|
Contributed by: Admin |
Views: 8.434
Nguyễn Huệ Nhật
Sau khi ở tù CS về, tôi nhận lời mời của ông Đỗ Trung
Hiếu và Võ Đình Cường vào làm việc cho tờ báo Giác
Ngộ. Cùng lúc đó bà Sáu Thảo, một tay trùm công an chìm
(cấp trên của vợ tôi sau này, cấp dưới Mai Chí Thọ)
mời tôi làm công tác vận động Phật Giáo Yêu Nước,
nghĩa là làm công an chìm theo dõi Phật Giáo.
Báo Giác Ngộ có các nhân vật trụ cột như Đỗ Trung
Hiếu là biên ủy lãnh đạo chính trị. Võ Đình Cường là
trí thức phật giáo. Tống Hồ Cầm là trí thức yêu
nước. Nguyễn Văn Hàm nguyên là dân biểu Quảng Ngãi làm
điệp báo K 25 của Trần Bạch Đằng và Sáu Chiến, được
điều khiển từ trong chiến khu, gọi là lực lượng nội
thành trước 30/4/1975, được xem là thành phần của chính
phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN lưu lại.
Tăng Quang Tuyền, người của Thành Đoàn (tự nhận là đã
tham gia vụ ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông) làm công tác
an ninh. Chị Lan, vợ của Tăng Quang Tuyền làm thư ký văn
phòng tòa soạn báo Giác Ngộ. Trong số đó có hai người
không hẳn là VC hoàn toàn, nhưng vì muốn yên thân giữa
thời cuộc nhiểu nhương, đồng thời có thể tương kế
tựu kế để làm một cái gì cho Đạo Pháp như cách của
Hòa Thượng Trí Thủ. Hai người nầy tôi quen riêng, đó
là Tống Hồ Cầm và Võ Đình Cường. (Trước khi bà M
trở thành vợ tôi, bà cũng biết tất cả những người
nầy).
Đôi lúc tôi cảm thấy may mắn được tiếp xúc với VC
mới có thể hiểu VC nhanh hơn, nhưng tôi không cảm thấy
thú vị chút nào khi làm việc với họ. Tôi thích đứng
ngoài để được tự do và tránh tội ác an ninh chính
trị. Dầu vậy, tôi không muốn để cho họ biết thái độ
chính trị của tôi là đứng ngoài chế độ ấy. CS xem
bất cứ ai đứng ngoài chế độ của họ là kẻ thù nguy
hiểm. Trước khi bị bắt, tôi hăng hái làm việc với
Đỗ Trung Hiếu, được bí thư Đoàn là Tăng Quang Tuyền
xây dựng lên đoàn viên để chuẩn bị vào đảng, nhưng
tôi thích làm việc mà không thích vào Đoàn vào Đảng.
Họ ngạc nhiên về thái độ tự do phóng khoáng của tôi,
vì ai cũng mong vào Đoàn vào Đảng, còn tôi không chịu
vào. Mỗi buổi tối, sau khi làm việc với Ban Liên Lạc
Phật Giáo Yêu Nước tại số 32 Phùng Khắc Khoan Q I, tôi
mở đài BBC nghe tự nhiên. Nhờ có người nói nhỏ cho tôi
biết là "cấp trên đang quan tâm", tôi hơi sợ và do đó
hạn chế nghe đài BBC công khai. Người đó là một sĩ quan
cấp uý của quân lực VNCH. Gia đình anh ấy có người tham
gia CS. Anh được bảo lãnh vào cơ quan Phật Giáo Yêu
Nước để tạm nương thân. Anh ta rất tế nhị, khôn khéo,
nhưng sau đó bị đi học tập và tôi mất liên lạc hoàn
toàn.
