|
Contributed by: Admin |
Views: 14.069
Nguyễn Qúy Đại
"Hành Sơn đâu kém bồng lai
Còn non nước đó, mến hoài nước non
Kỳ sơn bày sẵn năm hòn
Ngắm tranh thiên tạo lòng còn say sưa"
Năm 1888 Pháp lấy Đà Nẵng làm nhượng điạ, người ta
gọi thành phố này là Tourane, Tou-han hay cửa Hàn... Đà
Nẵng là thành phố lớn nhất miền Trung với hải cảng
chiến lược quan trọng là trung tâm kinh tế. ...
... Đà Nẵng có sông Hàn, các bãi biển Thanh bình, Mỹ
Khê, Tiên Sa, Non Nước. Núi Sơn Trà cao 693 m, với rừng
nguyên sinh rộng 4.370 ha có nhiều động vật quý như voọc
chà và khỉ đuôi dài, gà mặt đỏ, núi xanh đậm quanh năm
có mây trắng bay. Về hướng đông nam, năm ngọn núi ngạo
nghễ đứng giữa trời mây. Người ta thường gọi là núi
Non Nước, nhưng còn nhiều tên khác trước đó như: "Ngũ
Uẩn Sơn; Ngũ Chỉ Sơn; Núi Cẩm Thạch; Núi Tam Thai". Đầu
thế kỷ thứ 19 vua Minh Mạng đặt tên là Ngũ Hành Sơn (Les
Montagnes De Marbre - Die Berge der Fuenf Elemente) cho đến ngày
nay.
Ngũ Hành Sơn cách xa Đà Nẵng khoảng 7 km, Du khách thường
viếng thăm, Ngũ Hành Sơn thuộc đông bắc làng Hòa Quế,
quận Điện bàn tỉnh Quảng nam (từ năm 01-01-1997 Ngũ Hành
Sơn được đổi tên thành một quận của thị xã Đà
Nẵng là Quận Ngũ Hành Sơn rộng 36,5 Km2). Ngũ Hành Sơn
màu sắc thay đổi theo thời gian sáng chiều, từ màu lục
sang màu xám hay đen, đó là những nét đặc thù độc
đáo.
Ngũ Hành Sơn nằm giữa vùng cát trắng mịn từ biển Mỹ
khê kéo dài đến bán đảo Tiên sạ Theo địa chất học,
người ta cho là các hòn đảo ở gần bờ biển do tác
dụng của thủy triều phù sa bồi đắp, nối liền với lục
địa những núi này bị nước mưa và khí hậu tác dụng
xói mòn tạo ra những hang động và hình thù kỳ dị, làm
cho núi có những sắc thái đặc thù.
Các loại thảo mộc như: cây Thiên tuế cành lá xum xuê
thân quấn vào núi đá, những khe đá ẩm ướt có loại
cây Thạch trường sanh. Cây Cung-nhân-thảo (Amaryllis) lài
trắng, Cảnh-thiên (Crassule), Mộc tê, Chương não, và loại
cây Thử lý có tên khoa học M. Vyridiflora, có tinh dầu dùng
để trét ghe thuyền, cây Tứ quý có rễ dùng ngâm thuốc
làm thuốc bổ, lọc huyết và tiêu thực. Các loại hoa
rừng đẹp nhiều màu sắc hương thơm, các loại phong lan
rễ tua tua như tóc xoã, hoa đẹp lộng lẫy những dây leo
mềm mại theo sườn núi, sinh vật có loài khỉ Dộc hiền,
mặt nhẵn nhụi lông màu xám tro, và các loại dơi, chim
hải yến.
Thuở xa xưa người Chiêm Thành, thờ thần linh theo tín
ngưỡng của họ, ngày nay còn lưu lại di tích qua những
tượng thần bằng đá, những đền tháp và hình tượng
khắc trong vách đá ở Chùa Linh Ứng, trong động Huyền
Không. Ngũ Hành Sơn bao gồm 5 ngọn Kim Sơn, Mộc Sơn, Thuỷ
Sơn, Hoả Sơn, Thổ Sơn.
