|
Contributed by: Admin |
Views: 9.485
Nguyễn Đình Khánh
Một nông dân khắc khổ sống trong một trang trại tồi
tàn bên ngoài thành phố. Trông chàng cũng tồi tàn như
trang trại của chàng. Người dong dỏng cao, lầm lì, quần
áo rộng thùng thình, lôi thôi lếch thếch, mỗi khi đi,
chàng chỉ nhìn xuống đất. Với cây gậy có nhiều mấu
trong tay và với mớ tóc nâu phủ lòa xòa xuống mặt,
trông chàng có vẻ già trước tuổi. Thực ra chàng còn
trẻ, không gắt gỏng càu nhàu như nhiều người tưởng.
Chàng chỉ là một kẻ cô đơn. Vì chàng luôn xa cách mọi
người nên dân trong tỉnh cũng nghĩ rằng tốt nhất là họ
nên giữ khoảng cách với chàng. Kẻ đồng hành duy nhất
của chàng là một con chó săn màu vàng lợt, mảnh khảnh và
ưa đùa giỡn. Con chó cái này rất trung thành với chủ,
và không như dân chúng trong tỉnh, nó không hề e ngại cậy
gậy của người nông dân hoặc sự lầm lì khó hiểu của
chàng. Ở ngoài trời, trên cánh đồng hay trong thành phố,
người nông dân và con chó luôn luôn yên lặng và không
biểu lộ một tình cảm nào, tuy cả hai có vẻ rất thông
cảm và thoải mái bên nhau.
Dân trong tỉnh rất ngạc nhiên vì con chó. Nó hoàn toàn
không giống một con chó ở đồng ruộng, không phải một
con chó mà người ta có thể nhờ cậy được. Nét đẹp
và khả năng... vô tích sự của nó hoàn toàn không thích
hợp với vùng quê sỏi đá. Không những thế, khi đi trên
con đường chính, mắt nó còn có vẻ thách đố. Nhiều
người đồn rằng con chó có một quyền lực ma quái, và
có thể cả người nông dân nữa.
Con chó này có một lai lịch rất bí mật. Người ta chỉ
biết rằng sau khi biến mất trong mấy ngày trời, người
nông dân trở về với con chó ngồi trên ghế trước
chiếc xe vận tải của chàng.
Thực ra người nông dân đã tìm thấy nó tại ngôi chợ
của một thành phố lớn gần bên. Người bán chó có vẻ
không muốn bán nó. Là người thật thà, ông úp mở nói
rằng con chó đã đem lại sự bất hạnh cho người chủ
trước, và tốt hơn đừng nên đụng chạm tới nó. Nhưng
người nông dân đột nhiên cảm thấy ưa thích con vật
xinh đẹp đứng riêng ở một góc sân xa cách cả bầy chó,
sau khi yên lặng quan sát con chó có những điểm giống
chàng: cô đơn, là đề tài của những câu chuyện không
hay ho gì, và có thể cũng bị bạc đãi như chàng khi còn
nhỏ. Người bán chó còn cảnh cáo rằng con chó cái này có
tiếng tru rất rùng rợn, khủng khiếp tới độ có thể
khiến cả người chết cũng phải sống dậy. Tuy nhiên
đứng một mình ở góc sân, nó lại hoàn toàn yên lặng.
Người nông dân không thèm để ý tới những lời cảnh
cáo của người bán chó và quyết định mua nó.
Những buổi tối cô đơn trong nhà, hai thầy trò nô đùa
trước lò sưởi. Người nông dân la hét cười vang trong
khi con chó vừa táp vừa kêu ăng ẳng một cách thích thú.
Con chó này rất ít khi sủa, nhưng mỗi khi sủa, tiếng sủa
của nó lớn và chói tai gần như tiếng tru, như bất chấp
lỗ tai của loài người. Dù trang trại bề ngoài có vẻ
tồi tàn, nhưng bên trong lại rất sạch sẽ, dễ chịu. Không
những thế, con chó còn được cho ăn uống ngon lành
khiến nó trở thành một kẻ đồng cư dễ dãi và biết
vâng lời. Rồi một hôm sau khi ở lại ngôi chợ tỉnh gần
bên hầu như suốt tuần, người nông dân và con chó trở
về cùng một người đàn bà xinh đẹp khiến dân tỉnh
thêm tò mò. Một số người còn đặt câu hỏi với ác ý
là không biết có phải người nông dân cũng tìm thấy
người vợ như khi tìm thấy con chó hay không.
Người đàn bà nhỏ nhắn, tròn trịa, má hồng, da trắng
với mái tóc đen dợn sóng. Nàng mỉm cười dễ dãi
trước sự bối rối của con chó khi lông nó xù lên mỗi
lần nàng vuốt vẹ Nàng cười vang trước mái tóc lòa xòa
của ông chồng nông dân và lấy tay nhẹ vuốt mái tóc của
chàng, để lộ một khuôn mặt khá đẹp trai.
