Viet Nam Network

Welcome to VN.NET
24/10/14

Ông thầy giáo làng quê
  |      Contributed by: Admin  |  Views: 4.127
Võ Phước Hiếu

Trích tập tuyển " đồng quê miền nam" " Quê cha, Quê mẹ, Quê mình ".

Thầy giáo Mạnh được bổ nhiệm đến trường làng Thanh Hà chỉ mới ba bốn năm nay. Đây là một làng tân lập, đất đai mới vỡ còn ráo hổi, hăn hắc mùi lá mục tro ung, thăm thẳm xa hút, hầu như cô lập với thế giới bên ngoài.

Phương tiện di chuyển thời bấy giờ chỉ có ghe xuồng xuôi ngược, lướt trên những sông rạch và kinh đào chằng chịt, xẻ ngang xẻ dọc cắt xén những cánh đồng bát ngát mênh mông thành từng ô nhỏ.Trí con người tưởng tưởng như những nét nhăn nheo, xếp nếp chất chồng nơi gương mặt người dân, quanh năm lúi húi vất vả, suốt ngày chưa được diễm phúc nhìn thấy hai vạt áo mình khô khan ấm áp.

Qua mùa khô, đồng ruộng nứt nẻ. Một thảm vàng sậm gốc rạ khô trùm phủ phong quang cảnh trí, chạy dài mãi tận chân trời. Xe trâu, xe bò, cộ trâu là phương tiện phổ cập vào mùa này. Chúng cứ ì ạch nặng nề, chòng chành băng ngang bờ mẫu, mô đất hay những vũng trâu nằm cạn khô để thỉnh thoảng vất người xuống đất đau điếng.

Thầy giáo Mạnh bị đày đến xóm khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn muối này vốn do những thành tích "bất hảo" khi còn là sinh viên trường Sư phạm Saigon. Lúc đó, thầy tham dự đám tang lịch sử chưa từng thấy ở miền Nam của chí sĩ Tây Hồ Phan Châu Trinh. Đồng bào Saigon Chợ Lớn và các vùng phụ cận, nhơn cơ hội cái chết của nhà cách mạng VN lừng lẫy, chẳng những trong nước mà cả bên trời Âu, để tỏ lòng kính mến, ngưỡng mộ và biết ơn một người đã hy sinh suốt đời cho đại nghĩa quốc gia. Họ cũng lợi dụng dịp tang tóc đau thương này để biến thành hành động cụ thể, biểu dương sức mạnh dân tộc trước cao trào đấu tranh giành chủ quyền và độc lập cho tổ quốc.

Nhứt là tiếp theo sau đó, thầy tỏ ra tích cực, dấn thân tham gia hưởng ứng hầu hết các phong trào đình công, bãi thị, bãi khóa nhằm phản đối chánh quyền thuộc địa, nhằm hỗ trợ cao trào vùng dậy đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc. Những phong trào này đang âm thầm nhen nhúm đó đây từ Nam chí Bắc chờ ngày quật khởi.

Mặc dầu bị ban Giám đốc nhà trường ký giấy phạt phải học lại một niên học mới ở trường Sư Phạm Saigon nhưng nhà cầm quyền thực dân thâm thù vẫn không quên ghi tên tuổi thầy vào sổ bìa đen bìa đỏ. Từ dạo đó, thầy và bè bạn đồng khóa cùng chung chí hướng bị chánh quyền để tâm theo dõi thường xuyên.

Việc thầy được bổ nhiệm nơi đèo heo hút gió, ngày ngày đêm đêm không lúc nào dứt nhạc bản buồn tênh tang khó của ếch nhái, vạt sành, chàng hiu, ảnh ương... cùng với tiếng muỗi vo ve liên hồi bên tai, không làm thầy ngạc nhiên mấy. Thầy đã ức đoán không sai từ khi còn đi học, tương lai nào sẽ dành riêng cho thầy một khi ra trường.

Thầy gốc người Bà Rịa rặc nòi. Sinh trưởng và lớn lên nơi thôn quê cố thổ núi rừng. Tuy là rừng chồi, từng vạt rải rác đó đây, núi non không cao lắm nhưng thầy cũng đã quen với lối sống khó khăn của vùng còi cộc, khô cằn sỏi đá. Quê hương, nơi chôn nhau cắt rún của thầy ở sát chân núi Thị Vãi, trông ra xa xa là biển Đông với những đợt sóng bạc đầu trên mặt biển màu xanh cẩm thạch, cứ tiếp nối nhau từ muôn thuở, âu yếm ôm ấp bờ cát vàng.

Sự trừng trị của thực dân đế quốc không đánh mất nơi thầy cái tánh hồn nhiên yêu đời, năng động và say mê làm việc của tuổi trẻ. Tuy nhiên, ngày dài có lúc bắt đầu khép lại với những trận mưa chiều ập xuống như cầm tỉnh mà đổ. Rồi mưa dây dưa kéo lê thê cù cưa cù nhầy đôi ba ngày liền không dứt hột, làm mờ đi cảnh vật thôn quê, loáng thoáng một nỗi buồn vu vơ sâu hút. Chính những lúc ấy, thầy không sao quên được quê hương thầy.

Nơi thôn quê cách ngăn lại vắng người, những khi ông Trời như cắc cớ, chắt chiu chất chứa bao nhiêu nguồn nước huyền bí nhiệm mầu để cùng một lúc trút xuống xẻo đất mới ngày mùa đó, quả là một bất hạnh trong ngày. Ngay từ lúc hãy còn sáng bửng, hầu như người người đều cùng một thái độ khắc khoải, bó gối đăm đắm nhìn trời trong chán chường đợi chờ.

Họ bực bội, xem như phí uổng một ngày công ngồi không để chỉ nghe tiếng nhái bầu than thở. Chúng đua nhau trổi lên não nuột buồn tênh nơi góc vườn như một khúc đồng dao xoi nghiến tâm can. Họ thấp thỏm ngóng trông sao cho mưa mau tạnh hầu đón nhận một chút ánh nắng còn rơi rớt trong ngày để có thể bắt đầu sinh hoạt theo phản xạ tự nhiên của con nhà nông yêu đất, yêu nước, yêu nghề, đam mê làm việc lam lũ nặng nhọc. Chính những lúc buồn tênh sâu hút, dấy động ưu tư dằn dặt đó nó tựa hồ như nhắc nhớ thầy chốn cố thổ của tổ tiên, núi rừng Thị Vãi khổ hạnh, dân nghèo người thưa, chơn chất quê mùa. Nơi đây, thầy ấp ủ hoài bảo khi lớn lên phải cố gắng làm một chút gì rỡ ràng dòng họ tông tộc, không để thẹn với đời và không ăn quỵt thế gian. Một nỗi nhớ trong lắng trầm u tịch sao cứ ùa về ngồn ngộn giữa bối cảnh quá đặc biệt ấy, khiến thầy như ôm riết ghì níu nó thật mạnh và mãi mãi trong lòng mình.

Trong những năm chung sống hòa mình với dân tình làng Thanh Hà, vốn có truyền thống thật thà cởi mở và hiếu khách trọng người, thầy không quên giới thiệu quê hương thầy qua bài đường thi của ông Hương Biện Ngươn, người lão nông đồng thôn mà thầy rất mực trân quý kính trọng:

Núi Thị Vãi

Mái tóc Vu Sơn dễ kém nào
Xuống làm mụ Vãi chốn nầy sao?
Kinh mây vượn đọc hơi sùi sục
Kệ suối quyên ngâm giọng bảnh bao.
Chuỗi đá mũ sương treo nhỏng nhảnh
Áo tòng xiêm liễu phất xôn xao.
Quy y cái thuở trời năm nẵm
Một kiếp càng thêm một kiếp cao.
Cuộc đời thầy kể như vĩnh viễn cột chặt vào chéo đất mới nằm thụt lõm ở hốc bà tó này mà trước đây thầy chưa bao giờ nghe nói đến tên. Đôi ba năm, họa hoằn mới có một dịp hiếm hoi thầy đáo về tỉnh lỵ Chợ Lớn để báo cáo tình hình trường lớp và nhận chỉ thị mới của thanh tra tiểu học. Vì biết định mệnh éo le trời giành cho mình như thế, thầy đã chọn làng Thanh Hà làm quê hương thứ hai. Rồi với ngày tháng đong đưa len lén trôi qua, tình cảm thầy càng thêm gắn bó keo sơn nơi này.

Chẳng mấy chốc, tháng năm lưu đày, dằn dặt thương gia đình vọng nhớ quê hương của thầy được lùa xa trong lãng quên như thói thường người đời. Thầy trở thành một phần tử thực sự của xóm làng. Vì thầy đã thực sự hội nhập trọn vẹn vào sinh hoạt địa phương. Ngôi trường nhà nước sạch sẽ khang trang. Đó là cái mã bề ngoài của thực dân để mà mắt những người nhẹ dạ non lòng, tưởng chúng lo lắng, thật tình trông nom việc giáo dục và dạy dỗ con em mình. Nền đúc cao ráo, nổi bật hẳn trên cảnh thổ sông rạch bạt ngàn, đất đai ủng nước ẩm ướt, giang san của năn sậy, cỏ ống, cỏ mồm. Mái ngói, tường vôi. Sân cỏ xanh um mướt mượt. Trường có hai lớp đồng ấu và dự bị ngăn nắp. Một mình thầy phụ trách cả hai lớp. Buổi sáng, lớp đồng ấu. Buổi chiều, lớp dự bị. Sĩ số học sinh không mấy đông so với trường ốc vùng miền xuôi, cư dân vốn đông đúc nhộn nhịp.