Kim sơn
(Metall - metal) là hòn núi khiêm tốn nhất trong 5 ngọn núi
kéo dài từ đông sang tây, sông Trường nối dài ra sông
Đà Nẵng, có đò Bến ngự ngày xưa Vua chúa thường cập
bến nơi đây để ngọan cảnh, qua thời gian biển dâu
biến thành ruộng đồng, sông Trường có tên "Lộ Cảnh
Giang là sông Cổ Cò", đã bị vùi lấp biến thành ruộng
hoặc hồ nước còn dấu tích của những đoạn sông chưa
bị lấp kín.
Mộc sơn
(Holz - wood) phiá đông nam nằm song song với núi Thủy sơn
dù mang tên là mộc, nhưng cây cối mọc rất ít núi cũng
có hang động nhỏ, Mộc sơn có khối đá cẩm thạch trắng
giống hình người.
Thuỷ sơn
(Wasser - water) phiá đông bắc là núi đẹp nhất, du khách
thường đến ngoạn cảnh gọi là Chùa Non Nước, phong cảnh
hữu tình có thể nói núi Thủy sơn nằm dài từ đông sang
tây rộng 15 ha, có nhiều Chùa được xây cất lâu đời,
có động Thạch nhũ, có hai chùa đẹp chùa Tam Thai và chùa
Linh Ứng, đường lên núi làm bằng từng cấp lót đá,
trên đỉnh 3 ngọn núi mang tên là "Tam Thai" bởi vì nó
giống như "Sao Tam Thai" tức là 3 ngôi sao làm thành cái
đuôi của chùm sao Đại Hùng Tinh. Du khách từ vùng biển
muốn lên thăm Linh Ứng phải bước lên khoảng 108 tầng
cấp, nếu đến chùa Tam Thai nằm ở phiá nam phải đi xa
hơn những tầng cấp dài 156 bậc. Ngày nay phần lớn du
khách đến Thuỷ sơn bằng xe từ đường Huyền Trân, hai
bên đường là làng chuyên về nghề điêu khắc tạc
tượng, bằng đá cẩm thạch.
Hỏa sơn (Feuer - fire) ngọn núi hướng về phiá tây nam
sườn núi hiểm dốc hang động hoàn toàn im lặng, giữa
núi Kim sơn là cánh đồng của xóm Hoà Quế, trên dãy núi
Hỏa sơn còn lại những đống gạch vụn từng mảnh hay đôi
khi nguyên vẹn, trong những hố đá gạch sụp lở đó là di
tích đền tháp của người Chiêm Thành. Hoả sơn nơi
người ta khai thác lấy đá cẩm thạch. Đá cẩm thạch non
nước có nhiều vân, sắc đẹp hồng, xám, trắng, những
loại đá khác nhau rất hữu ích cho công nghiệp, đá vụn
để trãi đường, tô tường nhà.
Thổ sơn (Erde - earth) là núi thấp nằm chính giữa có
dạng vuông, cạnh không đều nhau, Thổ sơn không có phong
cảnh đẹp chỉ có đất sét đỏ và đá cát lẫn lộn. Theo
truyền thuyết Thổ sơn là nơi linh địa ngày xưa người
Chiêm Thành đồn trú nơi đây, còn tìm thấy những nét
về văn minh người Chiêm Thành điêu khắc vào đá như
một cứ điạ từ đó xuất phát đi cướp phá các vùng
biển có tàu buôn đi từ Trung hoa xuống đến vùng biển
Mã lai. Thổ sơn thấp bao quanh những ngọn núi cao hơn.
Các Chuà và hang động ở Thuỷ sơn
Bối cảnh lịch sử Lê Đại Hành (trị vì từ 980-1005) là
vị vua đầu tiên tấn công Chiêm Thành, thì Lý Thánh Tông
(trị vì 1054-1072) là vị vua đầu tiên mở mang bờ cõi
xuống hướng Nam... Vào đời nhà Trần, vua Trần Nhân
Tông (trị vì 1278-1293) nhường ngôi cho con, rút lui vào
cuộc đời ẩn dật và vân du đây đó, sang thăm vua
nước Chiêm Thành, thượng Hoàng hứa gả con gái cho vua
Chiêm, bất kể sự chống đối của triều đình. Năm 1306
vua Chiêm Thành là Chế Mân "Jaya Simhavarmn III" cưới Công
chúa Huyền Trân, với sính lễ dâng Châu Ô và Lý (Rí) vua
Trần Anh Tông trị vì (1293-1314) anh của công chúa Huyền
Trân nhận 2 châu trên đổi thành Thuận Châu và Hoá Châu.
