|
Contributed by: Admin |
Views: 4.714
Nguyễn Thế Hoàng
Chị thứ mười, gọi chị là Mười Quắn. Cha mẹ chị sinh
mười một người con. Nếu gọi chị là chị mười một
Quắn, e khó nghe, nên người ta gọi chị là Mười Quắn.
Chị là út chót trong gia đình nên được gọi cưng một
chút là chị út Quắn dễ nghe và dễ thương hơn. Chị út
Quắn cũng hãnh diện và chấp nhận tên gọi của mình. Gia
đình cha mẹ chị út Quắn nghèo, nghèo tả tơi, con lại
đông, ở vùng quê đất cày lên sỏi đá nắng hạn nhiều
hơn mưa. Nhà nghèo, cha mẹ đau bệnh không tiền chạy
thuốc nên hai người lần lượt qua đời. Giàu út ăn,
khó út chịu, chị nhận phần hương hỏa cha mẹ để lại,
căn nhà tranh vách đất và sào đất sau nhà.
Các anh, các chị không ai được học hành, sinh ra lớn lên
theo cha mẹ làm thuê cuốc mướn, lao động chân tay quanh
năm. Lần lượt họ cưới vợ, lấy chồng, tứ tản khắp
bốn phương trời tìm kế sinh nhai, cái nghèo vẫn đeo theo
họ suốt đời. Chị út Quắn ở với cha mẹ cũng vất vả
bữa đói bữa no. Chị cũng không được đi học, nhưng
tính toán bằng miệng, gọi là tính rợ, thì không ai qua
được chị. Chị nhớ dai những chuyện cổ tích, vài câu
ca dao, chuyện đời nay, chuyện trên trời dưới biển.
Đối đáp, hát hò chị chẳng thua gì ai.
Chị út Quắn mang cái tuổi canh dần. Khi trưởng thành chị
biết mình tuổi canh dần, tuổi con cọp, lại cọp cái, còn
canh cô mồ quả. Mà chị canh cô mồ quả thật đãy. Cha mẹ
qua đời, các anh chị tứ tản khắp nơi, còn lại chị sống
một mình trong ngôi nhà cha mẹ để lại.
Thỉnh thoảng chị có sự suy nghĩ về đường chồng con.
Người ta bảo đàn bà mang tuổi dần là sát phu. Có chồng
phải mấy đời mới trụ. Nhưng chị lại suy nghĩ khác hơn,
có ai hỏi tuổi, chị trả lời thẳng thừng một hơi là tui
tuổi sửu, kỷ sửu, tuổi con trâu đi cày, khỏe mạnh lo
làm lo ăn quanh năm suốt tháng không nghỉ ngơi, có nghỉ
thì được nghỉ mấy ngày Tết không hà. Nói xong, chị
cười hì hì vui tính chứng tỏ điều mình nói không sai
để che lấp cái tuổi dần ghê sợ đó. Chị út Quắn
dấu nó rất kỹ coi như một điều không may mắn cho lắm
về đường chồng con.
Sào đất sau nhà, chị ra sức chăm sóc trồng các loại
thực phẩm kiếm cái ăn. Khi rảnh, chị út Quắn lội khắp
các vườn mua trái cây gánh ra chợ bán kiếm đồng lời
và cuộc sống tạm đủ qua ngày.
Sau Mậu Thân 68, chị út Quắn tròn hai mươi tuổi phơi
phới đẫy đà, chị ước muốn một tấm chồng như bao
cô gái khác trong làng, vậy mà chẳng ai dám mơ màng đến
chị. Họ ngại đàn bà con gái tuổi dần, dầu cho chị có
đính chính chối cãi.
Sau tháng 4/75, ngôi nhà và sào đất của chị được xã
địa phương qui định đóng thuế hàng năm theo luật mới.
Tiền thuế qui định cao, ngoài khả năng lợi tức của chị.
Chị cãi chày, cãi cối với mấy người có trách nhiệm,
từ xưa đến nay cha mẹ chẳng có ai buộc phải nạp thuế
nhà và đất. Cãi nhau năm lần bảy lượt, chị cương
quyết không thi hành, cho dù mấy ông xã dọa không chịu
nạp thuế, nhà và đất sẽ bị tịch thu, phải đi kinh tế
mới mà sống với thú rừng. Dọa thì dọa, chị vẫn tỉnh
bơ coi như không có gì. Chị lì lợm mấy lần khi chị
được kêu lên xã, để họ bắt nạt và hăm he chị.