Nàng rất thích sự sạch sẽ trong nhà cũng như rau trái ở
vườn sau. Được người nông dân chăm sóc, cà tô mát và
những loại đậu mọc thật tốt tươi khiến nàng không
kịp hái. Những người dân tỉnh, không tìm được một
khuyết điểm nào khi nàng luôn luôn đàng hoàng, lễ phép,
tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà như nàng
lại có thể sống hạnh phúc bên một nông dân lầm lì.
Bây giờ, mỗi khi hai vợ chồng người nông dân và con
chó bước trên đường phố chính, chàng và nàng yên
lặng, không biểu lộ một tình cảm nào tuy có vẻ rất
thông cảm và thoải mái bên nhau. Con chó đi theo với vẻ
bực dọc, thỉnh thoảng lại tru lên như xé rách màng nhĩ
thiên hạ khiến nhiều người giật mình, kể cả người
nông dân, khiến chàng vội vã ra lệnh cho nó im lặng. Con
chó không hề bị xao lãng. Người nông dân vẫn vuốt ve
nó, vẫn chuyện trò với nó thật dịu dàng và hàng ngày
vẫn cho nó theo ra đồng ruộng. Tuy nhiên, mọi sự không
còn như trước nữa! Những buổi tối trong căn nhà cũ
kỹ, hai vợ chồng người nông dân nằm bên nhau trên
đống chăn mền trước lò sưởi trong khi con chó cố tình
nằm ở một góc nhà giá lạnh, làm ngơ trước việc hai
vợ chồng chàng ngoắc nó lại gần.
Người nông dân chưa
bao giờ được hưởng hạnh phúc như hiện tại. Chàng lớn
lên trong cô đơn và sống trong cô đơn. Với tính cả thẹn
quái gở khiến không ai thấy chàng có vẻ gì là hấp
dẫn, người nông dân không nghĩ gì khác hơn là việc
sống cô đơn cho tới ngày cuối của cuộc đời. Chàng
cũng ngạc nhiên không kém những người dân trong tỉnh khi
thấy người vợ xinh đẹp, đáng yêu chấp nhận chung
sống với chàng và sống hạnh phúc trong căn nhà cũ kỹ
của chàng. Đó là một món quà mà chàng không dám ước
ao, không dám mơ tưởng. Trong khi hạnh phúc không thay đổi
bề ngoài của chàng - chàng vẫn ăn bận lôi thôi, căn nhà
vẫn tồi tàn - chàng cảm thấy mình là một con người
đã thay đổi. Vì thế, chàng luôn biết ơn vợ, và với
tính tình chân thật, chàng nghĩ rằng chàng sẽ mãi mãi
sống hạnh phúc bên nàng.
Đặc điểm của người vợ khiến chàng yêu nhất không
phải nét đẹp hoặc tính tình dịu ngọt mà là giọng nói
của nàng. Như tiếng nhạc! Giọng nói của nàng có thể
trầm như tiếng đại hồ cầm hoặc cao như tiếng sáo,
cộng thêm với những âm điệu trung gian. Buổi trưa khi
nàng cất tiếng gọi chàng ở ngoài đồng, giọng ngân kéo
dài của nàng như cắt một con đường trong không khí. Khi
nàng vội vã đón chàng hoặc kể cho chàng nghe về những
cây cỏ trong vườn, giọng nói của nàng tràn đầy sức
sống. Khi nàng nằm bên chàng trước ánh lửa bập bùng,
những tiếng nói thì thầm của nàng như khiến cả sàn gỗ
cũng trở nên thật êm đềm, ve vuốt. Đối với người
nông dân, giọng nói của nàng là tất cả. Được sống
với nàng sau thời gian sống lặng lẽ cùng con chó khiến
chàng cảm thấy như có thêm một giác quan thứ sáu.
Tuy nhiên con chó rõ rệt không ưa giọng nói của nàng, dù
chỉ là những lời nói ngọt ngào, âu yếm trong một cố
gắng vô vọng làm thân với nó. Con chó vẫn xù lông mỗi
khi nàng ve vuốt nó và vẫn nhận đồ ăn một cách miễn
cưỡng từ bàn tay dịu mát của nàng. Nếu người nông dân
huýt sáo gọi nó khi có người vợ ở gần, nó cưỡng
lại. Khi chỉ có nó và người vợ, nó táp váy nàng, hoặc
gầm gừ, hoặc cất tiếng tru mà người vợ không thể
bắt nó ngưng được. Trong vườn, nó đi ngang lối đi của
nàng khiến nàng vấp ngã. Trong bếp, nó hất đổ một tô
cháo nóng khiến nàng phải nhẩy vội sang một bên để
khỏi bị phỏng. Nàng chỉ quở trách nó một cách nhẹ nhàng,
vì buồn phiền hơn là giận dữ. Những việc đó nàng
không bao giờ nói với chồng vì cho là không đáng kể.