Tôi đã tự đặt mình vào tình thế nguy hiểm, nhưng may
mắn thoát nạn nhiều lần với cái tính ngây thơ ngờ
nghệch nông nổi của tôi. Trong khi CS hy vọng rằng có thể
sử dụng tôi trong một mức độ nào đó, hoặc ít nhất,
họ cũng phải hiểu cho bằng được "tôi là ai". Căn cứ
vào quá khứ tự thiêu của tôi, họ có thể tin phần nào
về niềm tin tôn giáo của tôi. Nhưng cuối cùng tính "ngây
thơ" của tôi tự nhiên đến nổi họ không thể nắm tôi
được, do đó sự kiện họ bắt tôi là có mục đích. Họ
cũng cần theo dõi cả nhóm bạn bè chơi thân với tôi đang
ở ngay trong nhà Tân Thuận, vì chúng tụ tập đàn ca hát
xướng ngày đêm trong nhà tôi. Đêm đầu tiên bị tạm giam
tại Tân Thuận, tôi nằm ngủ ngay sau vách ván có lỗ hở
ăn thông với văn phòng của ông công an Sáu Đầu Bạc.
Nửa đêm ông Đỗ Trung Hiếu đến. Lúc đầu tôi tưởng
Đỗ Trung Hiếu đến lãnh tôi ra. Nhưng qua câu chuyện to
nhỏ giữa Đỗ Trung Hiếu với ông Sáu Đầu Bạc, tôi nín
thở mới nghe được là: "Riêng Huệ Nhật, các đồng chí
quan tâm điều tra kỹ và cho chúng tôi được biết kết
quả". Lời nói của ông Đỗ Trung Hiếu lọt vào tai tôi
trọn vẹn làm cho tôi ngỡ ngàng. Khi nghe câu nói đó, tôi
canh cánh nói với chính mình nhiều điều căn cốt sâu xa
lắm. Suốt đêm đó tâm tư tôi bắt đầu suy xét lại
từng sự việc đối với chế độ CS.
Tôi còn nhớ rằng sau giờ phút đó, tôi thao thức đến
nỗi cơ thể mình cũng xáo trộn theo, nó bắt tôi đi
tiểu tiện liên tục. Đến khi chuyển xuống trại giam Nhà
Bè, tôi chuẩn bị tinh thần có-chi-nói-vậy. Chỉ có lòng
thật thà mới được khỏe mạnh trong tâm hồn và không
tự gây mâu thuẫn cho mình. Tôi nghĩ rằng nếu thật thà
để chết vẫn đáng chết hơn là sống mà dối trá
phiền phức quá. Tôi đoán rằng họ sẽ hỏi cung tôi rất
chi ly phức tạp. Quả đúng y như thế! Sau đó tôi học thêm
được một điều nữa; đó là đối với CS, mình càng
thật thà với họ bao nhiêu, họ càng nghi ngờ mình bấy
nhiêu.
Chỉ có hai năm (1975-1977) mà cuộc điều tra tốn không
biết bao nhiêu là giấy bút. Tôi có thể thành nhà văn
nhờ viết lời khai trong tù. Tôi không viết lời khai để
nói lên sự kiện, nhưng viết để nói lên nỗi lòng của
mình qua các sự kiện. Họ bắt tôi viết lui viết tới
nhiều lần đến nỗi tôi thuộc cả lời khai của tôi. Có
nhiều câu hỏi được lặp đi lặp lại mấy chục lần
khác nhau với những cán bộ khác nhau. Thế nhưng họ thả
tôi về nhờ sự can thiệp của Armnesty International. Khi ở
trong tù, tôi đã được xếp vào lớp tù nhân lâu năm,
từng được làm trưởng phòng và được hướng dẫn
một vài cách sơ đẳng để quan tâm theo dõi một vài anh
em tù nhân khác. Họ thừa biết tôi không có tội, nhưng
vì họ đã làm mếch lòng tôi sâu đậm đến mức không
còn hy vọng thuyết phục để dùng tôi được nữa nên khi
thả tôi về họ tịch thu toàn bộ giấy tờ, bằng cấp và
tài sản của tôi để trục xuất đi kinh tế mới. Đó là
chính sách tiêu diệt những người trí thức mà họ không
thể tin dùng. Nhưng sự việc không đơn giản như thế.
Tôi viết đơn kiện lên thủ tướng Phạm Văn Đồng, Ban
Thanh Tra Trung Ương, v. v. Tôi không chịu đi kinh tế mới
mà cứ lẩn quẩn trong thành phố. Họ lại tiếp tục dụ
tôi vào báo Giác Ngộ, nhưng tôi chỉ viết bài khơi khơi
thôi chứ không thật sự lao sâu vào công tác họ cần.