Vài tháng sau, chán cảnh kêu lên kêu xuống của xã, chị
nghe lời bạn bè rủ nhau đi làm công nhân cạo mủ cao su ở
Dầu Tiếng. Chị út Quắn cột chặt cửa nhà, dùng chà gai
keo tắp xung quanh. Chị làm đâu chừng năm bị tên cai đồn
điền hãm hiếp nhiều lần, chịu không nổi với hắn,
chị phải bỏ về xứ mang theo cái thai bất đắc dĩ trong
người. Chị sanh một con trai, đâu chừng tháng thì nó
chết ngủm. Chẳng bao lâu chị nghe tên cai đồn điền bị
rắn độc cắn chết tươi. Sẵn dịp, bà con chòm xóm bàn
tán nói chị chưa chi đã qua một đời chồng rồi đó.
Chị út Quắn phân bua đầu trên xóm dưới rằng nếu tui
không bỏ hắn về quê, mà ở lại với hắn thì làm gì
hắn vắn số. Cái số của hắn chỉ chừng đó, đâu phải
tại tui. Tui đâu phải tuổi dần, tui tuổi sửu, nói mãi
không ai tin.
Sau khi sanh thằng con, tiền bạc dành dụm hết sạch. Sào
đất sau nhà chưa trồng trọt được thứ gì để ăn. Chị
út Quắn ra sức đi làm thuê bữa có bữa không. Trên xã
thấy chị về, kêu chị lên xã tiếp tục hăm dọa. Họ nói
bao nhiêu người trong xã đều nạp thuế chỉ riêng chị
ngoan cố không thi hành. Chị út Quắn biết họ dựng
chuyện kiếm cớ để lấy nhà, lấy đất của chị, cũng
chỉ vì cái ông chủ tịch xã trước đây khi còn là thằng
dân ngu khu đen đi cuốc đất mướn đã bao nhiêu lần
đến nhà chị đòi hãm chị mà không được. Giờ hắn có
chức có quyền sinh sự thù vặt để chiếm nhà chiếm
đất của chị làm của riêng tự
Sau cùng chị út Quắn nhận quyết định của xã phải đi
kinh tế mới, nhà và đất bị tịch thu. Xã kết tội chị
phản động, không chấp hành lệnh chính quyền. Họ thu thẻ
chứng minh nhân dân và xóa hộ khẩu của chị. Chị út
Quắn đang trở thành người dân không nhà cửa, quê quán,
gốc gác, lý lịch... phải lên rừng sống với thú vật.
Lệnh lạc đâu đó đành rành. Mấy tên du kích xã đến
nhà chĩa súng dẫn chị về xã. Chị quơ quào mấy bộ
quần áo cũ, chén đũa ăn cơm, ca nhựa uống nước...cho
vào bị vải. Nhìn tới nhìn lui chẳng còn gì để mang theo,
vì cũng chẳng có gì để lấy. Chị ra khỏi nhà, cột
chặt cửa, kéo chà gai keo tắp xung quanh. Chị út Quắn đi
giữa mấy tên du kích ghìm súng dẫn về xã như đang áp
dẫn một can phạm. Chị bị đẩy lên xe cùng với một số
người khác, già trẻ, đàn ông đàn bà, trẻ con đang ngồi
chật cứng trong chiếc xe bít bùng. Kể từ lúc này, chị
út Quắn đã trở thành phạm nhân mang bản án phản động,
không chấp hành lệnh, cần được cải tạo tư tưởng ở
mức độ thấp, được phép đi khai khẩn đất rừng, lao
động sản xuất, làm ra của cải vật chất nuôi bản thân,
đóng góp đất nước. Bản án được tên công an xã đọc
trước khi xe khởi hành đến khu kinh tế mới. Cuộc hành
trình dài một ngày, một đêm, từ miền Trung lên cao
nguyên vào tận rừng sâu bạt ngàn. Mỗi người được
cấp một bao gạo ẩm, bị muối hột, dao rựa, cuốc xẻng,
và vài trăm tiền Hồ để tự lực cuộc sống trong rừng
hun hút đầy thú dữ và muỗi mòng rắn rết.
Trong cuộc sống chẳng đặng đừng này ai ai cũng nghĩ
rằng chỉ còn ra sức phấn đấu để mà sống. Mọi
người tỏa ra tìm địa điểm thuận lợi, chặt cây rừng,
phát quang, làm chòi trú ngụ, dọn đất trồng trỉa...khởi
sự bước vào cuộc sống rừng rú.
Ngày đầu tiên chị út Quắn quen với anh Tư Ngang. Anh còn
có cái tên là Tư Xà Lỏn vì lúc nào anh cũng thích mặc
quần xà lỏn (quần đùi). Nghe đâu anh là lính nghĩa quân
ngày trước. Giờ thì xã liệt anh vào thành phần nguy
hiểm cần rời khỏi địa phương. Vợ anh đã chết vì
đạn pháo kích. Anh cũng bị tịch thu chứng minh nhân dân,
xóa hộ khẩu trở thành dân lậu không gốc gác, lý lịch,
quê quán. Anh xấp xỉ tuổi với chị út Quắn. Hai anh chị
thân thiện và giúp nhau làm chòi, chặt cây, vỡ đất...