Qua mùa mưa nước nổi, đồng ruộng mênh mông trắng xóa một màu nước bạc. Một phần vì sự di chuyển khó khăn, phần khác, học sinh phải ở nhà hụ hợ cha mẹ ngày mùa nên phòng lớp vắng hoẹ Chỉ lưa thưa vài đứa nhà gần. Cha mẹ học sinh vốn ít học lại "bế quan tỏa cảng" nơi cố thổ cách ngăn diệu vợi. Tầm mắt nhìn của họ chưa vượt khỏi con rạch nhỏ ngoằn ngoèo uốn éo giáp mí làng bên nên đầu óc còn thủ cựu. Họ quá nặng với quá khứ, một thứ quá khứ tối tăm cùng khổ triền miên. Họ chưa gột được thành kiến bám rễ ăn sâu từ bao nhiêu thế hệ:

..."Con vua thì lại làm vua, 
Con sãi ở chùa thì quét lá đa"... 
..."Trứng rồng thì nở ra rồng, 
Liu điu thì nở ra dòng liu điu"... 
Con nông dân nghèo rớt mồng tơi, ngày đêm lội ruộng lội rừng, dầm nước bất kể gió mái nắng mưa, phèn ăn vàng cháy hay đỏ sẫm móng chân móng cẳng. Một hòn đất to cỡ ngón tay cái để vò tròn làm đạn bắn chim trong vườn hay thổi ống xi đồng quanh xóm hoặc để đuổi gà đuổi vịt lúc chúng lén lút ăn lúa phơi còn không có hà huống "một sào đất để cấm dùi", như ông bà xưa hay nói. Thêm vào đó, nợ năm, nợ mùa chất chồng đôn đít khít rịt nhau không lúc nào dứt. Chưa kể những năm mùa màng thất bát, giá lúa rớt rẻ mạt. Như vậy thì đố sao tránh khỏi cảnh hẩm hiu buồn tủi phải cầm lưỡi hái chuôi cày mãi mãi lầm lũi đi sau đít trâu?

Họ có mặc cảm, cái mặc cảm không cách nào tẩy xóa được dễ dàng là con cái họ sẽ không sao vuột thoát định mệnh vốn đã an bày. Do vậy, đa số chỉ mong con em mình biết đọc, biết viết là mãn nguyện lắm rồi.

Biết thế, thầy giáo Mạnh chỉ dùng một lớp để giảng dạy hằng ngày. Còn lớp kia, thầy biến thành nơi trú ngụ tiện nghi, trong làng trong xóm khó có ai sánh bì. Trường học cũng là nhà thầy, rõ ràng bề thế giữa thôn ấp gồm toàn những mái tranh mái lá nhỏ nhắn lụp xụp. Lâu lâu mới thấy một cơ ngơi kinh dinh của chủ điền. Hoài bảo đối với quê hương Thị Vãi thầy ấp ủ thuở thiếu thời, nay vì hoàn cảnh oái oăm ngang trái không thực hiện được. Giờ đây, thầy ký gởi, giành giữ trọn vẹn cho làng Thanh Hà làm món quà của đứa con đỡ đầu trong tình cảm quý trọng thương yêu đậm đà của chòm xóm.

Ngoài sự tận tình trong nhiệm vụ thiêng liêng gõ đầu trẻ, khai thông dạy dỗ đám con em ngoan ngoản hiền hòa của bà con chất phác mộc mạc, thầy bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu, sưu tra ghi chép từ những câu tục ngữ, phong dao, ca dao, điệu hát câu hò, đến những thổ ngữ, địa danh, phong tục tập quán, truyện kể dân gian, ngạn ngữ, liễn đối v.v... Qua việc làm trường kỳ đó, thầy mơ ước tập hợp thành hệ thống, đúc kết, bổ khuyết hầu lưu giữ cái kho tàng quý báu ấy của địa phương, không để phôi pha tan biến theo thời gian. Với tư cách và vị thế ưu tiên có một không hai của thầy trong làng, thầy may mắn tiếp xúc hầu hết mọi gia đình, mọi thành phần, không sót một tầng lớp nào, không quan tâm giàu nghèo, không phân biệt một ai cả. Tên tuổi thầy, ai ai cũng đều biết vanh vách. Vì hơn một lần, họ có dịp đến với thầy. Ít ra nhân ngày tựu trường của con cháu. Và mỗi lần đến, họ đều giữ ở thầy một kỷ niệm khó có thể nhạt nhòa trong sớm chốc. Thầy được bà con trang trọng giành cho một chỗ ngồi xứng đáng ở chiếu trên, đôi khi vượt hẳn các vị chức sắc quyền thế trong làng trong tổng. Bà con xem thầy như cái núm ruột của mình không phải là một lời nói ngoa.

Quan niệm "quân, sư, phụ" của thời phong kiến xa xưa hun hút vẫn còn lãng đãng đâu đó trong tâm thức người dân. Họ vốn an phận thủ thường sau lũy tre xanh, quanh quẩn bên ruộng lúa vồng khoai, bên các đám dừa nước tối trời thân quen, giao ngọn đen sẫm huyền hoặc, giăng giăng ngút mắt và sung mãn quanh năm.

Mà quả vậy.

Quan niệm "trọng đạo tôn sư" đó đã chẳng theo dòng biến chuyển thăng trầm của lịch sử để trở thành một truyền thống trong sáng, chiếm hàng đầu trong những bực thang giá trị tinh thần và xử thế của dân tộc ta chăng? Thêm cái trí thức hiếm hoi lúc bấy giờ và phong thái đức độ của thầy kết tụ thành một mẫu mực mà mọi người thầm mơ, khuyến khích con em gắng sức noi theo. Giỗ quảy, cưới hỏi, hội hè đình đám, lễ Kỳ Yên, cúng Miễu Bà v.v... đâu đâu cũng mời thỉnh thầy tham dự cho bằng được. Kẻ đưa xe bò, cộ trâu chầu chực rước thầy tận cửa sân trường. Người neo xuồng ở bến sông công cộng cả buổi trời, chờ đợi thầy mãn giờ giảng dạy.

Nơi thôn ấp xa xôi, vào những hôm cuối tuần dự giỗ, thầy thường lưu lại đến hậu thường. Đôi khi bị cầm kéo, thúc ép lăng nhăng không cách nào từ chối được, thầy đành nán thêm một đêm, hai đêm... Đó là những dịp để thầy trao đổi, đàm đạo, vui chơi thức trắng dờ.

Còn nói gì gặp tang khó, thầy hay tin buồn, tự động đến chia xẻ như người trong thân tộc. Thầy không kể mưa gió, không quản ngại đường đi nhiêu khê cách trở. Cuộc sống hòa đồng hội nhập của thầy lấy tình người làm căn bản, quý trọng lẫn nhau, đã chinh phục tròn đầy cảm tình làng xóm. Nhờ vậy, tuy sống độc thân, xa hẳn gia đình ruột thịt, thầy không hề cô đơn, cô độc bao giờ. Ít ra trong tâm tư và tình cảm của thầy.

Hơn thế, thầy cảm thấy được sưởi ấm bằng một tình thương ruột thịt thật thà sâu đậm. Và cái thuở ban đầu bỡ ngỡ lúc mới bị đày đến đây, bây giờ đối với thầy chỉ là một thoáng mây mù dĩ vãng. Nó không thể làm vẩn đục bầu trời trong xanh của cuộc sống hiện tại.

Nhà ông Tư Dân hôm nay có giỗ. Ông được bà con gọi thân tình là ông "Vua Đường" do họ quá lậm chuyện Tàu chương hồi hay tuồng cải lương, vỡ hát bội với nhân vật Đường Thế Dân. Chẳng những ông không rầy rà cự nự mà còn hãnh diện nữa. Đối với các em út hoặc đám trẻ mới tấn lên, ông thường xưng mình là "Trẫm", "Hoàng Thượng" hay "Bệ Hạ" gọn hợ Nghĩ cũng oai đáo để.

Giỗ này lớn nhất trong năm. Ông tổ chức linh đình trọng thể lắm để nhắc nhở, tưởng nhớ, hồi hướng công đức cao dầy của người sáng lập tộc họ. Vị này đã đơn thương độc mã, phiêu lưu vào vùng đất hoang vu, thách thức thiên nhiên, quyết tâm phá rừng lập rẫy.