Nàng là một con người độ lượng và chấp nhận bất
kỳ việc gì xẩy đến. Khi còn nhỏ, nàng cũng cô đơn và
bị bạc đãi, và vì đẹp, nàng bị nghi ngờ làm những
việc xấu xa mà nàng không hề làm. Bởi thế nàng cảm
thấy may mắn trong đời sống mới và nàng thấy vô cùng
hạnh phúc. Nàng không phải là người bực bội vì sự
bực bội của con chó. Nàng cho rằng thế nào rồi nó cũng
thay đổi. Cuộc sống hạnh phúc của người nông dân kéo
dài được ba năm trước khi người vợ bị một chứng
bệnh bí mật, tuy không đau đớn nhưng làm nàng mất
sức. Chứng bệnh này chưa từng xẩy ra trong vùng nên
dường như không ai có thể làm gì được để cứu nàng.
Người nông dân tự tay cho vợ ăn uống và năn nỉ nàng
cố chống chọi để sống với chàng, nhưng người vợ
chỉ lắc đầu. Trong cơn tuyệt vọng, người nông dân như
muốn truyền sức sống của chàng cho vợ, nhưng cuối cùng
người vợ cũng không qua khỏi. Quá đau đớn, người nông
dân chôn vợ cách nhà một khoảng khá xa. Một thời gian
sau, tuy vẫn còn đau khổ, nhưng sự khổ đau này pha trộn
với ý nghĩ là chàng đã lớn lên trong cô đơn, đã từng
sống cô đơn, và như vậy, chàng sẽ phải tiếp tục sống
cô đơn đến ngày nhắm mắt. Thời gian hạnh phúc bên
người vợ là một khoảng hạnh phúc mà chàng được
hưởng ngoài cả ước mợ Chàng tìm nguồn an ủi bên con
chó, bây giờ lại trở nên thích chơi đùa và ngoan ngoãn
như xưa.
Khi chàng và con chó cùng đi trong tỉnh, cả hai lại
trở lại với sự thông cảm và thoải mái bên nhau. Đối
với những người dân tỉnh, sau khi chia buồn cùng người
nông dân, họ lại giữ một khoảng cách với chàng.
Một đêm hè trăng sáng, trong khi đang nằm trong nhà với
cánh cửa sổ mở rộng, người nông dân chợt nghe thấy
tiếng người vợ gọi tên mình từ phía xa trên những
cánh đồng. Chàng chạy vội tới bên cửa sổ và đáp lại
lời nàng trong đêm tối. Tiếng người vợ vẫn liên tục
gọi chồng, khi gần khi xa như đang trôi dạt tìm chàng trong
màn đêm nhưng không được.
Đột nhiên con chó bước
tới bên cửa sổ cất tiếng sủa. Với tiếng chó tru liên
tục, tiếng người vợ gọi chồng mỗi lúc một gần và
cuối cùng lọt được vào nhà, giọng nói quen thuộc mà
bây giờ người chồng cảm thấy như có thể sờ vào
được. Người nông dân vô cùng mừng rỡ. Suốt đêm hai
vợ chồng trò chuyện trong khi con chó nằm lặng thinh, co
quắp ở một góc nhà. Họ nói với nhau như khi còn chung
sống, về những chuyện vặt vãnh hàng ngày - như trang
trại, thành phố, vườn rau... - và tình yêu. Giọng nói
tuyệt vời của nàng không hề thay đổi vì cái chết. Khi
ánh bình minh xuất hiện là lúc nàng phải giã từ.
Sau đó nàng thường xuyên trở lại. Lần nào người nông
dân cũng thức suốt đêm với nàng, kể cho nàng nghe
những câu chuyện thường ngày và cảm thấy vô cùng sung
sướng, nếu không muốn nói là ngạc nhiên, khi món quà
quí lại được trao lại cho chàng, dù không trọn vẹn như
xưa. Mỗi khi giọng người vợ vọng lại từ phía xa, con
chó lại tới bên cửa sổ giúp nàng tìm tới, vì chỉ có
tiếng tru của nó, tiếng tru ma quái như một mũi tên xé
rách màn đêm, mới có thể hướng dẫn được nàng. Còn
tiếng gọi của người nông dân hoàn toàn vô hiệu.