Hai tháng sau, anh chị chính thức lấy nhau. Chị út Quắn có
đời chồng thứ hai, và chị cầu xin vợ chồng sống yên
ổn suốt đời. Chị út Quắn vẫn dấu anh tuổi dần. Chi
khai với anh là tuổi sửu, chị bảo hai người hạp nhau
lắm, sẽ ăn đời ở kiếp.
Chị đề nghị với anh Tư là thủng thẳng có con, khổ
lắm. Anh Tư Xà Lỏn đồng ý. Anh khuyên chị là nên trốn
khỏi nơi này. Chị than với anh:
- Trốn rồi đi đâu, ở đâu. Hộ khẩu không có, chứng
minh nhân dân cũng không, ai chứa chấp mình.
Anh Tư Xà Lỏn góp ý:
- Trốn về miền Trung không được, họ kiểm soát gắt
lắm. Về Saigon lẫn lộn trong thành phố may ra an toàn
hơn, sau đó rồi hẵng hay.
Bàn tính xong hai anh chị thừa đêm tối lội rừng suốt
một đêm, đến sáng mới ra đường lộ. Nhờ chiếc
nhẫn vàng một chỉ của anh Tư Xà Lỏn đem đi bán, vợ
chồng chị mới về được Saigon.
Thoát được cuộc sống rừng rú giờ lại chẳng biết ăn
đâu ở đâu, tứ cố vô thân. Hai người lang thang từng
góc phố con đường. Đêm thì chui rúc dưới gầm cầu,
hiên chái, nhà ga, bến xe..trong giấc ngủ chập chờn vì
muỗi, vì lạnh, vì lo sợ cảnh sát hốt. Ban ngày lội
ngược lội xuôi tìm kiếm việc làm. Khi có việc người
ta không nhận vì chẳng có giấy tờ tùy thân, hộ khẩu,
giấy tạm trú tạm vắng... Không ai thuê mướn người
không có lý lịch, căn cước...họ sợ trộm cắp, sợ liên
lụy. Xã phường bắt dân học tập không chứa chấp dân
vùng kinh tế mới trốn về. Nếu biết được phải trình
báo để bắt giữ và trục xuất. Ai chứa chấp sẽ trị
tội. Họ bảo bọn kinh tế mới trốn về trà trộn trong
dân gây xáo trộn an ninh, làm mất thẩm mỹ thành phố mang
"tên bác". Ố!! là là!! sao lại phân biệt đối xử kỳ
cục quá vậy!! Tại sao coi tụi tui như cùi, như hủi!! Tụi
tui là mọi ở trên rừng về mà!! Nhà nước mấy ông ơi!!
cho chúng con sống với!!...
Qua mấy tháng ăn chui, ngủ chui không tìm được công việc
gì làm. Tiền bạc không một xu dính túi. Chị út Quắn và
anh Tư Xà Lỏn còn biết nhắm vào mấy đống rác hôi thúi
cao như núi để kiếm miếng ăn. Từ sáng sớm đến nửa
đêm, anh chị hì hục bươi móc trong đống rác để lượm
các bị nylon, giấy vụn, chai lọ, các vật dụng bằng nhựa
hư hỏng...Lượm được rồi, tìm nước rửa, phơi khô và
đem cân ký. Lại còn khổ nạn tranh giành nhau từng mãng
rác thúi hôi. Đống rác nào cũng dày đặc người từ
già, trẻ, bé, choi choị..đủ hạng bu như kiến. Thỉnh thoảng
xảy ra đánh lộn, chửi bới rang trời dậy đất. Thật
cực nhọc trăm chiều. Suốt ngày anh chị út Quắn hít thở
đầy lòng phổi mùi xú khí, hôi thúi bốc hơi từng cuộn
khói ngùn ngụt từ trong rác lúc đầu thật khó chịu vô
cùng, lâu ngày quen đi không còn cảm thấy hôi thúi nữa.
Ngày nào xong công việc sớm vợ chồng chị út Quắn tìm
chỗ nghỉ ngơi, bằng không thì ngủ lăn trên đống rác
ướt nhèm nhẹp tanh hôi để giữ của. Làm đến cuối
ngày, hai con mắt mờ đi, lồng ngực nặng trĩu tưng tức,
khó thở như muốn buồn nôn. Quần áo, cơ thể chẳng
được tắm rửa bám đầy xú khí, ngứa ngáy, hôi hám
sanh ghẻ lở lói hai bàn tay, bàn chân, mặt mũi, mình
mẩy...cũng đành chịu. Cái duy nhất để có miếng ăn bỏ
vào miệng là cần thiết hơn cả.
Kiếm được cái ăn để trấn áp bao tử đang dày vò
thường xuyên thật vất vả cay đắng làm sao! vậy mà
đâu được yên thân! Đôi ba ngày là bị bọn cảnh sát bố
ráp, rượt bắt. Vợ chồng chị út Quắn và anh Tư Xà Lỏn
cũng như mọi người chỉ còn bỏ của chạy lấy người.