Cơ ngơi xây dựng thành công sung túc với biết bao nước mắt và mồ hôi để kết quả về sau được truyền tử lưu tôn, luân lưu thừa hưởng qua nhiều thế hệ. Bà con xa gần, thân quen chòm xóm đều được mời tham dự đông đảo và đầy đủ từ mấy tuần trước. Ấy vậy, thỉnh thoảng ngồi uống trà nơi bộ ghế chân quỳ có chạm trổ và cẩn xa cừ lấp lánh, ông "Vua Đường" cứ nhíu mày, vò đầu vò trán rồi bấm tay đếm tới đếm lui xem có thiếu mặt một ai không? Ông than vãn tự trách, cho rằng tuổi già của mình lẩm cẩm lú lẩn thường hay quên nhiều việc không đáng quên. Mà quên đôi khi rất tai hại. Vì nếu mời người này lại sót người kia, bà con buồn, phiền trách làm ông cũng mất vui.

Đêm đêm có ca tài tử giúp vui, tưng bừng nhộn nhịp. Vì kỳ này, ông rất ưng ý và hãnh diện có người anh ruột, một thương gia khá có tiếng ở Saigon, tranh thủ thỉnh mời được hai nữ danh ca vọng cổ đương thời là cô Ba Bến Tre và cô Năm Cần Thơ về cống hiến cho bà con những bài bản "hoài lang" du dương nức nở. Một sự kiện độc đáo và duy nhứt, từ trước đến nay chưa bao giờ thấy ở vùng đất tân lập ráo hổi này.

Bò heo được đám thanh niên thọc huyết kêu la inh ỏi, thảm thiết từ canh ba canh tư còn tối om om. Còn nói gì vịt gà, ông đã nuôi bao nhiêu bầy, tính toán cẩn thận cho đúng lứa vào ngày trọng đại này. Thật quả không sai về cái tánh lo xa truyền thống của nhà nông rặc nòi.

Mâm cỗ linh đình thịnh soạn. Kẻ ra người vào, chè chén thù tạt không dứt suốt ba ngày tiên thường, chánh giỗ và hậu thường. Đám trẻ nhỏ loắt choắt tha hồ rửa ruột, ganh đua nhau nói cười, chạy dỡn rậm đám lắm. Cơm chiều vừa dứt. Mấy bà mấy cô dọn giỗ còn hì hục tém dẹp, sắp đặt trong ngoài chuẩn bị sẵn sàng cho ngày hôm sau. Họ nôn nóng làm xong mọi việc để ráp nhau nghe đàn ca xướng hát bên phía chái nhà.

Nhưng chủ yếu đối với họ là được nhìn tận mặt hai danh ca Ba Bến Tre và Năm Cần Thơ mà trước nay họ chỉ nghe tên loáng thoáng đâu đó. Có bà khụm nụm chen lấn đến gần, nắm được tay các cô và chỉ bấy nhiêu đó cũng làm cho họ xúc động, nước mắt hoen tròng. Họ chẳng nói được gì nhiều ngoài mấy tiếng chơn quê:

- Các cô đẹp quá cỡ!

- Tôi thương các cô quá chời!

Thế thôi. Rồi họ quầy quả quay lưng bước chéo ra ngoài khoe với bà con dịp may hi hữu trong đời mình. Thỉnh thoảng, họ len lén đưa bàn tay lên để ngắm nhìn tường tận hơn, như có ý muốn hôn nó để tỏ lòng ngưỡng mộ mến yêu hai người nghệ sĩ hiếm hoi của đất Nam Kỳ. Hai ba đứa nhóc con tràn trạc tuổi nhau trong ban nấu nước pha trà, chân chạy không bén gót. Dù mỏi mệt nhưng chúng tỏ ra rất bằng lòng được tham gia ngày vuị Chúng được người lớn phân công lo châm thêm mấy bình trà đã khô cạn ở những sồng bài tứ sắc. Nơi đây bao nhiêu người có máu đỏ đen ngồi xem chung quanh, mặt mày nhợt nhạt như ma trơi dưới ánh đèn con cóc lù mù mờ ảo.

- nhà trước, nơi trang trọng, dưới ánh sáng lung linh liêu trai của mấy cây đèn dĩa, thỉnh thoảng ông Tư Dân lấy đũa tre nhấc tiêm vải nhú lên khỏi miệng dĩa hoặc thúc hối đám thanh niên châm thêm dầu. Nơi ván ngựa kế bên, dầy cả tất tây bóng láng mát lạnh, bà con trọng tuổi ngồi đấu chuyện tào lao nhưng không kém phần nghiêm chỉnh. Những câu chuyện dông dài bắt nguồn từ đủ thứ mọi sự việc mông lung, mơ hồ trên trời dưới đất rồi như không tránh khỏi cũng trở về quanh quẩn những lo âu canh cánh rất thực tế ở mỗi người về giá cả nhân công, mùa màng, lúa thóc.

Những lúc lóng nga lóng ngóng chờ đợi, thời gian dài dằn dặt, đôi khi như ngưng đọng hẳn. Nhưng khi chuyện trò vui vẻ, mạnh ai nấy nói, mạnh ai nấy cười, tự do thoải mái, thời khắc cứ bay vèo như gió.

Về khuya, thằng Hai Ri chớp được nửa trang nhựt trình cũ do một bà dùng gói quà từ Saigon Chợ Lớn về dự giỗ. Nó thái mái giở ra xem cho đỡ buồn ngủ. Ngồi bật ngửa ở ghế xích đu cổ lỗ xĩ, duỗi cẳng thoải mái, xích tới xích lui đong đưa cót két, nó lật qua lật lại đọc nhẩm một mình. Xem nó có vẻ trí thức lắm, giữa đám đông bà con nông dân quê mùa, quanh năm chân lấm tay bùn.

Ông Năm Hương cất lời:

- Thằng Hai! Mầy đọc cái giống gì ngấu nghiến mê man tàng tịch vậy? Tao coi bộ mầy thích thú lắm thì phải?

Hai Ri trả lời gọn hơ, đôi mắt vẫn không rời tờ báo:

- Tôi đọc báo ông Năm ơi!

- Đọc báo à? Chời! Chời! Ngon lành quá vậy! Hôm nay tao thấy mầy lên lắm đó! Mà báo gì thế? Thì đọc lớn cho bà con nghe ké với cho vui, biết thêm chuyện này chuyện nọ với người ta. Sao mầy hà tiện, kẹo tiếng tiếc lời như vậy! Hay mầy hụt hơi tắt tiếng rồi hả?

- 'i! Tôi đọc bậy bạ cho đỡ buồn ngủ mà ông Năm. Mình là nông dân không hà, chữ nghĩa đâu đủ mà đọc. Ông Năm bảo đọc lớn, không khéo có người hiểu lầm nói tôi khoe khoang hay chữ. Thật ra vốn liếng chữ nghĩa tôi tèm hem. Ông bảo dọc tội nghiệp tôi mà!

Hai Ri phân trần như để biện minh sự im lặng của mình:

- Nhà báo ở Saigon họ nhiều lời lắm chuyện như "thầy bói, bói ra ma", như "đàn bà quét nhà ra rác". Nói láo ăn tiền mà! Hơi đâu ông Năm nghẹ Câu chuyện lại cũ mèm. Nảy giờ tôi đọc toàn là chuyện thời "Ông Nhược ỉa cứt su" hay lúc ông vua Bảo Đại xứ mình còn nằm chỏng gọng ở truồng khóc hù hụ như thằng Cu Lớn của tôi.

- Bộ mầy tưởng tụi tao tỉnh lắm sao? Cũng nhờ ba chén trà đậm đặc, loại trà "Đỗ Chình Đỗ Hũ" gì đó ở Bảo Lộc, Lâm Đồng mà Bệ Hạ hết lời khen thơm ngon khét tiếng, không thôi tao đã rút dù từ "phia" rồi. Thằng Hai Ri với cái tên trặc trẹo nhưng ngồ ngộ của nó thường là đề tài ví von đùa vui không ác ý của bà con. - vùng đất mạt rệp từ đường, cách xa diệu vợi, không biết ông thân nó, bác Hai Đức, một lão nông cố cựu, nghĩ sao lại cao hứng đặt cho nó cái tên Tây sặc mùi phó mát rượu nho là "Hăn Ri". Ông lại ra Nhà Hội xin làm thủ tục, chánh thức vô sổ bộ đời đành rành.

Vào thời buổi cực thịnh của thực dân Tây Trắng Mã Tà, Tây Đen Tào Cáo, ông thân nó chắc hãnh diện lắm thì phải. Tội nghiệp một kiếp người quê mùa ít học, mơ ước cao xa trong khi ý thức của mình mù mờ còn hơn những buổi chiều xám sẫm mưa giăng mờ mịt tận chân trời xa.

Riêng Hai Ri, nó tỏ ra ngượng ngùng vô cùng. Tây gì mà hùn hục cày ruộng, đập lúa không ngừng tay. Ngày thì vậy đã đành. Đêm đêm nào yên giấc được. Thường xuyên phải thức trắng dờ canh cầu vó. Nếu không thì săn khúm núm ở gò hoang. Lỡ năm nào đóng trễ giấy thuế thân, làng xã hội tề xài xễ không tiếc lời.