Từ đó họ lôi kéo tôi vào cái mạng nhện tình cảm của
một người đàn bà đang làm công tác phản gián thuộc
phòng PA 16. Nhưng éo le thay, bà ta đã bị tình yêu của
tôi chinh phục và đã thành vợ tôi ngay sau đó. Con tim
phản gián lạnh căm của bà ta đã bị tình cảm nóng hổi và
lãng mạn của tôi "đánh ngã" vào một buổi hoàng hôn oi
bức éo lẹ Trái tim tôi yêu ai là yêu hết mình khiến cho
người đàn bà phải cảm động. Thế là bà ta chuyển sang
kế hoạch tình ái để dùng tôi kết tóc xe râu. Tôi là
người ngu ngơ với ai ngu ngơ, kèn cựa với ai kèn cựa
và biết tỏ ra thật tình một cách tế nhị ân cần khiến
cho kẻ giả trá cũng phải ngẩn ngơ thích thú.
Ông Mai Chí Thọ muốn hiểu tôi là ai nên cài thuộc hạ
để thăm dò. Họ nghi ngờ tôi như một người nguy hiểm
do Mỹ cài lại sau khi đã được CIA huấn luyện kỹ càng.
Nhưng họ không hình dung được một con người đã đi tu
mà không toại nguyện, đã thất bại về mặt tinh thần
đến nỗi mang một căn bịnh kỳ cục. Đó là căn bịnh tha
thiết sống khi vui vẻ bình an, tha thiết chết mỗi khi
đời sống mình có vấn đề xáo trộn tiêu cực. Nhiều
khi tôi bình tĩnh, kiên nhẫn một cách thầm lặng. Tôi
kiên nhẫn nhịn nhục như không ai lay chuyển được; nhưng
đến khi thay đổi thì tôi thay đổi dứt khoát không ai
lường trước được. Sau nầy ở trong Chúa, tôi cầu
nguyện xin Ngài soi sáng cho con hiểu con hơn. Ngài cho tôi
biết rằng tôi đã có một căn bịnh mâu thuẩn trong tâm
hồn. Khi tôi yêu thì yêu một cách tràn ngập, trút hết
tình cảm cho người mình yêu. Tình yêu ấy là sức mạnh
giúp tôi kiên nhẫn, nhịn nhục một cách bền bỉ, để
chiến thắng những bội phản phụ phàng, nhưng đến một
mức nào đó, khi lòng nhịn nhục của tôi cạn tắt, tôi
sẵn sàng quăng kẻ bội tình cái đụi; không tiếc nuối
một kỷ niệm nào.
Khi thật sự ở trong Chúa, tôi được Ngài dắt dẫn, thay
đổi để nhìn thấy sự nhịn nhục, yêu thương của Ngài
trong chính tôi. Cám ơn Chúa, vớiS kinh nghiệm nầy, Ngài
đã cho tôi nhận ra bản chất của tôi và Ngài đã chữa
lành căn bịnh nội tâm khốn khổ cho tôi. Khi người nữ
thuộc hạ của ông Mai Chí Thọ gặp phải tiếng sét ái tình
của tôi, bà đã xin phép ông cho chúng tôi về quê tổ
chức đám hỏi, tôi còn nhớ rõ câu tỏ tình của tôi rất
hấp dẫn, khiến cho bà ta phải rụng rời cảm động mặc
dù đang lúc bà thi hành bổn phận của một mật báo viên
(khi ấy tôi chưa hề biết bà ta là một công an chìm).
Nói cho cùng, trên con đường làm an ninh chính trị rình
mò, bà ta gặp tai nạn nghề nghiệp do tình cảm đặc biệt
của một đối tượng mà bà ta đang theo dõi.