Chạy thì chạy, anh chị không quên hai bao lác đựng quần
áo rách, mền cũ, vật dụng... là gia tài duy nhất của
đời sống. Bọn cảnh sát đi rồi, mọi người trở lại
"họp chợ" bươi móc tranh giành từng miếng ăn từ đống
rác hôi thúi.
Chị út Quắn dự tính làm để dành tiền mướn người
thảo đơn ra trung ương khiếu kiện một chuyến. Việc dự
tính chưa thực hiện được thì chị út Quắn bị cảnh sát
bố ráp bắt vì bụng đang mang thai mệt mỏi, chậm chân
chạy không kịp. Anh Tư Xà Lỏn nhanh chân hơn nên thoát
được. Chị út Quắn can thêm tội bỏ trốn vùng kinh tế
mới nên bị nhốt cả tháng trời, nhịn đói nhịn khát, sau
đó bị giải trả về lại vùng kinh tế mới.
Về đến nơi, chị bị giam lỏng tại trụ sở ấp không có
cơm ăn, mỗi ngày được đôi ba trái bắp hoặc vài củ
khoai đỡ đói, nhưng chị phải lao động sản xuất. Ban
đêm cùng với mấy người bỏ trốn vừa bị bắt về
ngồi nghe tên công an khu vực lên lớp cải tạo tư tưởng.
Cái thai mỗi ngày mỗi lớn và quậy phá trong bụng chị vì
không có sửa.
Chị út Quắn cố gắng chịu đựng được hơn nửa tháng
rồi bỏ trốn lần thứ hai. Chị tìm đường về quê, tạt
qua thăm nhà. Chị cảm thấy nhớ nhà vô cùng. Đến nơi
chị út Quắn không còn nhìn thấy nhà cửa của mình. Họ
đã sang bằng ngôi nhà của chị và trên lô đất họ đang
cất một ngôi nhà gạch còn đang dở dang. Chị uất nghẹn
và vô cùng thất vọng. Chị thất thểu trên đường đến
trụ sở ủy ban nhân dân xã để hỏi cho ra lẽ. Tên chủ
tịch xã lạnh lùng không tiếp chị. Hắn bảo du kích xã
đuổi chị ra khỏi làng, và báo cho chị biết rằng chị
không còn tư cách gì để khiếu nại. Nhà đất đã không
còn sở hữu của chị. Giấy tờ tịch thu hợp pháp. Chị
đã không còn là người dân trong xã vì không có hộ
khẩu, không có giấy tờ tùy thân thì đừng hòng thưa
kiện đòi lại nhà và đất, có ức thì cứ đi kiện.
Chị út Quắn nhất quyết không đi, nằm vạ giữa đường
khóc lóc, than thở, và chửi bới suốt ngày. Người dân
trong xã thấy thương tình cảnh khốn đốn của chị, họ có
ý định giúp chị điều này điều khác, nhưng họ không
dám chỉ sợ vạ lây. Vài ngày sau, nghĩ thương cái thai
trong bụng, nên chị cố nhịn nhục tìm đường về Saigon
tìm anh Tư Xà Lỏn để cùng nhau lo việc sanh đẻ. Chị út
Quắn càng khốn đốn khi trong người không có một xu
dính túi và cũng chẳng còn gì đáng giá để bán. Chị
đành đi ăn xin lây lất từng ngày, chắt chiu để có
tiền xe.
Hai tháng sau, chị út Quắn mới về đến Saigon và gặp
được chồng. Trong thời gian vắng chị, anh Tư Xà Lỏn tìm
được một chân lơ xe đò đường Saigon-Mỹ Tho. Người
chủ xe thương xót hoàn cảnh đã cho anh Tư ở tạm cái chái
sau nhà thấp lè lè đang chất đồ đạc. Anh Tư mua mấy
tấm cót dừng chung quanh cho kín đáo làm nơi tạm trú.
Hằng ngày anh Tư Xà Lỏn đi phụ xe từ sáng đến tối
mới về. Chị út Quắn lãnh vé số bán dạo. Hai người
chắt chiu tiền bạc để sanh đẻ, đồng thời mướn
người làm đơn gởi các nơi và trung ương để khiếu
kiện đòi nhà, đòi đất, xin cấp lại hộ khẩu và giấy
tờ tùy thân để trở về quê sinh sống.
Chị út Quắn sức khỏe mỗi ngày mỗi sa sút. Gần ngày
sanh, ăn uống thất thường, thiếu dinh dưỡng, chị đã
sanh non đứa con mới được bảy tháng. Hài nhi sanh ra, ốm
tong teo, quặt quẹo. Chị út Quắn lại không có sữa, đành
cho bú nước cháo, có dặm chút sữa bò.