Bà con gọi nó là thằng Ri, dễ gọi dễ nhớ thay vì cái tên dài sộc, lượm thượm " Thằng Hai Hăn Ri", thằng Tây da vàng xấu số, đầu đen mũi tẹt, rám nắng hôi trâu. Và nó rất bằng lòng sung sướng ra mặt với cái tên ngắn gọn đó.

Nó nể lời ông Năm cất tiếng đọc một đoạn nói về thế chiến thứ nhứt. Chữ nghĩa nó tròn trèm trình độ lớp dự bị mà bà con ở đây có thói quen khen tâng bốc nó hết lời như đã học xong lớp nhứt... ở trường làng vỏn vẹn có hai lớp. Thêm vào đó, đèn đuốc lem nhem phựt tối phựt sáng, báo hiệu tiêm lụn dầu cạn. Tờ báo lại nhăn nheo tưa rách. Nhiều chỗ bẩn dơ hoặc thủng mất từng lỗ to tướng.

Nó khổ công vuốt ngay ngắn thẳng thóm nhưng chữ đọc được, chữ lờ mờ, chữ mất mát, nó phải đoán mò vất vả lắm:

- "... Sau thế chiến thứ nhứt, nước Pháp... thua nhăn răng nước Đức... đã thực hiện tốt các điều khoản bồi thường chiến tranh...".

Thầy giáo Mạnh nghe qua giựt mình, nhíu mày. Ông Sáu Nà nhìn nó tròng trọc rất đỗi ngạc nhiên. Nhưng Hai Ri điềm nhiên không để ý đến. Nó nhịp đùi dợm đọc tiếp...

Thầy giáo ngắt lời:

- Hai! Đâu em đọc lại đoạn đó xem nào!

Thằng Hai Ri tỉnh bơ, lật đật lập y như nó vừa đọc khi nảy. Nó còn có vẻ tự tin hơn là khác. Mắt nó đã quen với những dòng chữ nhỏ hếu trên tờ nhựt trình. Thầy giáo Mạnh khẽ bảo nó trao tờ báo cho thầy xem quạ Xong, thầy phát biểu theo kiểu lầm lẫn có nguyên do chính đáng để thằng Hai Ri đỡ mất mặt với bà con:

- Tờ báo gì te tua quá cỡ! Chữ nghĩa lại nhạt nhòa gần hết. Thằng Hai, em lầm cũng phải lắm.

Rồi thầy giải thích:

- Sự thật như thế này: "... Sau thế chiến thứ nhứt, nước Pháp thừa nhận rằng nước Đức đã thực hiện tốt các điều khoản bồi thường chiến tranh...".

Cử tọa chưa kịp có phản ứng thì ông Năm Hương rất tế nhị, lanh lẹ nói:

- Hai ơi! Đâu mầy phóng tuốt xuống bếp lục tìm một dĩa thịt heo phay có lòng có dồi đầy đủ đem lên nhậu lai rai đỡ buồn ngủ. Sẵn trớn nhớ vói lấy một lít đế hay một xị cũng được, ông Vua Đường ổng để trên kệ vách. Mầy để ý cẩn thận nhé! Không khéo xẩy tay, cầm bằng cắt cổ tụi tao. Bợm nhậu thường nói "cắt cổ còn thua đổ rượu" đó. Mầy có nghe không Hai?

Nhứt định đêm nay có đông đủ bà con, anh em bạn bè, thêm có ông thầy giáo nữa, mình phải say mèm mới được. Đứa nào bỏ cuộc rút lui trước kể như từ đây cho nó nghỉ chơi luôn. Chơi như vậy thì chơi với ai?

Có phải vậy không Bệ Hạ?

Ông Tư Dân pha trò đúng lúc:

- Quả như vậy. Trẫm phán quần thần bá quan văn võ được rõ. Đứa nào không nhậu thì thôi mà đã chấp nhận ngồi vào đây nhậu với nhau thì phải nhậu tới chữ, phải say xỉn gục luôn tại chỗ mới được. Còn đứa nào thối thoát không nhậu thì không xứng đáng là bậc mày râu nhẵn nhụi ở xóm này. "Nam vô tửu như kỳ vô phong". Trai mà không rượu như cờ không có gió. Nuu vậy, đám này còn mang thêm tội khi quân. Trẫm truyền lệnh cận vệ quân đem ra xử trảm ngay lập tức...

Thù tạc dây dưa gần đến nửa khuya. Mấy sồng tứ sắc ở nhà sau thỉnh thoảng rùm lên nhờ cây bài "cúi qua" đúng lúc, tới 19/44 kéo chếnh, thêm chon đôi chon ba khỏe re. Báo hại bài của bà bạn đối diện bỗng dưng xuống nước thảm hại. Mặt mày bà nhăn nhó bí xị. Bà kêu trời như bọng.

Cánh cửa trước rên rĩ một tiếng kẹt... nặng nề. Hỏi ra mới biết bà Bảy Chẽo về nhà lấy thêm tiền đậu chếnh mới để gỡ. Thói thường ở sồng bài người ta kỵ nhứt là cho mượn tiền đậu chếnh. Họ tin dị đoan, sợ sẽ thua cháy túi.

- nhà trên, bàn rượu vẫn cầu cưa cầu nhầy bốc hơi men. Ông Năm Hương, lại cũng ông Năm nhiều điều lắm chuyện nhừa nhựa:

- Bệ Hạ (chỉ ông Tư Dân) ơi, thế gian thường nói chà lếch quá đâm ra lờn mặt. Đó là cách nói nơi chốn phong lưu sang trọng ở quận ở thành. Chớ ở xóm mình đây, có chà lếch mới thân tình. Vì có thương yêu quý trọng nhau nên người ta mới đến nhà mình chà lếch. Có phải vậy không Bệ Hạ? Cầm như người dưng nước lã, lạ hoắc lạ huơ, có ai vát mặt đến làm gì? Tụi nầy quá thương Bệ Hạ nên mới tới lui nấn ná giang ca cho vui.

Nốc tiếp một ly đế nghe tiếng tróc khô khan, ông Năm tiếp sau cái gật gù biểu đồng tình của ông Vua Đường:

- Thầy giáo đây cũng có cảm tình với Bệ Hạ lắm. Quý biết mấy. Thầy đến trấn nhậm ở làng mình là điều phước đức cho bầy trẻ, con cháu mình. Cái công khai thông vỡ lòng đó trọn đời bà con mình khắc cốt ghi tâm.

Ông hướng về phía thầy giáo:

- Mấy năm nay, chúng tôi lúc nào cũng kính mến trân quý, xem thầy như một phần tử ruột rà trong đại gia đình, vui buồn lúc nào cũng có nhau. Sống chết cùng ở cái xóm buồn tênh bất tận này. Tôi nói sự thật. Tôi không quá lời đâu. Mình biết cầu cứu với ai bây giờ và ai lại ưng vào đây mà cứu? Sự đùm bộc nương tựa nhau từng thể hiện đậm đà phải không thầy giáo? Nhưng thôi, bỏ qua chuyện đó đị Dát đát với nhau mãi cũng bằng thừa. Ngừng một lúc ông tiếp: - Thôi dô! Mời hết bà con nhé! Dô! Mỗi người đi dứt một lỵ Một hơi một ngon lành...

Ông dõng dạt lập lại:

- Trăm phần trăm dộ Thằng Hai Ri mầy đừng có mại hơi thối thoát nhé. Tuổi trẻ tài cao... Mầy làm sao coi cho được thôi. Tao tin ở mầy không làm mất mặt đám thanh niên xóm mình. Tụi nó lẩm rẩm mà ngon lành lắm. Đụng nhiều trận với làng bên hôm trong năm, chúng nó đều thắng vẻ vang. Hơn nữa, hôm nay là ngày vui của Bệ Hạ mà. Một năm đằng đẵng ba trăm sáu mươi lăm ngày mới có một lần. Năm nay có mặt tao, sang năm chắc đâu lại có. Vui lúc nào hay lúc nấy. Cứ lấy hiện tại làm hạnh phúc, làm niềm vuị Phải chụp lấy ngay thời cơ kẻo muộn rồi nuối tiếc hoài công.

Thầy giáo Mạnh cúp lời:

- Bác Năm nói nghe sao bi quan quá. Có ai dám nói bác già bao giờ đâu? Bác còn mạnh khoẻ, chẳng bà con nào ở đây sánh bì. Hàm răng bác xướt mía tây còn nghe rơm rớp mà!

- Tôi bên ngoài xem đường đường làu làu, ngày ngày quần quật nhưng buông ra đôi lúc nghe rêm bên trong. Tâm can tỳ phế thận gì cũng rệu hết rồi thầy giáo ơi! Hơi men làm mặt mày ông như ráng chiều lúc trời quang đảng. Ông bắt đầu gật gù:

- Mà nè! Hôm nay là ngày vui của "Hoàng Thượng" và ở đây thầy giáo lại thuộc hàng chữ nghĩa đầy bụng đầy bồ. Tôi muốn đố thầy để mua vui bà con đỡ buồn ngủ. Về chữ nghĩa, tôi lỏm bỏm đôi chút vốn liếng nhờ hồi nhỏ cha mẹ có cho thọ giáo sư cụ ở chùa nhà. Phần lễ giáo, lời nói thước ngọc khuôn vàng của thánh hiền, tôi cũng biết chút đỉnh. Biết vừa đủ để đi ăn giỗ như hôm nay, không đến đỗi phải thẹn thùng "dựa cột mà nghe". Tủi thân tủi phận lắm! Thầy thuộc lớp tân học, tôi không đố thầy ở lãnh vực Tứ Thư Ngũ Kinh đâu.