Phiá nam Hoá Châu từ đèo Hải Vân đến bắc sông Thu Bồn
thuộc đất Quảng Nam ngày nay. (Quảng Nam trong lịch sử
Trần Gia Phụng trang 36-38)
Theo truyền thuyết vào đời nhà Hậu Lê, vua Lê Thánh
Tông trị vì từ (1460-1497) đã khám phá ra Ngũ Hành Sơn.
Trên các cụm núi đó thờ thần linh, là lãnh địa Amaravati
tức Cổ Lâm Ấp đất đai của Chiêm Thành, trở thành
lãnh thổ của Đại Việt. Theo tài liệu đại sư Huệ Đạo
Minh đầu tiên tu ở núi Thủy Sơn trong hang động dựng
tấm bia thứ nhất "Ngũ Uẩn Sơn". Ngày nay gọi là động
Vân Thông năm Tân Tỵ (1640). Tấm bia thứ hai ở động Hoa
Nghiêm năm Canh Thìn (1641).
Đến các đời Chúa Nguyễn Phật giáo được thịnh hành
ở xứ Đàng Trong. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên trị vì từ
(1613-1635) đã từng đóng góp lập các chùa Long Hưng, Bửu
Châu ở Quảng Nam. Quốc Chúa Minh Vương Nguyễn phúc Chu
trị vì (1691-1725) cũng mộ đạo năm 1695 đã mời Hoà
thượng Thích Đại Sán (Thạch Liêm) từ Trung Hoa sang Thuận
Quảng hộ trì Phật giáo. Hoà Thượng Đại Sán từng đến
Ngũ Hành Sơn. Đến năm 1702, Ngũ Hành Sơn được sự chú
ý của giới thương gia nước ngoài. Một đại diện của
công ty hoàng gia Trung Quốc đến tiếp xúc với vị Đại
Sư Huệ Đạo Minh và tăng đồ (Đông dương Ấn Độ,Tích
Lan 1902 trang 103) và các thương thuyền Âu Châu phát hiện
thêm là Ngũ Hành Sơn có nhiều khỉ nên gọi "Montagnes des
singes / núi của loài khỉ" Những ngôi Chùa trong bãi cát
phiá nam Thủy Sơn chỉ còn lại những phế tích sụp đổ...
Thời gian chiến tranh với nhà Tây Sơn chùa chiền, lăng
miếu, bị tàn phá.
Vua Gia Long lên ngôi từ (1802-1819) thống nhất sơn hà, ổn
định xã tắc cho tu bổ lại nhiều chùa ở Phú Xuân. Hoàng
hậu Hiếu Khương sửa chùa Báo quốc, Thái trưởng Công
chúa Ngọc Nghiên sửa chùa Tuệ lâm, Thừa Thiên Cao Hoàng
Hậu sửa chùa Thiền Lâm, công chúa Ngọc Duệ trùng tu
chùa Thiên Thai...Vua Gia Long có 13 Hoàng tử 18 Công chúa,
nhưng Công Chúa Ngọc Lan đã vào hang động ở Ngũ Hành
Sơn ẩn tu, nơi đó có tên "Phổ Đà Sơn" theo tài liệu
mô tả "cơ sở tinh kiết, nơi một người con gái đồng
trinh, con của Gia Long và em Minh Mạng, Công chúa Ngọc Lan
rời bỏ cảnh phồn hoa, cung điện xa xỉ kiêu sa, Công chúa
chọn cuộc đời tu hành, để giải thoát khỏi cảnh đời
tục lụy." (Ngũ Hành Sơn tác giả Albert trang 96)
Vua Minh Mạng (trị vì 1820-1840) năm thứ VI tháng 6 năm 1825
đến thăm Ngũ Hành Sơn. Vua quyết định đặt lại các danh
xưng, khắc trên thềm và sườn núi (Minh Mạng Thực lực
trang 10) Tháng 7 năm 1825 nhà vua ban lệnh thượng thư bộ
Công, quận công Liên Hoa tiến hành tu sửa chùa Tam Thai.