Chái hiên đang ở diện tích chưa được mười mét vuông
là nơi đứa con gái của chị vừa chào đời, chị út Quắn
lấy tên Chái đặt cho con để kỷ niệm cuộc sống khốn
khổ của vợ chồng anh chị. Hai vợ chồng nghèo đói nhưng
có được đứa con mừng lắm. Nhờ trời thương, con Chái
mỗi ngày mỗi lớn và khỏe mạnh.
Con Chái vừa được một tháng tuổi, chị út Quắn tiếp
tục lãnh vé số bán dạo. Buổi sáng chị đặt con Chái
trong chiếc nôi nhỏ có xách tay, tay xách con, tay cầm tập
vé số và chị tìm đến những gốc cây, góc phố, ven
chợ, mái hiên...mời mọc kẻ qua người lại mua giùm vé
số. Có hôm chị ngồi suốt cả ngày ngoài đường. Hôm
nào bán hết vé số, chị được về sớm. Con Chái nó
cũng biết thân phận, nằm yên trong chiếc nôi nhỏ, không
khóc, hết bú rồi ngủ, có lúc nằm yên trong nôi nhìn
người qua lại trong ánh nắng chói chang bụi bặm.
Làm gì thì làm, cứ ba bốn tháng chị út Quắn lại mướn
thảo đơn gởi các nơi để van nài đòi lại nhà đất,
hộ khẩu và giấy tờ tùy thân, để mình không còn là
dân lậu nữa. Đơn gởi đi nhiều lượt, nhưng chưa thấy
ai hỏi han, nhắc nhở đến. Chị út Quắn và anh Tư Xà Lỏn
cảm thấy tủi nhục khi họ bảo rằng mình là dân lậu. Dân
lậu là loại dân không nhà cửa gốc gác, thất tha thất
thểu, không một tờ giấy tùy thân, kẻ khinh người ghét,
đồ trôi sông lạc chợ, ai thấy cũng sợ như sợ phong
cùi hủi lác, truyền nhiễm lây lan không ai dám đến gần.
Chị út Quắn suy nghĩ rằng mình có làm điều gì cho cam.
Cha mẹ sinh ra, sống giữa đồng quê chân chất, lo làm ăn,
không thù ghét ai, không làm điều gì phải can dự hoặc
dính líu đến ai. Một người dân lương thiện như chị
sống trong nghèo đói trơ trọi đã là nạn nhân của quyền
thế, bóc lột, chuyên hiếp đáp dân lành. Mạng sống con
người đâu quí bằng cái sổ hộ khẩu quái đản, cái
thẻ chứng minh nhân dân oái oăm đó!!!.
Muốn được sống yên thân vợ chồng chị út Quắn phải
đóng hụi chết hằng tháng cho tên công an khu vực. Tháng
nào chưa kịp đóng tiền, là y hăm dọa bắt nhốt trả về
khu kinh tế mới, nghiệt ngã đến kêu trời không thấu!!!
Con Chái được ba tuổi, biết đi biết chạy thì tin dữ
lại đến với chị. Anh Tư Xà Lỏn lại chết bất đắc kỳ
tử trên chiếc xe đò đường Saigon - Mỹ Tho. Tài xế bất
cẩn khi xe đổ dốc đầu cầu Bến Lức đã lạc tay lái
chạy vút xuống sông chìm lỉm. Hành khách ngộp ngạt kẹt
cứng trong xe chôn vùi dưới nước. Mấy ngày sau người
ta mới trục được chiếc xe lên, một số người đã
chết và sình lên.
Chị út Quắn khóc sưng mắt. Chị không còn đủ sức đi
tìm xác chồng. Khốn khổ cho chị, chị út Quắn lại suy
nghĩ đến tuổi dần. Đúng là cái tuổi sao quái ác như
thế cứ đeo chị không rời. Có thật phải tin như vậy
không? Tin rồi không tin và lại tin trong vòng lẩn quẩn
đang ám ảnh chị không lối thoát. Đời chị sao hẩm hiu cô
đơn quá! Chỉ mới vài năm đã hai đời chồng rồi! Chị
út Quắn cảm thấy lo sợ. Giờ thì chị sợ kinh khủng!
Lấy chồng mà làm chi để cuộc đời cứ hẩm hiu cho
chính bản thân mình, lại không may mắn cho người đàn ông
thương chị. Thôi thì có được đứa con là niềm vui, là
chỗ dựa cho tuổi già. Chị út Quắn quyết ở vậy để
nuôi con Chái nên người và làm sao cho nó không phải sống
nghèo khổ như chị. Ngày nào đó chị qua đời, còn có
người khóc chị.