Ông Năm Hương có mòi đắc ý nên chúm chím cười:

- Truyện Lục Vân Tiên, Truyện Kiều, bà con ở đây người nào chẳng thuộc nằm lòng năm bảy câu, một hai đoạn bỏ túi làm vốn? Lắm khi văn chương chữ nghĩa sai trật hoặc thiếu trước hụt sau đọc lên nghe rất dễ thương làm sao. Thầy thì quá am tường rồi, lão thông chắc mẻm. Không biết ý kiến thầy ra sao, chớ riêng tôi, tôi thấy ở vào thời kỳ phong kiến cực thịnh, cái ông già Tiên Điền Nguyễn Du nhà mình lẩm rẩm là ông già tiến bộ quá cỡ thợ mộc. Ông đi trước thời đại ông ngàn vạn dặm. Ông bỏ xa người đồng thời không biết bao nhiêu trượng.

Ông nhìn cử tọa đang chăm chú theo dõi rồi vỗ đùi nghe cái bốp đắc ý, nói tiếp:

- Thầy giáo nghĩ xem. Trong khi thiên hạ nói bóng nói gió, cà kê xa gần, ngường ngượng khi đề cập đến những chuyện phòng the thầm kín, ông già lại dám bày cảnh nàng Kiều chồng nhộng đứng tắm, lộ nguyên "một tòa thiên nhiên" đẹp tuyệt trần, dù có che chắn mờ mờ ảo ảo đi nữa cũng đủ để khách yêu hoa ngắm nhìn ngẩn ngơ, quyến luyến rạo rực. Tôi thấy ổng bạo quá:

"Buồng the phải buổi thong dong
Thang lan rũ bức trướng hồng tắm hoa
Rõ màu trong đục trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên"...
Sẵn trớn, ông Năm thao thao:

- Bây giờ tôi đố thầy nha! Trong suốt cuộc đời trôi nổi, làm vợ người ta khắp bốn phương, ở lầu xanh, kể cả lúc chánh thức lấy Mã Giám Sanh, Thúc Kỳ Tâm và Từ Hải, Thúy Kiều có bị "tai nạn nghề nghiệp" lần nào không?

Mọi con mắt đều đồng loạt hướng thẳng về phía ông thầy giáo. Ông vẫn giữ nét mặt trầm tỉnh, ngồi bất động, câm như hến. Ông Năm Hương khoái chí cười toe làm cho mấy sợi râu còi ổng để tự do mọc loạn xạ cào cào châu chấu, ít khi thấy cắt tỉa vén khéo, cứ run run giựt giựt hai bên mép.

Hơi men câu thúc ông nhưng thói thường, người say nói năng khôn ngoan lịch sự lắm. Lễ nghĩa tôn ti khỏi ai sánh bằng, trừ khi quá xỉn, quất cần câu, phát ngôn bừa bãi thì đành chịu. Ông Năm Hương chưa đến mức độ đó nên không ai trong tiệc phiền hà gì ông được.

Ông chậm chậm nhắc đoạn Khuyển Ưng thừa lệnh gia đình họ Hoạn tức tốc qua tận Lâm Tri bắt cóc Thúy Kiều giải về Vô Tích:

- Thầy giáo nhớ lúc ấy Thúy Kiều ăn ở với Thúc Kỳ Tâm nồng nàn say đắm theo kiểu" "Gái quốc sắc, con sóng lượng - Trai anh hùng, chiếc thuyền trôi" đến đỗi thấu tai Hoạn Thự Họ Hoạn nổi máu ghen tuông lồng lộng, âm thầm bày mưu "làm cho đau đớn ê chề cho coi". Lúc đám lâu la gia nhân "gươm tuốt sáng lòa" xông vào bắt Thúy Kiều, Nguyễn Du thốt lên:

"Thất kinh, nàng chửa (chữa) biết là làm sao?"

Rồi ông thao thao giải thích:

- Thầy giáo thấy đó, Kiều đã "thất kinh", đang mang thai nên bối rối quá chừng chừng. Nàng không biết phải có thái độ chống trả và phản ứng xử sự nào trước nghịch cảnh đang ụp vào mình trong lúc lẻ loi, xót xa đơn chiếc!

Mọi người ôm bụng cười lăn chiêng thả ga, nước mắt ràn rụa. Thầy giáo Mạnh cũng không dằn được. Có tiếng thằng Hai Ri ong óng lên từ đầu ván ngựa:

- Chà, chà! Điệu này chắc ông Năm xỉn rồi sao? Ông diễn giải Truyện Kiều kiểu đó tai hại cho hậu thế biết dường nào! Thôi bà con phụ đưa ổng lên chơng tre, bỏ gối cho ổng nướng một giấc ngon lành đi.Tỉnh dậy ổng sẽ uống tiếp.

Ông Sáu Nà ngồi cạnh đó gạt ngang:

- Xỉn đâu mà xỉn. Bây nói bừa. Anh Năm còn sáng suốt quá chời. Tao nói mầy đừng giận nha Hai. Truyện Kiều hay những mẫu chuyện lên lề Truyện Kiều cũ mèm, còn xưa hơn trái đất, anh Năm ảnh thêm mắm dậm muối với một hậu ý. Mầy phải tìm hiểu cái hậu ý đó của ảnh mới được. - đây, ai mà không biết lối giải thích cà chớn ngang xương, trật họng trật hầu của ảnh. Tao thật tình rất tiếc. Chỉ có mỗi mình mầy đặt thành vấn đề quan trọng, nghiêm túc mà thôi.

Ngừng một giây, ông tiếp:

- Hai à! Mầy mãn lo mà ốm. Tao thương mầy quá chừng chừng. Thương ở đây là thương hại mầy biết không?! Mầy nghĩ kỹ coị Bầy trẻ sau nầy, con cái mầy, cháu chắc tao... mà mầy vừa gọi một cách văn vẻ hoa hoè là "hậu thế" đó, tụi nó khôn ngoan trật đời. Khoa học ngày nay tiến nhanh vù vù, con người không sao theo kịp đà đó. Hồi tao còn nhỏ, ngơ ngáo cù lần lửa quá cỡ. Nhưng bây giờ tao thấy sự hiểu biết của bầy trẻ vượt bực. Tụi nó đâu có ngu ngơ khờ khạo, nhắm mắt tin lời một ông già ở làng quê hẻo lánh. Nếu tụi nó còn có lòng với văn chương văn hóa gì đó... tụi nó sẽ tìm hiểu nơi những nhà nghiên cứu uyên thâm, những học giả cao kiến có công trình in ấn trình làng một cách trang trọng nghiêm túc. Tao nói thiệt tình, mầy đừng buồn nghe Hai. Thói thường lời ngay hay mếch lòng lắm nhưng tao nghĩ mầy không đến đỗi như vậy đâu.

Ông Sáu Nà lại cười mỉm pha trò:

- Hay là mầy lợi dụng hai chữ hậu thế, ngầm cho rằng mình thuộc hàng thượng thế, thượng đẳng, thượng tầng hay thượng... chi chi để lên lớp bà con thất học ở đây?

Ông Năm Hương vẫn im lặng không dám góp ý thêm để giữ tình đoàn kết thuận thảo trong đêm vuị Đến khi gia chủ, ông Vua Đường khệ nệ cầm nhạo rượu thúc hối mọi người nốc cạn ly đế của mình. Ông cố ý chấm dứt bầu không khí có cơ sẽ căng thẳng trầm trọng thêm.

***

Không phải cuộc họp mặt nào cũng giúp thầy giáo Mạnh đạt kết quả mình mong muốn. Như hôm đám giỗ ở nhà ông Vua Đường vừa qua, kể như thầy đi không về rồi, coi như trớt quớt.

Nhưng thầy không nản lòng. Trái lại, thầy càng thêm trì chí, nhẫn nại. Và sự nhẫn nại trì chí đó giúp thầy ghi chép tay khá bộn bàng bấy nay. Kiểm điểm cũng được năm bảy tập học trò một trăm trang dày cui với chữ viết nhỏ rích, sửa chữa thêm bớt nhiều câu nhiều đoạn lăng nhăng lít nhít. Giá có trao cho người khác đọc chắc chắn họ không sao mò đọc cho xuôi.