Trong mắt của Đấng Tạo Hóa, "Tai nạn nghề nghiệp" nầy
không bao giờ ngẫu nhiên cả. Vì sao? Vì Ngài yêu những
con người vốn đã đi theo chủ nghĩa CS hoặc Phật Giáo
hay các tôn giáo khác và Ngài muốn cứu họ như Ngài cứu
tôi. CSVN đã nghi ngờ tôi, đã dùng một người đàn bà
để vừa theo dõi vừa chinh phục tôi, nhưng tôi đã bày
tỏ tình yêu đối với bà ta ngay khi bà chưa kịp theo dõi,
chưa kịp tỏ tình với tôi. Tôi đã yêu bà thật lòng,
khiến con tim của bà cũng chới với mà chấp nhận tình
yêu của tôi, vì bà chưa hề gặp một tình yêu nào thiết
tha và lãng mạng như tình yêu của tôi. Bà ta không ngờ
một vị cựu đại đức mà có thể yêu nhanh chóng và dễ
dàng như vậy. Bà nghĩ rằng với một tình yêu nồng cháy
mà tôi đã dâng hiến cho bà, chắc chắn bà sẽ nắm
được đầu óc, lòng dạ của tôi để báo cáo lên cấp
trên, để có thể theo mệnh lệnh của ngành mà điều
khiển tôi vào hệ thống mật báo viên. Bà đã từng có
con ngoại hôn trong công tác. Bà đã từng làm vợ một số
người. Bà đã từng kinh nghiệm nhiều đàn ông trước
khi gặp tôi.
Nhưng bà chưa hề được "cựu thầy tu" yêu một lần nào
cả! Khi người thầy tu mà yêu là yêu như lửa cháy rừng.
Con người dù gian ác đến mấy, nhưng khi gặp được
một tình yêu như thế cũng phải động lòng. Tiếc thay
sự động lòng ấy chỉ được cháy lén lút một đôi lúc
rồi tắt ngúm trong mê hồn trận của chính trị an ninh
độc đảng phi nhân! Nếu bà ta không thật sự ăn năn
trở lại trong Chúa thì có động lòng yêu thương cách gì
đi nữa cũng không thay đổi được bản chất VC của bà.
Sự kiện tôi được cứu ra khỏi tình cảm tối tăm khờ
khạo lãng mạn của một cựu thầy tu nghệ sĩ cũng là
phước hạnh lớn lao cho cả bà ấy và cho con tôi, nếu bà
ấy xé lòng ăn năn thật sự.
Lúc đầu, bà ấy cho tôi biết rằng ông Năm Xuân (Mai Chí
Thọ) không cho bà lập gia đình, vì bà là một nhân viên
đặc biệt. Bà nói bóng gió cho tôi về một vài quan hệ
"tình nhân trong công tác" với bác sĩ Hòa Lễ và dược
sĩ Lộc và một số ông khác có tiếng tăm hơn. Sau vài
tuần, bà cho biết đã thuyết phục được Mai Chí Thọ
để được lấy tôi. Bà còn kể rằng bố nuôi Xích
Điểu Trần Minh Tước của bà đã mời Mai Chí Thọ đến
Đồng Khởi ăn cơm và nói riêng với Mai Chí Thọ để cho
con gái mình lập gia đình với tôi. Khi ấy bác sĩ Hòa
Lễ và dược sĩ Lộc hết quan hệ với bà trên hình
thức, nhưng thực tế hai người nầy đã đi đêm với bà
rất nhiều lần, kể cả sau khi chúng tôi thành nghĩa vợ
tình chồng, có lần tôi bắt gặp tại trận.
Vì sự hiểu biết của tôi về VC đi từ chỗ sơ sài
đến chỗ trở thành nguy hiểm cho họ, nên họ phải suy
tính một giải pháp dứt khoát. Một là phải đặt tôi vào
"phe ta", hai là phải đối xử với tôi như một "kẻ thù"
chứ không thể lưng chừng được nữa. Bà vợ tôi biết
rằng nếu không lôi kéo được tôi vào trong tổ chức
để làm một số công tác nào đó thì bà khó có thể che
giấu được công tác bí mật của bà với tôi là một kẻ
đang sống cận kề. Người làm công tác phản gián không
bao giờ cho phép một kẽ hở sát sườn như thế. Vợ tôi
cho biết rằng "Vì lấy một người chồng như anh nên em
phải nghỉ công tác". Sau đó có một bà khá xinh đẹp, to
con, tên là Phượng đến nhà tôi "làm việc" với vợ tôi
đúng một tuần. Bà Phượng cũng "làm việc" với tôi
một buổi như sau:
- Chào anh Nhật, cả tuần nay tôi bận nói chuyện với chị
M. Bây giờ tôi muốn nói chuyện với anh được không?
- Dạ mời chị!