Mệt mỏi, hụt hẫng, và mất thăng bằng trong cuộc sống,
trước cái chết đột ngột của anh Tư Xà Lỏn chị không
còn biết bấu víu vào đâu giữa một xã hội đầy bất
công. Chị út Quắn quyết định thu xếp tất cả để đi
một chuyến ra Hà Nội đội đơn khiếu kiện. Lần đi duy
nhất và cuối cùng để gặp mấy ông lớn may ra sẽ giải
quyết được nguyện vọng của chị. Con đường đi xa sẽ
tốn kém nhiều tiền bạc, công sức...để quyết một
lần cho rõ trắng đen...rồi có chết đi cũng mãn nguyện.
Trong cái chái hai vợ chồng chị út Quắn đã ở hơn bốn
năm chẳng có gì thu dọn cả. Những bộ quần áo cũ, nồi
niêu chén bát, chiếu và mền mùng...chị sẽ bỏ lại hết,
chỉ mang theo vài món cần thiết. Chị trả lại căn chái cho
chủ nhà. Vợ chồng ông chủ nhà vừa khánh tận vì chiếc
xe đò bị tai nạn, chẳng giúp được gì cho chị út Quắn.
Hơn bốn năm anh Tư Xà Lỏn làm công, họ giúp chỗ ở trong
lúc ngặt nghèo, để đổi lấy mạng sống của chồng, đó
có phải trả một giá quá đắt không?
Chị út Quắn ẵm con Chái, mang bọc vải sau lưng đi chuyến
tàu suốt Saigon Hà Nội. Chị đã phải mất năm ngày đêm
mới đến nơi. Chị hỏi thăm đường đến khu vực tiếp
dân ở số 1 Mai Xuân Thưởng nằm trong quận Ba Đình, Hà
Nội dâng đơn lên trung ương khiếu nại giải oan. Chị hối
hả vào phòng nhờ người ghi tên hộ vào danh sách cũng vì
chị mù chữ, rồi ra ngoài ngồi chờ đợi đến lượt
gọi tên.
Chị út Quắn hết sức ngỡ ngàng trước cảnh người dân
đổ dồn về đây khiếu kiện đông như kiến cỏ. Chị
cứ ngỡ rằng đâu phải chỉ riêng một mình chị. Họ đang
mất đất, mất nhà, mất tài sản, bị vu oan tù tội, bị
xóa hộ khẩu, bị thu giữ giấy tờ tùy thân, bị tước
bỏ quyền công dân, bị xử oan ức....ôi thôi! vô số lý
do khiếu kiện trong bao nhiêu cảnh đàn áp, bóc lột, tham
nhũng từ mọi cấp cai trị dân ở khắp các địa phương.
Họ đã chờ đợi, họ đã ăn dầm nằm dề có đến vài
năm...mà vẫn chưa được giải quyết. Người dân lúc
nhúc, chen lấn đông đặc xung quanh khu vực tiếp dân
rộng lớn, và họ còn tràn qua lố nhố phủ kín khu Vườn
Hoa Lý Tự Trọng đối diện.
Ngày đêm họ nằm dài dưới đất, trên ghế đá, dưới
bóng cây, mái hiên, ngay cả những nhà vệ sinh công cộng
của thành phố...nấu nướng, ăn uống, tắm rửa bằng
mấy vòi nước tưới hoa của Vườn Hoa, khi có, khi không,
vì không một nhà nào dám chứa chấp họ, họ không có
giấy tờ tùy thân, họ là dân lậu...nên dễ bị kết tội
chứa chấp người bất hợp pháp.
Nhìn khu tập thể người dân về khiếu kiện giải oan
nhốn nháo dưới một góc trời đang phơi mình trong nắng
gắt oi bức, có hôm co ro run rẩy dưới cơn mưa dầm lạnh
cóng để ngóng cổ từng giờ, từng ngày chờ được gọi
tên từ loa phóng thanh...ai ai cũng cảm thấy mình chỉ là
một con vật bất hạnh nhất trên đời. Chị út Quắn cảm
thấy chán ngán và ớn lạnh cho thân phận người dân
thấp cổ bé miệng có kêu trời cũng không thấu. Họ là
như thế, liệu mình có đủ sức chịu đựng trải qua
nhiều ngày tháng như thế này không biết đến chừng
nào. Tìm được một chỗ ngồi, một chỗ nằm để trải
tấm vải bạt trong toàn khu vực tiếp dân ngay cả khu Vườn
Hoa đối diện đâu phải là chuyện dễ dàng. Người
người chực chờ tranh giành nhau để chiếm chỗ. Thỉnh
thoảng bọn bảo vệ, bọn cán bộ trách nhiệm tại khu tiếp
dân và bọn công an đến càn quét xua đuổi gây khó dễ
cũng vì không giữ vệ sinh, xả rác và tiểu tiện bừa
bãi.