Thầy rất bằng lòng và hãnh diện làm cái việc tốn mất nhiều thì giờ và công sức, ít ai quan tâm để ý tới. Thầy say mê tìm tòi, hỏi han, tra cứu tại chỗ. Thầy thường bảo mình đi tìm, khám phá để bảo tồn văn hóa dân gian, tuy đơn sơ mộc mạc nhưng ý tứ thâm trầm sâu rộng. Thầy cũng hay nói, ở đời mỗi người phải có một đam mệ Sống đam mê là một hạnh phúc vô biên cương, vô giới hạn của một kiếp người. Thầy quả thực đang sống trong đam mê, trong việc sưu tầm văn chương văn hóa bình dân. Và thầy rất mừng vì ngọn lửa đam mê đang bừng cháy hừng hực và liên tục trong trái tim mình có chiều hướng thượng.

Thầy ưu tư, canh cánh trong lòng một mối âu lo đeo đuổi ám ảnh thầy mãi. Nếu không có người thiện chí gia công tích cực đúng mức thì những thổ ngữ, câu hát điệu hò dân tộc đầy thần sắc, cái vốn liếng trí tuệ, cái gia sản vừa tập thể vừa vô danh của lớp người xưa đôn hậu và sáng tạo, từ mấy trăm năm về trước ở vùng đất khẩn hoang này rồi đây sẽ mai một với thời gian. Chắc chắn, qua những biến thiên dâu bể, sẽ không còn ai nhớ tới nữa.

Sự tàn lụn dần dà vô ý thức đó đáng tiếc và đáng trách vô cùng. Đáng tiếc và đáng trách vì thầy cho rằng tất cả đó đều là những hạt ngọc thô phải gìn giữ bằng mọi giá để những thế hệ mai sau sẽ tiếp sức mài dũa, nghiên cứu tìm hiểu về quá khứ dân tộc, về sức mạnh và công trình xây dựng của tiền nhân... Được vậy, họ mới trang điểm cuộc đời thêm thú vị và có ý nghĩa hơn.

Công khó của thầy rất được dân làng tán dương ủng hộ và tích cực đóng góp tiếp tay trong phạm vi có thể của họ. Cùng một câu hát ở xóm này vừa ghi xong, thầy còn bỏ công lặn lội lần mò đến xóm khác, làng khác ghi chú những sai biệt dù là một hai chữ hay một đoạn trong câu.

Thầy thường tâm sự, có người thiển cận cứ vớ được một câu hát, một bài hát ở địa phương này cho là đúng rồi hời hợt phê phán để kết luận rằng những bài hát, những câu hát tương tợ ở địa phương khác là sai. Trong khi chẳng một ai nắm được căn cơ đích xác cả.

Những bài hát ru em, ca dao, phong dao... đều được truyền tụng tự trong tiềm thức gia đình, tộc họ hay tự trong ký ức tập thể của xóm làng. Do vậy, thầy cho rằng những sai biệt bắt gặp đó đây là điều đương nhiên dễ hiểu, không thể nào tránh khỏi. Đôi khi nó thay đổi, biến chuyển theo cảm quan và hoàn cảnh của mỗi địa phương.

Thầy lân la thường đến nhà ông Hai Khoẻ, người nông dân thuộc hàng cố cựu còn sót trong xóm, xem như bậc thổ công, chứng nhân một thời. Hang cùng ngõ hẹp, ao hồ đầm vũng, sông rạch kinh mương, đất đai gò nổng... nào có lạ gì đối với ông. Đến những tích xưa chuyện cũ, quá trình hình thành thôn xóm, từ những nhóm người đầu tiên phiêu lưu đến đây dốc tâm cải tạo đất đai hoang vu, ông đều biết ngọn nguồn rạch ròi.

Thầy giáo Mạnh như người đi giữa sa mạc oi nồng, nóng bức cháy thịt bỏng da đang thèm khát, bỗng dưng gặp được mạch nước mát cứu tinh. Thầy đến đàm đạo, phát hiện những chi tiết độc đáo đáng ghi hoặc nêu lên những thắc mắc nhờ ông Hai giải đáp tận tường. Mỗi lần đến ông Hai, thầy đều thành công mãn nguyện. Chẳng những thầy được tiếp đón niềm nở, trọng hậu mà tập ghi chép của thầy cũng tăng thêm được vài trang ưng ý.

Nhiều khi thầy đùa bảo với những người chung quanh, ông Hai quả là một kho tàng sống, một thư viện quý hiếm ẩn tàng ít người biết tới. Thầy còn đi xa hơn trong sự ngưỡng mộ ông Hai. Vì thầy đánh giá những tài liệu thu lượm đưọc ở ông so với những trân châu ngọc ngà, kim cương đá quý mà bàn dân thiên hạ lục đục thường tình tranh đua nhau đâm chém giành giựt để chiếm đoạt làm sở hữu riêng, không sao sánh bằng. Thầy rất thành thật. Thầy không tâng bốc quá lời. Vì thầy đã nhận thức đúng mức thang giá trị tinh thần của nó.

Thầy tâm đắc nhứt khi được ông Hai giải đáp cặn kẽ mạch lạc, có chứng có tích minh bạch, lúc thầy nêu những thắc mắc, những hoài nghi:

- Bác Hai có để ý không? - xóm mình, những địa danh mang chữ "Bà" rất phổ cập. Tôi thử kể sơ sơ từ đầu làng đến cuối xóm. Nào bưng Bà Mụ, ao Bà Vãi, voi Bà Niểng, ấp Bà Lác, gò Bà Sún... Toàn là "Bà", không thấy có chữ "Ông". Dĩ nhiên, ngoài cây cầu Ông Hiệu mà tôi biết do ông Nguyễn Văn Hiệu, một hào phú trong xóm lúc gần đất xa trời, phát nguyện làm việc thiện. Ông bỏ tiền ra mua gỗ ván, thuê mướn nhân công thiện nghệ ở làng bên, trông coi xây cất. Do vậy, dân làng lấy tên ông đặt cho cây cầu duy nhứt đó để đời sau mãi mãi tưởng nhớ công đức của ông.

Ông Hai trầm ngâm suy nghĩ. Ông lặng yên khá lâu, thoáng hiện một nét buồn nơi đáy mắt khi ông vọng tưởng dĩ vãng xa xưa:

- Quả đúng như vậy thầy giáo à! Thầy hỏi thì tôi mới nói, chớ bà con ở đây đã quen miệng quen tai từ lâu rồi. Có ai để ý đến làm chi. Vả lại, thời giờ đâu rỗi rãi mà để ý tới. Họ làm lụng vất vả, áo quần chưa lúc nào khộ Nhiều khi chiều tối đem treo ở vách buồng, hừng sáng lúc còn tối om, quờ quạng mặc lại còn ĩ òm. Cái tiếng "Bà" ở xóm mình quả nhì nhằn dông dài lắm.

Thật vậy. Xuất xứ của nó đôi khi éo le trắc trở nhưng rốt ráo gắn liền với dấu chân phiêu lưu, với lịch sử phát triển vương lên của vùng đất mới tinh nguyên này, nơi tuổi trẻ của ông Hai Khỏe từng mòn gót dầm mưa dãi nắng.

Có tiếng con chó Cò sủa hướng về đầu ngõ. Ông Hai đưa mắt nhìn về phía trước sân. Ông chẳng thấy động tịnh chi cả nên tiếp tục trở lại câu chuyện vừa dứt ngang:

- Con Cò hồn vía nó để ở đâu, sủa bậy sủa bạ. Có ai đâu mà sủa? Hư đốn! Đáng đánh đòn.

Ông nhìn thầy giáo Mạnh như có ý đính chánh:

- Nó làm hùm làm hổ như vậy cho bầy trẻ sợ, chớ thật tình nó còn hiền hơn tôi nữa. Thôi để tôi trở lại câu chuyện, kể vắn tắt thầy nghe chớ nếu đi sâu vào chi tiết từng địa danh, từng trường hợp thì năm tháng nào mới dứt.

Giọng ông bắt đầu trang nghiêm:

- Cái bưng Bà Mụ, ở dốc cầu Ông Hiệu, quả là cái bưng bà Mụ Khánh mua lại của Hương Bộ Giá hồi kinh tế khủng hoảng trầm trọng. Bà Hai Khánh là Mụ Trời nhưng mát tay. Đám trẻ xóm này chẳng mống nào thoát khỏi bàn tay điêu luyện phúc lành của bà. Cái bưng đó tốt lắm. Năm nào cũng trúng lớn. Nó chiếm cả một vùng đất trũng, hứng trọn cá tôm vào mùa khộ Ai ai cũng thèm thuồng không ngớt trầm trồ.