- Tôi muốn hỏi anh Nhật rằng lâu nay anh có biết công
tác của chị M không?
- Dạ biết. Bà ấy làm bên rạp hát Vàm Cỏ và Sao Mai.
- Không. Tôi muốn hỏi anh một công tác đặc biệt của
chị ấy cợ
- Dạ đúng rồi, công tác đặc biệt của bà ấy là lãnh
đạo đoàn ca kịch Tầu.
- Nếu anh không biết thật thì tôi nói cho anh biết. Công
tác đặc biệt nầy do ông Năm Xuân điều khiển. Ông Năm
Xuân cũng là thủ trưởng của tôi. Ông nói rằng ai làm
công tác đặc biệt nầy thì "con tim phải lạnh, nhưng bộ
óc phải nồng". Bây giờ anh biết rồi đấy.
- Dạ thưa cô, ông Năm Xuân là ai?
- Anh không biết ông Năm Xuân thật sao? Tức là ông Mai
Chí Thọ, giám đốc sở Công An đấy. Anh nói lâu nay anh
chưa biết công tác của chị M, nhưng bây giờ thi tôi đã
nói cho anh biết. Khi anh đã biết rồi thì anh phải chịu
trách nhiệm để giữ mạng sống của mình.
- Chị nói thế nghĩa là gì?
- Anh là người làm thơ thì anh phải biết ý nghĩa của câu
"con tim phải lạnh mà bộ óc phải nồng". Chúng tôi đặt
tình cảm qua một bên khi lý tưởng của Đảng có dấu
hiệu bị xâm phạm. Đảng có những công tác bí mật. Đây
là một công tác sinh tử. Anh là người đã biết công
tác nầy rồi. Nếu từ nơi miệng anh mà bí mật công tác
bị bại lộ, mạng sống của anh tùy thuộc vào đó. Anh nhớ
chưa. Bây giờ anh không thể nói rằng anh không biết công
tác của chị M, vợ anh. Nhưng anh cũng nên biết thêm rằng
tôi là người đang thay thế chị ấy. Từ nay chị ấy bị
ngưng công tác. Anh Nhật thông cảm chưa?
- Dạ cám ơn chị.
Bẳng đi một thời gian, sự kiện tôi tin Chúa và sinh
hoạt trong hội thánh Tin Lành được cấp trên chú ý. Bà
Sáu Thảo mời tôi đến văn phòng đưa ra đề nghị làm
việc cho Phật Giáo Yêu Nước một lần nữa. Chúa cho tôi
nhạy bén để thấy rằng bà ta làm bộ mời tôi vào công
tác Phật Giáo Yêu Nước nhưng để chuẩn bị điều tra
tôi về Tin Lành. Cám ơn Chúa, Ngài cho tôi đoán đúng.
Tôi nói rằng "chị ơi, bây giờ tôi tin Chúa và sinh hoạt
với hội Thánh Tin Lành rồi, nếu tôi liên lạc với Phật
Giáo, chẳng đem lại kết quả gì đâu". Thế là xong. Bà
Sáu Thảo gọn gàng nói: "Cám ơn anh, chúng ta sẽ tính cách
khác vậy". Về nhà, tôi kể lại cho vợ mình nghẹ Bà ta
lặp lại câu nói cố hữu: "Nên nhớ rằng cây cổ thụ
công tác mật đây nè".
Bà Sáu Thảo gởi một tờ giấy mời làm cho tôi hồi hộp
cả tuần, nhưng khi tôi đến gặp bà, bà chỉ nói chuyện
50 giây. Kể từ đó tôi càng thấy rõ mình bị quan tâm
khá kỹ. Nào là giấy mời kêu ra phường, kêu lên quận,
kêu lên sở để gạn hỏi, để trắc nghiệm lòng tin theo
Chúa hay là có mưu ý gì khác nữa không, do ai xúi dục...