Chị út Quắn chờ đã ba tháng rồi vẫn chưa nghe tên mình
trên loa phóng thanh. Chị đã vào hỏi vài lần, nhưng họ
bảo chờ. Chờ và chờ. Không chờ thì ra về. Tiền bạc
mang theo dần dần cạn không biết phải tính sao đây. Chị
nẩy sanh ra chuyện ban ngày ngồi hầu chực hằng giờ nghe
được gọi tên, ban đêm dẫn con Chái theo những người
khác lượm vỏ chai, lon sửa...hoặc đi rửa chén bát thuê,
lau chùi nhà...khắp cùng khu vực để kiếm chút tiền mua
cơm lót dạ.
Thỉnh thoảng các quan chức nhà nước thấy dân khiếu
kiện quá đông gây ồn ào, làm bẩn mắt bẩn tai, làm
mất vẻ đẹp cơ quan công quyền cầm cân nẩy mực, phóng
uế bừa bãi hôi thúi...các ngài đã cầu cứu hàng chục
chiếc xe công an đến lùa người dân lên xe chở đi. Ai
nhanh chân chạy thoát, ai chậm chân bị đẩy lên xe. Chị út
Quắn cũng đồng số phận. Công an chở tất cả ra ngoại
ô Hà Nội xa hằng trăm cây số, nhốt họ hằng tháng trong
các trại tù lớn, bỏ đói bỏ khát mới thả họ ra và
đuổi về nguyên quán, không cho họ trở lại khu tiếp dân
Mai Xuân Thưởng. Hầu hết họ không có tiền đi xe, phải
đành đi bộ từ ngày này sang ngày khác, đói lả, nằm
vật vã dọc đường...và cố lê tấm thân tàn ốm
yếu...để tiếp tục cuộc hành trình khiếu kiện, giải
oan...cho đến bao giờ đạt ước nguyện mới thôi!
*
Qua một năm chờ đợi, chị út Quắn mới được gọi tên
trên loa phóng thanh. Chị hết sức mừng rỡ như người
vừa chết rồi được sống lại. Chị út Quắn được
một tên công an áo vàng dẫn vào văn phòng. Con Chái bốn
tuổi, không được phép theo chị vào cửa quan quyền, vì
tên công an bảo là chỗ tôn nghiêm của các cấp lãnh đạo
lớn làm việc, con nít con nôi không được phép vào. Con
Chái khóc lóc, vùng vằng không chịu rời khỏi mẹ. Nhìn
con, chị út Quắn đau xót từng khúc ruột và chị cũng
không nở bỏ con một mình đứng bên ngoài. Tên công an áo
vàng giục, và y còn hăm he rằng, không chịu để con nít
bên ngoài thì về đị Chị út Quắn phải dỗ ngọt con Chái,
con hãy ngồi chỗ cánh cửa này đừng đi đâu hết, chờ
mẹ vào trong một chút là mẹ sẽ ra ngay với con.
Chị út Quắn bước vào văn phòng có tên công an đi kèm
theo sau. Người chị lem luốc, quần áo vá đùm vá đụp,
đầu tóc rối nùi, đi chân đất, mặt mũi bơ phờ, hôi
hám, bẩn thỉu vì lâu ngày không có nước để tắm rửa
tại khu vực tiếp dân.
Căn phòng có máy lạnh mát rượi, thơm tho. Nền nhà lát
gạch bông bóng loáng sang trọng. Giữa căn phòng là một
cái bàn giấy thật lớn bằng gỗ gụ bóng. Sau bàn là
chiếc ghế nệm bọc da. Một bộ salon màu kem được kê
ở một góc, trên có bình hoa, bộ chén trà và một đĩa
lớn đựng nhiều trái cây chín. Trên các vách treo nhiều
phong cảnh đẹp. Một người đàn ông trung niên, ăn mặc
chỉnh tề, áo veste, cà vạt, giày bóng, đầu tóc chải
mượt, khuôn mặt béo phệ bóng lưởng, thân hình đẫy
đà, đang ngồi trên chiếc ghế nệm da, mắt chăm chú
những tờ giấy trên bàn. Ông ta điềm nhiên không chú ý
sự có mặt của chị út Quắn.
Tên công an ra lệnh chị út Quắn đứng chờ ở góc phòng,
rồi hắn mở cửa bước ra ngoài. Trong căn phòng mát lạnh
sang trọng trước một quan chức tiếp dân trông thật bề
thế, chị út Quắn hơi khớp. Từng phút trôi qua, căn
phòng thật yên tĩnh. Chị cảm thấy mình và vị quan chức
trước mặt kia thật xa lạ và thật cách biệt nghìn
trùng. Chị đang tự ti mặc cảm như thân phận của một can
phạm đang đối diện trước tòa quan lớn. Nơi cửa quan
quyền cao nghìn trùng thăm thẳm, người dân thấp cổ bé
miệng làm sao kêu lên thấu. Chỉ ở bên trong này và ngoài
cánh cửa kia đã có sự khác biệt vô cùng.