Ông nói tiếp ngon trớn trong khi thầy giáo Mạnh ghi chép vội vàng, nhanh lẹ như đàn bà lặt cải lặt rau tập tàng lúc hấp tấp nấu cơm chiều, sau một ngày dài làm việc túi bụi không ngừng nghỉ ngoài đồng vắng:

- Về cái ao Bà Vãi, sự tích vòng vo hơn. Tình tiết còn trắc trở éo le nhiều. Bà thuộc kiếng họ Lý, cơ ngơi ở đầu xóm kia kìa. Gia đình phong lưu hào phóng nhưng buồn duyên phận, tình yêu môn đăng hộ đối chênh lệch sao đó nên thí phát qui ỵ Thật đúng như lời than thở uất nghẹn trong các câu ca dao ở xóm mình còn truyền tụng:

..."Dòng nước chảy xuôi
Con cá buôi lội ngược
Dòng nước chảy ngược
Con cá nược rượt theo
Hai đứa ta chẳng quản giàu nghèo
Ngặt vì cha mẹ cứ theo cựu truyền"...
..."Cây đa trốc gốc, thợ mộc đang cưa
Đôi đứa ta, đi ra cũng xứng, đứng lại cũng vừa
Bởi cha với mẹ kén lừa suôi gia
Cha mẹ bên anh kén dâu gia thế
Cha mẹ bên em kén rể đông sàng
Lãnh Tố Tây đơm bộ nút vàng
Lôi thôi tiếng nói hai đàng xa nhau"...
Sau bà thừa hưởng gia tài của cha mẹ quá vãng lại hiếm con. Phần lớn bà cúng dường nhà chùa, còn lại phát tâm làm điều công ích, giúp đỡ xóm làng, bà con khốn khó. Chính bà cho đào cái ao để dân trong xóm có nước ngọt uống quanh năm. Nhứt là vào mùa khô hạn hán, đất đai nứt nẻ khô cằn, ngóng trông ông Trời gầm gừ chuyển mưa thiếu điều hụt hơi. Nhiều làng kế cận cũng đâm xuồng qua đây chở nước ao tấp nập lắm.

Ông rít một hơi thuốc dài rồi tâm sự:

- Còn voi Bà Niểng, tôi biết rất rành mạch. Lúc ấy, tôi còn nhỏ hay theo ông nội tôi bơi ghe qua voi. Ông tôi thường khuyên tôi bám chặt vào thành ghe, nhắm nghiền đôi mắt lại ngồi im bất động. Ông bơi rất thận trọng và càng thận trọng hơn ở những nơi quắn xoáy sâu hút, lúc nước ròng chảy như cắt, lôi cuốn từng dề lục bình phong phóng tới trước như những lực sĩ ở tỉnh thành chạy đua đường trường tranh giải nhứt.

Ông đằng hắng rồi khe khẽ:

- Tôi ngừng ở đây một ít phút để tâm sự với thầy một thoáng tâm tư đang lướt qua trong trí nhớ về hình ảnh sinh động ấy của ông tôi. Hồi đó, tôi cứ bám níu, ghì cứng vào be chiếc xuồng ba lá thon thon gọn gàng của ông một cách máy móc, như một phản xạ tự nhiên của con người trước hiểm nguỵ Tôi nào có nghĩ gì khác hơn là mong cho chiếc xuồng phon phon mau đến bờ bến bên kiạ Tai tôi cứ lắng nghe be xuồng cọ vào mấy dề lục bình trôi dạt vào biền để vui mừng khi mũi xuồng chạm đất liền. Tôi nói thầy đừng cười. Hồi đó, mấy con chàng hiu, ảnh ương xanh xanh màu lá chuối non, ngồi bất động trên mấy dề lục bình đó cứ giương đôi mắt nhìn tôi trân tráo. Chắc chúng nó đang cười thầm tôi chớ gì!

Ông như sống lại phút giây nhẹ nhõm của tổi ấu thơ:

- Thầy biết không? Tôi mừng hết lớn vì được phóng lên bờ chạy nhảy, bù lại những giây phút bó gối ngồi ở khoan xuồng, tê cả hai chân. Nhưng mãi lâu lắm về sau, lúc trưởng thành, ông tôi không còn nữa. Một mình tôi trôi nổi, bon chen trong cuộc đời thăng trầm thượng vàng hạ cám. Tôi mới tiếc nhưng đã muộn, tôi không còn có chiếc xuồng ngày xưa để bám chặt vào, với ông tôi chèo chống bằng cả một tấm lòng thương yêu bảo bọc. Bao nhiêu năm dài trên dòng sông cuộc đời quá ư nghiệt ngã với tuổi tác chất chồng mệt mỏi, tôi càng thấm thía hơn khi ngoái nhìn những nguy hiểm trải quạ Tôi chỉ thấy duy nhứt có mỗi một mình mình bập bủm trầy trật, chống chèo phấn đấu để sống còn. Nhiều lúc, tôi cố gắng kềm hãm những xúc động của lòng mình về hình ảnh ông tôi ngày nào. Những hình ảnh trân quý ấy cứ dằn co thúc ép, tựa hồ như muốn trào vọt ra ngoài.

Nhưng những kỷ niệm chôn vùi bao nhiêu năm qua trong ký ức tôi, nay bỗng dung lại được đào xới nhắc nhớ, khiến cho đôi môi tôi luôn mấp máy không thành lời. Dường như lúc ôn cố này,tôi đang gọi thầm người xưa vậy.

Ngừng một đổi khá lâu để hóa giải những xúc động đang dâng cao chót vót trong lòng, ông trở lại câu chuyện. Lần này với một giọng không kém trầm buồn ngăn ngắt:

- Riêng Bà Niểng, con người cần cù, lúc trẻ có tật trệ một bên vai, chìm xuồng lúa chết đuối ở đây. Hồi đó, tôi có chạy đến xem khi nghe bà con chòm xóm tri hô inh ỏi, rùm trời rùm đất. Tôi chứng kiến cảnh thiên hạ đánh mõ hồi một, kêu la thất thanh, tận tình tìm kiếm, lặn mò cứu vớt. Đến khi đem bà lên được thì đã quá muộn rồi. Xác bà đã cóng lạnh tái mét, tuy vẫn mềm nhũn nhưng không còn kịp nữa. Ông trùm Hưng, nhà liên ranh với bà, hối hả chạy đến chỉ kịp xốc bà lên trong lặng lẽ âm thầm... Từ dạo đó, người ta gọi cái voi là voi nơi Bà Niểng chết chìm. Rồi dần dần, người ta rút ngắn gọn lại thành voi Bà Niểng.

Giọng ông Hai thêm trầm buồn khi hồi nhớ quảng đời son trẻ của ông lãng đãng bao nhiêu hình ảnh thân thương. Nay ông cố gợi lại trong ngăn ngách tâm thức mình:

- Về cái ấp mang tên Bà Lác thì như thế này. Người đời sau đơn giản cứ tưởng ở cái ấp đó có một bà mắc phải bịnh lác theo kiểu "lác khô đi trước, lác ướt đi sau, hai lác gặp nhau, gải thôi là gải". Sự thực không phải như vậy đâu. - đó, trước kia có một cái bàu lớn lắm, lác mọc dầy mịt. Ai cắc cớ chun vô đó rồi đố Trời mà kiếm. Đất mới, phân phướng phì nhiêu, lác phất lên rất tốt, thân to lại dài. Lúc đầu, dân tình không bao nhiêu. Vài tháng trước Tết, họ đến cắt một ít đem về phơi dôn dốt rồi chẻ làm dây dùng gói bánh tét hay gói nem hỉ hạ ba ngày xuân. Về sau, thấy dây lác đem ra chợ làng Phước Lợi, Gò Đen hay chợ quận Bến Lức bán có giá, nhiều người tranh mua sĩ bán lại lấy lời. Họ sống được lắm nên khá đông gia đình kéo nhau đến cất nhà chung quanh bàu. Họ khai thác nguồn lợi thiên nhiên này, không cần đến vốn liếng. Bây giờ, cái bàu đã cạn theo định luật "thương hải tang điền". Nhà cửa thêm đông đúc, thôn ấp trở nên sung túc thạnh mậu.

Ông xác quyết chắt nịt:

- Nhưng có điều thầy nên ghi kỹ là "Bàu Lác" được dân tình ở đây đọc trài trại ra "Bà Lác". Thầy giáo có lạ gì. Bà con mình phần thì dốt chữ hay chữ nghĩa lem nhem, phần thì ít chịu khó tìm tòi nên việc nói trại đọc trại là chuyện thường. Hơn nữa, họ lại dễ dãi chấp nhận. Thầy nghĩ coi, thành ngữ "tâm sầu bạch phát", họ diễn tả là "tam xào bạch xác". Ấy vậy mà mọi người đều hiểu ý nghĩa của nó. Bàu Lác cũng như Bàu Cá, Bàu Sún, Bàu Sen... không hiếm gì ở xóm mình. Mấy cái bàu ấy lần hồi trở thành ruộng lúa do nông dân lấn chiếm hằng năm, mỗi năm một chút, đôi ba đường cày. Như xóm Bàu Lác thầy nhắc nhớ đâu còn vết tích cái bàu lác hoang vu rậm rì của thuở ban đầu nên người đời sau dễ lầm lẫn lắm. Nhưng nếu thầy để ý sẽ thấy hiện vẫn còn nhiều lác mọc ven rạch. Nhưng bây giờ, dây lác không sao cạnh tranh nổi với các loại nhợ sản xuất theo kỹ thuật mới. Một điều chắc chắn là làm gì có "Bà Lác" ở đây và bà cũng chẳng có một nét đặc sắc nào để được lưu danh hậu thế. Thầy nghĩ có phải vậy không? Thầy thấy đó, chỉ mới đây thôi, chưa tròn một đời người mà có những nhầm lẫn tai hại như vậy. Lâu về sau còn như thế nào đây?