Người làm việc với tôi nhiều nhất là ông Tư Trà. Ông
biết tiếng Pháp và thuộc thơ Kiều. Ông chuyên gợi
chuyện với tôi qua những câu thơ đâu đâu rồi bất
thình lình đọc lên một câu thơ để dò phản ứng của
tôi, thật là lý thú. Lắm khi giữa ông Tư Trà và tôi
nói chuyện với nhau mà cả hai bên không biết mình sẽ nói
gì tiếp theo sau những câu đã nói, bởi vì nội dung thì
thơ văn tình cảm, nhưng sự thật là dò lòng nhau từng
gang tấc một.
Trong số những câu thơ ông đọc, tôi nghe lảng vảng một
số câu thơ của mình đã mất. (Trong những năm đầu chung
sống với vợ tôi, thỉnh thoảng tôi bị mất những vật
cá nhân như nhật ký, bài thơ, một số giấy tờ cá nhân
tôi bỏ trong tủ. ) Ông hỏi tôi trước đây Huệ Nhật đạp
xích lô có làm nhiều bài thơ lắm phải không. Đọc cho
chú nghe bài thơ xích lô nào cho vui đi. Tôi đọc cho ông
nghe bài thơ Đạp Xích Lộ Ông đã chụp lấy hai câu để
nhờ tôi giải nghĩa:
Xe qua ngõ hẹp quê nhà
Nghe thao thức mộng sơn hà phân bua.
Ông Tư Trà muốn hiểu ý của tôi khi nói về "xe qua ngõ
hẹp quê nhà" là những ngõ nào, và "mộng sơn hà phân bua"
là mộng gì? "Có phải Đảng đã làm gì sai lầm nên cháu
muốn phân trần và góp ý xây dựng chăng? Hoặc cháu
muốn có một dự kiến gì đối với quê hương trong
thời hậu chiến hay không? " Ông cho rằng Đảng rất mong
dân phản ảnh những sai lầm của Đảng để Đảng phục vụ
dân tốt hơn. Tôi thấy lối ăn nói của ông Tư Trà nầy
có vẻ lịch sự, tình cảm và sâu sắc. Tôi linh cảm rằng
con người nầy khá nguy hiểm khi ông cố moi cho ra một
số ý tưởng của tôi trong vài câu thơ nào đó. Tôi bày
tỏ sự đồng cảm với ông để nói lên ước muốn của
mình khi bị giam trong xà lim. Đó là tôi thèm được nhà
nước cho ra quét đường và mỗi ngày cho ăn hai bữa cơm,
tối về nhà ngủ; như thế còn ích lợi hơn là được
nhà nước "nuôi ăn" để nằm không trong xà lim bực bội
quá. Thế rồi ông yêu cầu tôi đọc vài bài thơ trong xà
lim. Tôi chỉ nhớ một bài Chào Khốn Khổ và đọc theo
kiểu nửa nhớ nửa quên.
Một vài bài thơ bị mất cắp ngay trong hộc tủ mà tôi
còn nhớ thuộc lòng như sau:
Giọt Máu
Còn lại một giọt máu
Không chịu chãy qua tim
Lang thang trong buồng não
Buồn vui vẫn im lìm
Tia Sáng
Còn sót một tia sáng
Chưa chịu chiếu qua mi
Bâng khuâng mờ trong nắng
Chẳng nghe nói năng gì.
Tặng Nguyễn Thùy
Anh về nặng nỗi sầu tư
Kiến vàng kiến đỏ bây chừ bu quanh
Cờ xưa đem dấu trên ghềnh
Để mầu cờ đỏ tung hoành dối gian
Nửa đêm rượu đế giăng hàng
Trong nhà khó ngủ, ngoài đàng thức canh
Ngẩn ngơ anh ngóng xa miền
Hai tay bụm chặt mối manh khôn dò
Anh về với nỗi buồn lo
Một đàn kiến đỏ bên gò ruộng hoang
Kiến chen cây cỏ điêu tàn
Cuốn dòng lịch sử bốn ngàn năm đi
Hỏi xưa anh ước mơ gì
Mà nay giọt lệ biên thùy chãy rả
Chừng nghe cay đắng quê nhà
Vang trong ước vọng sơn hà từng đêm.
