứt hơi.

oOo

Truyện-Xưa (1900-1950)

Story Options