Ngôi chùa được xây dựng từ năm 1630, và động Hoa
Nghiêm (động của sự hoá thạch uy nghiêm). Tháng 4 năm 1826
nhà vua ra lệnh đúc cho chùa 9 pho tượng và 3 qủa chuông
lớn, chùa Tam Thai còn lưu giữ "quả tim lửa" và chiếc
chuông khắc tên vua Minh Mạng. Chùa nầy được trùng tu
lại năm 1946 và năm 1975. Sân chùa rộng giữa sân là
tượng Phật Di Lặc đồ sộ, chung quanh nhiều cây kiểng
loại bonsai và hoa sứ nhiều màu trắng vàng thoảng mùi
hương, cuối sân là nhà phương trượng của tu sĩ và
thầy trù trì, (nơi đây chỉ có đá và chùa phương
trượng, nhưng không có Sư phương trượng).
Từ chùa Tam Thai đi qua Động Thiên Phước Đại, (trời
thanh khiết và đất hạnh phúc) nơi dừng chân các Vua Chúa
đến thăm viếng. Tháp Phổ Đồng có một vòng tường bao
quanh, tất cả đền tháp xây bằng vật liệu pha trộn đá
cẩm thạch và gạch xưa đẹp và rắn chắc. Chùa Từ Tâm
mái thấp thờ Điạ Tạng, có bàn thờ tưởng nhớ các
triều đại Đinh, Lý, Trần, Lệ Có bàn thờ thêm cho các
linh hồn lạc lõng là nạn nhân của sóng biển, chiến tranh
bị người đời lãng quên.
Vọng Giang đài là cụm đá cao mặt bằng nhỏ hẹp, đứng
trên Vọng Giang đài có thể nhìn bao quát sông Cẩm Lệ
lượn quanh cánh đồng lúa chín vàng, màu xanh lá cây,
làng mạc trù phú của quận Hòa Vang. Phiá bên trái chùa Tam
Thai là động Huyền Không, Linh Nhan (hang của đỉnh núi
thần bí) và Tàng Chơn (động của sự tĩnh tâm đích
thực). Phong cảnh chùa, hang động, yên bình lý tưởng cho
sự cầu kinh niệm Phật.
Thời gian vua Gia Long trị vì, người ngoại quốc được
phép viếng Ngũ Hành Sơn dễ dàng, nhưng qua thời Minh
Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, việc viếng Ngũ Hành Sơn
rất khó khăn vì chính sách bài Pháp. Qua thời Pháp đổ
quân lên cửa biển Đà Nẵng năm 1859, việc đi lại bị
khó khăn hơn, nên những người hành hương viếng cảnh
ngày một thưa dần, và Ngũ Hành Sơn trở lại tình trạng
điêu tàn đổ nát. Hang động ở Ngũ Hành Sơn có cảnh
sắc thật kỳ lạ mỗi sáng, ánh nắng mặt trời len lỏi
qua các ngách đá tạo ra vẻ lấp lánh trên thạch nhũ với
vô số hình hài khác nhau mà du khách có thể cảm nhận
theo trí tưởng tượng của mình. Ở động Quan Âm nhiều
thạch nhũ tạo ra những bức tượng nhà Phật rất độc
đáo, trong đó khối thạch nhũ tạo thành tượng Quán Thế
Âm Bồ Tát rất hoàn chỉnh, thanh tú. Một lớp da đá như
dải lụa kim tuyến phủ từ bờ vai phải chạy đến hết
thân tượng, tay phải nâng bình nước cam lồ. Trong động
Quán Thế Âm còn có bộ tam khí nhà Phật gồm chuông,
trống, mõ bằng đá, đánh phát ra âm thanh. Cuối động
là hồ nước mát lạnh, trong suốt quanh năm nên được
gọi là hồ nước Cam lồ. Nhiều ngôi chùa khác trong quần
thể Ngũ Hành Sơn cũng lưu giữ nhiều hiện vật và giá
trị văn hoá, tôn giáo, lịch sử quý giá. Ngoài ra, du khách
đến đây còn có thể thấy những bút tích thơ ca thời
Lê, Trần trên những bức đá rêu phong.
Chùa Linh Ứng hướng ra biển, xây thời vua Minh mạng 1825
gọi Ứng Chân Tự đến đời vua Thành Thái 1891 đổi
thành Linh Ứng Tự, có tượng lớn Đức Quan thế Âm bồ
tát. Chùa Linh Ứng thờ Tam Thế Phật, chính giữa Phật
Thích Ca, bên phải Di Lặc, bên trái Di Đà. Năm 1970 các
Tăng ni, Phật tử Quảng Nam-Đà Nẵng xây lại chùa mới.