Chiêm Bao
Hôm qua nằm ngủ chiêm bao
Tim mình cấu tạo bằng cao su mềm
Tháo ra gột rửa ưu phiền
Lỡ tay làm rách hai viền máu loang
Tình tuôn theo máu chứa chan
Đổ lai láng chãy tràn lan giữa đường
Xem dòng máu đỏ mà thương
Con tim rách rưới hết đường vá may
Thương tim ta khóc cả ngày
Người đâu đến lấy tim nầy luộc ăn
Ta còn chiếc lưỡi phân trần
Không ngờ lưỡi bị hàm răng cắn lìa
Hồn lau nước mắt đầm đìa
Một bầy lang sói xé chia lưỡi mình
Thôi đành tháo sợ thần kinh
Treo buồng não trắng lên trên đầu người
Vào rừng gặp lũ đười ưoi
Nghiêng mình ta trút nụ cười trăm năm
Tìm về chín suối ta nằm
Mở mắt chợt thấy mình nằm chiêm bao!
Thấy toàn những chuyện tào lao
Giống y như thật làm sao hỡi người!
Tôi có cảm tưởng rằng nói chuyện với Tư Trà như đặt
tay mình xuống một dòng suối đang chãy. Những giọt
nước thoáng qua tay mình rồi đi mất không bao giờ mình
nắm được vào tay. Tất cả những giọt nước đã đụng
vào tay mình sẽ tụ lại một nơi nào đó để trao đổi cho
nhau về sự cảm thấy của chúng khi chãy ngang qua da thịt
mình. Như thế là cả dòng nước biết da thịt mình, còn da
thịt mình thì ướt mà không giữ được một giọt nước
nào của dòng suối cả. Thế mà mỗi tuần "chú mời cháu
đến tâm tình với chú để chú tìm cách giúp đỡ cháu
có cơ hội đóng góp cho Đảng và Nhà Nước. Chú đã xem
hồ sơ và lời khai của cháu nên biết cháu là người có
lòng. Đảng không dùng được cháu thì Đảng và cháu đều
bị thiệt thòi, nhân dân cũng bị thiệt".
Đúng. Tư Trà là một cán bộ chấp pháp lão thành biết
gài đòn tình cảm đối với tôi. Nếu Tư Trà gặp tôi
trong thời tôi mới bị bắt giam, có thể ông chinh phục
tôi dễ hơn. Rủi cho Tư Trà gặp tôi khi tôi đã tin Chúa
sau một thời gian nếm đủ mùi CS. Phải công nhận rằng
từ khi tin Chúa, căn bịnh tự tử trong tôi đã được
trục xuất ra ngoài, lòng tôi được bình an thư thái, tâm
trí tôi được bình tĩnh, sáng suốt, ít bị tình cảm lôi
cuốn vào các lời văn hoa hư đản của thế gian.
Sau đó không lâu, vào khoảng năm 1983, ông Tám Đồng đến
nhà tôi vào mỗi chiều thứ Ba để trực tiếp dùng tôi
lấy tin tức bên Tin lành. Tám Đồng lớn hơn tôi vài
tuổi, dong dỏng cao. Sau nầy chú em ruột tôi cho biết Tám
Đồng là người Lào gốc Việt, bị chuyển qua Mặt Trận
Tổ Quốc và chết vì bịnh. Hồi đó Tám Đồng là nhân
viên đặc trách tôn giáo khâu Tin Lành. Ông đến nhờ tôi
như sai bảo một nhân viên của ông. Tôi cầu nguyện với
Chúa để tiếp chuyện với Tám Đồng mà không để cho
mình bị Tám Đồng lôi kéo vào mục đích ác. Đôi khi bối
rối quá, tôi đến tâm sự với Mục Sư Đinh Thiên Tứ.
Khốn nỗi tôi tâm sự nhiều quá khiến ông mục sư nầy
đâm ra nghi ngờ tôi luôn! Tôi không bàn với vợ tôi, vì
nghĩ rằng thế nào bà ta cũng đã hiểu hết rồi. Nếu
bà ta làm lơ như là chưa hiểu, tôi đoán biết tại sao.
Nếu bà muốn bàn với tôi, tôi cũng đoán biết tại sao.
Nhưng thực tế là bà ta im lặng.