*

Giữa thầy giáo Mạnh và ông Hai Khoẻ dần dà có mối dây liên hệ ngày càng chặt chẽ thân tình. Thầy giáo lân la nhà ông Hai như người ruột rà trong tộc họ. Những hôm cuối tuần hay lễ lớn, sự có mặt thường xuyên của thầy không làm gia đình ông Hai ngạc nhiên mấy. Trái lại, họ xem như một thói quen thích thú.

Thầy giáo không phải lúc nào muốn về thăm quê hương Bà Rịa cũng được. Mùa mưa, kể như không đặt thành vấn đề. Nước nổi mênh mông. Đồng không trắng lóa một màu nước bạc. Mọi người đều bó gối ngồi nhà uống trà đấu chuyện tào lao vô tích sự trên Trời dưới Đất.

Mùa nắng vẫn trắc trở nhiêu khệ Xe bò, xe trâu, cộ trâu, vốn hiếm hoi lại bị nông dân trưng dụng tập trung vào việc gặt hái. Thầy bị cột chưn cột cẳng ở đây. Thầy chỉ còn một chút an ủi tinh thần là nhìn thấy mấy tập vở ghi chép tài liệu của mình ngày càng nhiều thêm, chất ngang chất dọc trên bàn giấy hay kệ vách. Còn nói chi những mảnh giấy rời nho nhỏ thầy dùng ghi lúc vội vàng, không biết cơ man nào kể xiết. Nó nhiều đến đỗi thầy không nhớ hết để chép sạch sẽ vào tập tài liệu, tránh thất thoát. Với bà con phụ huynh học sinh, thầy chỉ vào đó bảo là tài sản của thầy chỉ có bấy nhiêu ấy.

Thầy giáo "chà lết, lờn mặt" ở nhà ông Hai Khoẻ khiến một vài bà xấu mồm xấu miệng bắt đầu ví von nhiều điều lắm chuyện. Nhưng bà Hai Khoẻ bực mình hơn hết về mấy lời thá ví sâu độc đã thấu tai bà:

- Ông bà Hai nên sớm mua than đước U Minh, Năm Căn chuẩn bị là vừa!

Bà Hai giựt mình. Bà chợt nhớ ở ngoài đời thường có những bà ăn nói tài ba khéo léo, quanh co cân nhắc, lôi cuốn ngọt xớt, nhưng phải quan tâm để ý tìm hiểu vì họ dùng một lời hai ba tứ. Lời nói của họ có nhiều ẩn ý... Đến lúc đó, bà mới biết thiên hạ xa gần nhắc ông bà không khéo thầy giáo Mạnh có ngày phải lòng và lẹo tẹo với cô Lành, con gái út, con gái cưng của ông bà. Cô đang ở tuổi cặp kê mộng mợ Mà ở tuổi đó, chỉ có Ông Trời mới biết đích xác nội dung mơ mộng của cô. Mà thật vậy. "Lửa gần rơm lâu ngày bắt bén". Kinh nghiệm đã cho thấy như vậy tự ngàn xưa chớ có mới mẻ gì! Hai người gần đây đã để ý nhau qua những cái nhìn tình tứ vụng trộm hay những câu nói bóng gió bỏ lửng trước chỗ đông người.

Mỗi lần thầy giáo đến hầu chuyện với ông Hai, cô Út Lành viện cớ này cớ nọ phơi hình bẹo dạng, gây sự chú ý của thầy giáo. Và cũng để có cơ hội nhìn chéo nơi khoé mắt, dưới vành nón lá hoa, người đàn ông độc thân ăn nói lịch sự, có ngần có lớp, vừa dễ thương vừa có chức phận.

Ngày thường, cô cày lúa trước sân nhà, xuôi ngược ngược xuôi trên mấy tấm đệm nối sát vào nhau rộng thênh thang. Nhưng hôm nay, có sự hiện diện của thầy giáo, dường như cô không vừa ý với những luống cày xẻ dọc chẻ ngang do đôi bàn chân nhịp nhàng của cô tạo rạ Cô nấn ná ở sân phơi lúa lâu hơn, tỏ ra ngây thơ chí thú với việc làm. Nào ai biết trong lòng cô rộn rả một tình cảm xao xuyến lâng lâng theo nhịp tim và hơi thở của cô.

Có hôm, cô xăn quần đến gối, tay áo vén ngược bó sát cườm tay, nhún nhảy trên cây cầu khỉ bắt ngang mương bên hông nhà. Cô xách nước tưới mấy luống rau xanh, mấy liếp ớt hiểm và ba bốn gốc bầu trái rộ, thòng xuống giàn tre như thạch nhũ. Cô kéo dài thời giờ, tưới không biết mệt

Thầy giáo Mạnh cũng không dấu được cảm tình đặc biệt của thầy đối với cô Út. Tuần nào không đến được nhà ông Hai, thầy thấy khó chịu. Trong lòng thầy hẳn nhiên thiếu vắng một cái gì không nói được nên lới. Dù có ai mời mọc, thầy gượng vui gượng cười chấp nhận chớ trong thâm tâm thầy giờ đây có một khoảng trống không lạnh lùng, không cách nào bù đắp được.

Đôi lúc hầu chuyện với ông Hai, thầy đâm ra lơ đễnh. Mỗi khi ông Hai để ý nhắc khéo, thầy bẽn lẽn thẹn thùng, đỏ mặt tía tai. Thầy đang sống trong tưởng tượng, trong mơ hồ. Thầy đang thả hồn phiêu du trong mộng mơ.

Bà Hai Khoẻ tự ái vì lời ra tiếng vào vướng mắc một chút ganh tị của một vài bà con nên cằn nhằn cẳn nhẳn ông chồng. Bà qui tội ông Hai nhiều điều lắm chuyện, bày đặt nọ kia, nên bây giờ mới đem họa vào nhà. Bà hứ một tiếng nghe như nỗi xót xa bất bình của bà đang trào vọt ra ngoài:

- Chuyện trong cửa trong nhà chưa tỏ mà ngoài ngõ đã hay biết tùm lum!

Ông Hai trái lại tỉnh queo. Ông điềm nhiên ngồi uống trà Thiết Quan Âm, ăn bánh in Bổn Lập rồi nhìn mấy con chim se sẻ đang chùm nhum chúi đầu đập cánh liên hồi, sung sướng hạnh phúc lắm khi được tắm nơi cái nắp lu vú bể đầy nước mưa vào buổi trưa nóng bức.

Ông khề khà:

- Tụi nó đều là trai gái mới lớn lên cả. Chúng có tình có ý với nhau cũng là chuyện thường. Chuyện thế gian của trăm năm ngàn năm trước đó bà. Nếu chúng phải duyên phải nợ cũng chẳng có sao. Con Út lớn đại rồi. Bà không thấy thể xác của nó? Hăm mươi mấy tuổi chớ bộ ít ỏi lắm à. - cái tuổi hâm tới hâm lui, hâm xuôi hâm ngược đó, lòng tôi không yên mấy. Nhìn nó, bà không thấy rầu sao?

Ông nhìn vợ âu yếm như muốn được cảm thông và chia xẻ:

- Tôi thì lo lắm. Tôi sợ thấu trời. Lo sợ nhưng để trong lòng, bấm bụng chịu đựng. Chẳng lẽ việc gì mình cũng thố lộ bọc bạch ra ngoài cả? Tánh đàn ông là như vậy. Rủi con Út làm điều xằng bậy tai tiếng, tổn thương đến gia phong danh giá nhà mình, a thần phù té nhằm một người có gia đình, có vợ con đùm đề nheo nhóc. Đó mới là đại họa cho tông tộc dòng họ mình. Lúc đó, người ta đàm tiếu soi bói mới đáng sợ. Bà nán chờ. Đừng có làm ồn lên hư việc. Vì có hốt hoảng làm ồn cũng chẳng ai vào gỡ rối cho mình được đâu! Thủng thẳng tôi theo dõi xem sao. Việc đâu còn có đó. Bà Hai tỏ vẻ như thách thức:

- Ông liệu mà lo. Tôi giao đứt tương lai nó cho ông đấy. Ông khỏi nói dông dài chi cả. Từ nay, ông có đầy đủ toàn quyền, xem như tôi đã chết từ lâu. Sau này, ông khỏi đổ thừa qua đổ thừa lại, phiền phức nhức đầu lắm. Con Út là gái, nó tùy thuộc vào cái đức của ông đó!...

Từ dạo ấy, bà Hai ngấm ngầm quan tâm để ý đến cô Út nhiều hơn trước. Bà nhận thấy tính tình cô quả nhiên có nhiều thay đổi quan trọng. Cô rất yêu đời, lúc nào cũng tươi cười như hoa nở. Cô lăn xăn líu xíu, đứng ngồi không yên mỗi khi có ông thầy giáo ghé nhà.

Trưa trưa,

Truyện-Người Việt

Story Options