Trong một thời gian khá dài, người nông dân sống hạnh
phúc trong tình bạn của con chó lúc ban ngày và giọng nói
yêu thương của người vợ đã chết về đêm. Nhưng rồi
con chó mỗi lúc một già. Trong những lúc băng ngang cánh
đồng, người nông dân nhận thấy con chó đi mỗi lúc
một chậm và thở phì phò, nhưng vẫn cố gắng đi theo.
Một hôm, cảm thấy con chó không còn đi theo phía sau mình
nữa, người nông dân đi ngược lại một đoạn đường
ngắn và thấy nó nằm gục trên đường. Chàng bồng nó
về nhà, đặt nó lên tấm mền trước lò sưởi, cho nó
uống nước bằng hai bàn tay chụm lại cho tới khi nó nhắm
mắt tắt thở. Người nông dân chôn nó dưới một cái
cây gần vựa lúa.
Bây giờ, người nông dân sống thật cô đơn. Ban ngày
chàng đi một mình. Đêm tối chàng vô cùng đau khổ khi
nghe tiếng vợ gọi trên những cánh đồng nhưng không thể
tìm đến với chàng khi không còn tiếng chó tru hướng
dẫn! Nhiều đêm tiếng gọi của người vợ vang lên, van
nài, trong khi người nông dân đứng bên cửa sổ đáp lại
nhưng vô ích! Khi tiếng gọi tuyệt vọng xa dần, chàng
đóng cửa sổ lại với những giọt lệ đắng cay dâng
tràn cổ họng. Rồi người vợ không còn gọi chàng nữa
và người nông dân tự hỏi việc không có món quà trời
cho là điều đáng buồn, hay khi trời cho rồi lại tàn
nhẫn lấy đi là điều đáng buồn hơn? Rồi một đêm khi
chàng không ngủ được, tiếng tru ma quái của con chó vang
lên trên những cánh đồng. Người nông dân chạy vội
tới bên cửa sổ. Tiếng chó tru mỗi lúc một gần và
tìm vào nhà một cách dễ dàng.
Tuy chàng không thể vuốt
ve hoặc đùa giỡn với nó, và tuy nó không tru nữa khi
đã vào nhà, người nông dân cảm thấy dễ chịu và nghỉ
ngơi thoải mái hơn, khi cảm thấy sự hiện diện của con
chó thân yêu. Vào một đêm trăng, sau khi con chó đã tới,
đang ngồi bên cửa sổ, người nông dân chợt nghe tiếng
người vợ gọi chàng trên những cánh đồng. Chàng nhẩy
cẫng lên và cố la thật lớn gọi nàng. Đột nhiên từ
bên cạnh chàng, tiếng chó tru khủng khiếp vang lên bén
ngót như xé nát màn đêm. Người nông dân muốn ôm con
chó để tỏ lòng biết ơn, nhưng không thấy nó. Cũng như
trước đó, tiếng chó tru liên tục tới khi tiếng gọi của
người vợ lọt vào trong nhà. Người nông dân run lên vì
cảm xúc. Chàng muốn ôm chặt lấy nàng, nhưng... chàng
đành chấp nhận những gì chàng được hưởng.
Giọng nói của vợ chàng cũng hết sức vui vẻ, nhưng khi
nàng vừa khởi sự nói về việc tìm lại được nhau thì
giọng nói của nàng bị tiếng chó tru lấn át. Chàng nông
dân nghiêm giọng ra lệnh cho con chó ngưng lại, nhưng lần
đầu tiên nó cãi lời chàng. Giọng người vợ mỗi lúc
một cao, khẩn cấp: Nàng đang kêu cứu! Những tiếng nói
của nàng biến thành những tiếng thét gào, rồi thành
những tiếng rú kinh hoàng bao phủ cả không gian. Trong khi
đó, tiếng chó tru cũng trở thành những tiếng rít khủng
khiếp phủ kín căn nhà với sự hung tợn và điên cuồng
vẫn bị dồn nén từ lâu. Người nông dân chạy tới chạy
lui một cách vô vọng, hai tay chàng vươn ra như muốn chạm
vào một cái gì. Tiếng gào thét đầy đau đớn của
người vợ ngắn dần và đứt quãng giữa những tiếng
chó tru kéo dài trong đêm tối. Người nông dân điên
cuồng chạy tới chạy lui, hai tay vung tứ phía. Cuối cùng
tiếng người vợ nhỏ dần như tiếng khóc cùng tiếng chó
thở dồn dập. Rồi cả hai giọng chìm xuống và tan biến
vào hư vộ Khi dân trong tỉnh tới xem thì người nông dân
đã bỏ đi. Phòng ngủ bừa bãi tan hoang như vừa bị một
trận cuồng phong tàn phá. Ở gần cửa sổ, một vài
người nói rằng thỉnh thoảng họ vẫn nghe thấy một
tiếng thở hổn hển, khàn khàn như của một con thú bị
đứt hơi.
oOo
|
|