Mỗi buổi chiều thứ Ba, tôi làm việc với Tám Đồng,
hoặc trên căn gác nhà tôi, hoặc ngoài quán cà phê, hoặc
tại sở Công An Thành Phố. Tôi nghĩ rằng nếu mình từ
chối làm công tác cho họ, đương nhiên họ xem mình là thù
địch. Nhưng nếu nhận một vài công việc đơn giản thì
mình có cơ hội làm chứng về Chúa cho họ. Tôi chấp
nhận viết báo cáo bất cứ buổi nhóm nào mà tôi tham
dự trong hội thánh Tin Lành VN. Tôi tham dự nhiều hội
thánh vì được mời đi làm chứng nhiều nơi. Tôi tin
rằng người của họ luôn luôn có mặt trong các buổi nhóm
đó, nên báo cáo của tôi hoàn toàn đúng sự thật một
cách vô hại. Tôi viết đúng số lượng người tham dự.
Đúng tên người giảng. Đúng những bài thánh ca. Riêng
nội dung bài giảng, tôi viết dài và viết sau cùng để
gián tiếp giảng cho họ. Đây là cách báo cáo mà tôi tin
rằng Chúa đã soi sáng cho tôi. Sau mấy tháng báo cáo như
thế, Tám Đồng bắt đầu hướng dẫn cho tôi một số
chi tiết có tính cách kỹ thuật. Ví dụ hôm đó có gì
đặc biệt, có ai đáng nghi ngờ, có thông báo gì, dự
liệu gì, v. v. Ông khuyên bỏ qua bài giảng và các bài
thánh ca. Trò chơi "đu dây" của tôi bắt đầu rắc rối
từ đây.
Dù suy nghĩ và cầu nguyện tiếp, nhưng tôi chỉ biết báo
cáo theo kiểu cũ. Tám Đồng bảo tôi "như thế nầy không
được". Tôi hứa với Tám Đồng rằng sẽ quan tâm tới
những điểm đặc biệt khi mắt tôi thấy, nếu không
thấy gì đặc biệt thì thôi. Tám Đồng biểu tôi theo
dõi hai người: Mục Sư Đinh Thiên Tứ và Thầy Phan Vĩnh
Cự, vì hai ông nầy có mối liên hệ đáng nghi ngờ. Tôi
cho Tám Đồng biết rằng đi nhà thờ là để thờ Chúa
chứ không phải để theo dõi người khác. Nếu tôi quan
tâm theo dõi người khác, chắc chắn tâm tình thờ phượng
Chúa của tôi không còn nữa. Tôi cam kết với y rằng
không cần theo dõi hai ông nầy, vì họ là những người
tốt, không bao giờ chống phá cách mạng. Tám Đồng khuyên
tôi "nên có đôi mắt của một người CS yêu nước, vì
Đảng vì nhân dân. Có nhiều thông tin mà anh chưa nắm rõ
như chúng tôi, chúng ta phải giành giật đem hai ông mục sư
nầy về phục vụ cho nhân dân, cho tổ quốc, cho giáo hội
Tin Lành của Chúa, chứ không phải để làm hại họ đâu.
Anh Huệ Nhật muốn tham gia cách mạng thì phải học theo cái
nhìn của cách mạng".
Tôi đâu có dám nói mình không muốn tham gia cách mạng
được. Tám Đồng đã thắng tôi một bước nữa về sự
im lặng của tôi. Hắn khuyên tôi nên chính thức học cách
giúp việc nước và xây dựng giáo hội theo tinh thần xã
hội chủ nghĩa. Lúc đầu hắn dùng từ ngữ "học nghệ
thuật tình báo nhân dân", nhưng tôi không chịu. Tôi nói
là tôi ghét cái nghề đó từ trong thời Pháp và thời
Ngô Đình Diệm. Tám Đồng nói "thời nào cũng có tình
báo cả, nhưng mục đích thì khác nhau, chế độ ta có
ngành tình báo phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, đánh
bọn sâu dân mọt nước núp trong tôn giáo. Chỉ có người
yêu nước yêu giáo hội, yêu Chúa chân chính như anh Huệ
Nhật mới đóng góp được mà thôi. Anh phục vụ nhân dân,
Đảng ghi nhận công lao của anh! " Tôi im lặng, hắn thắng
thêm một bước nữa.
oOo
|