Chùa Linh Ứng thờ bài vị của trưởng lão Bửu Đài,
Chùa nầy đã đào tạo những danh sư (1) thế hệ gần
nhất như cố Hoà thượng Thích Trí Hữu. Ngài đã từ
nơi đây vào Sàigon hành đạo, xây dựng nên ngôi chùa Linh
Ứng Tự (1948) sau nầy đổi thành Chùa Ấn Quang tai.
đường Sư vạn Hạnh quận 10 Saigon. Hoà thượng Thích Bảo
Lạc (là bào huynh Thượng tọa Thích Như Điển người sáng
lập chùa Viên Giác Hannover, Đức) Ngài đã xuất gia tại
Ngũ Hành Sơn năm 1958 hiện trù trì chùa Pháp Bảo Sydney Úc
châu).
Sau chùa Linh Ứng có động Tàng Chân, động chính giống
như thung lũng nhỏ chiều dài 10 m ngang 7 m thoáng mát, nhờ
thông lên trời qua cửa Thiên Long Cốc từ nơi đây đi
về phía tây có hai cửa hang gọi là: Vân Nguyệt Cốc (hang
của mây và trăng) động Vân Thông (động thông với mây)
hang Thiên Long Cốc (hang của rồng và trời) có miếu thờ
Thái Thượng Lão Quân, bên trái thờ Bát Bộ Kim Cương,
bên phải thờ thần Chiêm Thành. Ngoài ra còn có 5 động
nhỏ: Tam Thanh (Thanh Thanh Tiên Động, động của ba người
bất tử Thượng Thanh, Thái Thanh, Ngọc Thanh), hang Gió
người ta còn gọi là Hang Thần Thượng là hang của các
Thần bề trên, Đá nơi đây có màu xanh lá cây làm dễ
chịu và mát mẻ, động Chiêm Thành (gợi lên những gì
thuộc về nước Champa ngày xưa), động Bàn Cờ, hang Ráy.
Âm Phủ huyệt nằm ở phía nam Thủy sơn du khách vào thăm
hang động nầy thấy thiếu ánh sáng mặt trời. Càng đi
vào sâu càng tối tăm hơn, nên có tên là Âm phủ có
người nói rằng nếu đem những trái bưởi có đánh dấu
bỏ vào đó mấy ngày sau sẽ thấy trôi ra biển có thể
động nầy ăn thông ra biển. Bên phải chùa theo các phiến
đá lót phụ bước lên vọng Hải Đài nhìn cảnh quan từ
trên cao xuống bãi cát vàng và biển khơi mênh mông, xa
thẳm, nhìn về hướng đông nam là đảo Cù Lao Chàm,
những đàn hải yến bay lượn dưới bầu trời trong xanh.
Động Huyền Không đi qua cổng vòm có 3 chữ Huyền Không
Quan, cửa hơi hẹp động tối, những bậc đi xuống sâu,
giữ cửa động có tượng hình ông Thiện và ông Ác, như
nhắc nhở con người phải thánh thiện, từ bi khi đến
cõi sắc không của Phật. Vào trong hang có ánh sáng từ
trên cao chiếu qua lỗ trống trên động, càng làm vẻ đẹp
lung linh huyền bí, vòm Động cao nhủ thạch bám vào vách
tạo nhiều nét đẹp thiên nhiên, và bàn tay con người tạo
thêm nhiều hình đẹp như tượng Phật Quan Âm, được
điêu khắc công phu trên bệ thờ, phiá bên phải là ngôi
chùa nhỏ Trang Nghiêm Tự, bên cạnh có thạch nhũ nhỏ nước
tí tách, dưới nền có khối đá điêu khắc tượng của
người Chàm, khung cảnh hư ảo trong hang động tạo cho du
khách như sống với thế giới vưà hư vừa thật, lấy
tay vỗ lên trên đá nghe như tiếng trống bình bịch.
Động Huyền Không trên bàn thờ có tượng Thiên-Y-A-na-
Chúa Ngọc, ngày xưa người ta có tục lệ làm hai lễ đặc
biệt được cử hành bằng đức tin là "cắt huyết gà
để thề" những việc tranh cãi thề thốt không nói dối,
trước những đấng siêu hình chứng giám xác quyết lời
thề sự thật tuyệt đối, vĩnh viễn không nuốt lời
thề, người ta lấy dao cắt cổ con gà trống cổ nhổ
sạch lông và cái bát đựng huyết gà để thề, nếu ai
nói sai sẽ chết như con gà.
Nhiều người đến chùa cầu xin Thiên ân "cầu tự" cho
những đàn bà chưa có con. Sau đó họ vào động Huyền
Không uống nước từ thạch nhũ, các tục lệ trên ngày nay
không còn như xưa nữa.
Động Huyền Vi nằm sau lưng chuà Linh Sơn thuộc Hỏa sơn.
Hội Phật giáo xã Hoà Hải tìm thấy năm 1953. Động
Huyền Vi là một trong những hang động đẹp của Ngũ Hành
Sơn, cửa hang dày 3m, động dài 10m ngang 2m có nhiều ngách
nhỏ, trên vách hang có nhiều hình ảnh cây cỏ. Một góc
khác có hồ nước trong xanh có tạc tượng ông Lữ đi
câu... có giếng nước sâu, đến gần miệng nghe những
âm thanh trầm bổng tựa tiếng đàn, gọi là giếng tuyền
cầm.
Trong luận ngữ (Nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy
nghiã là: Người Nhân yêu núi, người Trí thì ưa nước.)
Non nước hữu tình, Huỳnh Thúc Kháng dịch thơ chữ Hán
của Nguyễn Thượng Hiền :
Hai mươi năm lẻ xuống trần gian
Ngoảnh lại bồng lai gấm dở dang
Kìa động Tàng Chân nay được đến
Dâng hoa quét lá lễ tiên ban
Linh Ứng đền xây giữa núi sâu
Tàng Chân động cổ đá thưa rêu
Gío thu tựa cửa tùng quang ngắm
Hạc biển bay mà chả thấy đâu
Non cao mấy chén rượu tùng say
Xa tục tiên ông ở chốn nầy
Tung tích người xưa ôi chớ hỏi
Chòm mây muôn dặm tự do bay
Từ Ngũ Hành Sơn nhìn ra biển một màu xanh xanh, phong cảnh
đẹp với mây bay gió thoảng, những làn sóng nhẹ tung tăng
chạy vào bờ cát trắng. Ngũ Hành Sơn đã cho mặc khách,
tao nhân các nguồn mỹ cảm với cảnh non xanh nước biếc.
Ngũ Hành Sơn làm cho du khách như rũ sạch bụi trần, thoát
vòng tục lụy đi vào chốn bồng lai tiên cảnh
Cõi trần dạo bước thử xem chơi
Năm hòn chót vót cây chen đá
Bốn mặt mông mênh nước lộn trời
Bãi cát trắng phau cơn gió bụi
Chòm rêu xanh ngắt bóng trăng khơi
Ngự thi nét bút còn như vẽ
Dâu bể bao phen đã đổi đời
Nữ sĩ Ngọc Anh
Từ thời ấu thơ cho đến tuổi trưởng thành, tôi đã
nhiều lần đến thăm Ngũ Hành Sơn, và cảm hứng viết
lại bài nầy trong khả năng hạn hẹp. Mong độc giả đóng
góp thêm, để chúng ta có cái nhìn toàn diện về vẻ đẹp
của quê hương muôn thuở ...
Nguyễn Quý Đại
Munich muà hè năm 2005
* Những vị Đại sư đã tu ở Ngũ Hành Sơn từ triều
Nguyễn:
Sư Bửu Đài
Viên-Trừng đại sư
Chơn-Như đại sư
Hoàng-Ân đại sư
Phước-Nghi đại sư
Tuệ-Quang đại sư
Mật-Hành đại sư
Chí-Thành đại sư
Từ-Trí đại sự...
Sau nầy thì tăng sĩ có các thứ bậc : Đại Đức,
Thượng Toạ, Hoà Thượng, Đại Lão Hòa Thượng,.....
Tài liệu tham khảo:
- Việt sử Đại Cương Tác giả Trần Gia Phụng NXB Non
nước Toronto 2003
- Quảng Nam trong lịch Sử Tác giả Trần Gia Phụng Nxb Non
Nươc Toronto 2000
- Ngũ Hành Sơn tác giả Albert Sallet NXb Đà Nẵng 1996
- Non Nước VN NXB Hà Nội 2003
|
|