Chị út Quắn nghĩ rằng phải làm sao đây để vị quan
chức đầy uy quyền kia thương xót giải quyết thỏa đáng
cho mình. Chị cảm thấy sao quá muôn vàn khó khăn trong giờ
phút quan trọng nhất cuộc đời đang quyết định số
phận. Bất chợt chị cảm thấy run sợ trước quyền lực
con người. Chị lâm râm cầu nguyện thần linh kẻ khuất
mặt phù hộ cho thân phận nhỏ nhoi của chị.
Mười lăm phút hồi hộp lo lắng đi qua. Căn phòng vẫn
hoàn toàn im vắng. Chị út Quắn không còn đứng vững
để chờ. Sức lực trong người chị đã cùng kiệt. Chị
ngồi bệch xuống nền gạch bông mát rượi. Chị cảm thấy
thèm một giấc ngủ ngon trên nền gạch bông bóng mát mà
suốt đời chị chưa bao giờ nhìn thấy được. Chị thèm
giấc ngủ nhưng đôi mắt chị vẫn mở to chòng chọc dán
vào vị quan chức quyền uy trước mặt để chực chờ van
xin. Đôi lần chị muốn mở miệng nói, nhưng lại sợ.
Đột nhiên, vị quan chức ngước nhìn chị út Quắn, hỏi
lớn:
- Ê! chị kia! tên gì?
Chị út Quắn mừng kinh khủng. Nỗi mệt mỏi và buồn ngủ
tan biến. Chị đứng bật dậy rất nhanh, dáng co ro bước
đến gần vị quan chức, tiếng nói của chị đứt quãng:
- Dạ! bẩm ngài! con...con...tên là... Trần... Thị...
Quắn..!
Vị quan chức nhà nước cảm thấy mùi hôi hôi tanh tanh từ
người đàn bà khốn khổ đang bốc ra ám vào mũi ông.
Ông khịt khịt mũi, đưa bàn tay quạt quạt trước mặt.
- Ê, chị kia, đứng tránh xa bàn một chút. Sao không chịu
tắm rửa, ăn mặc sạch sẽ để hầu kiện hả? Hôi hám
quá thế này ai chịu nổi hả chị kia?
Chị út Quắn cúi đầu e lệ, bước lùi vài bước:
- Dạ! thưa ngài! con nghèo quá. Con đã ăn nằm ngoài trời
nắng mưa ở đây hơn năm rồi. Con nghèo khổ lắm ngài
ơi! ngài ơi! ngài rủ lòng thương con..!
Vị quan chức tỏ vẻ không bằng lòng:
- Thôi, đừng dài dòng, chị thưa kiện gì đây? Hả? Nói
lẹ lên.
Chị út Quắn khom người, hai tay vòng lên ngực, cung kính:
- Dạ, thưa ngài, con là người dân chân chất làm thuê làm
mướn bữa đói bữa no ở quê con. Cha mẹ qua đời để
lại cho con sào đất và ngôi nhà tranh vách đất. Đột
nhiên, xã ra lệnh cho con phải đóng thuế nhà, thuế đất,
mức thuế hằng năm cao quá, con kham không nổi. Vì vậy,
xã gán cho con tội phản động, chống "chính quyền cách
mạng", không tuân luật lệ, và tịch thu nhà và đất của
con, gạch bỏ hộ khẩu của con, thu giấy chứng minh nhân
dân của con, tước quyền công dân của con và đuổi con đi
kinh tế mới khổ cực trăm bề. Bây giờ con là người
không có nhà cửa, gốc gác, quê quán, không có công ăn
việc làm, không có giấy tờ tùy thân, không ai chấp
chứa, không ai thuê mướn, con là dân lậu. Con đi tới
đâu cũng bị người ta xô đuổi, coi con như cùi hủi. Con
đã nhiều lần gởi đơn khiếu kiện các nơi mà không ai
giải quyết cho con. Bẩm ngài, con xin ngài rủ lòng thương,
giải quyết cho con lấy lại nhà, lấy lại đất, cho con
nhập hộ khẩu, cho con giấy tờ tùy thân để con có cơ
hội làm ăn sinh sống nuôi con dại. Trăm lạy ngài, trăm
sự kính xin ngài cứu giúp con một phen. Tội cho con lắm
ngài ơi! Trăm lạy ngài rủ lòng thương con, cứu giúp con
một lần, ơn ngài như trời biển, con ghi lòng tạc dạ...!
Vị quan chức đập bàn, quát ầm lên, khiến chị út Quắn
run như cày sấy:
- Rõ đồ khỉ, chuyện nhỏ nhặt thế mà cũng đến đây
làm phiền. Chuyện của chị do địa phương chị làm thì
địa phương chị có trách nhiệm giải quyết. Trung ương
không can dự vào, phiền lòng lắm, nghe chưa chị kia. Chị
đi về mà khiếu nại ở địa phương chị.
Chị út Quắn như muốn ngất xỉu trước "lời chỉ dạy"
của vị quan chức cầm cân nẩy mực. Chị cố lấy sức
nói:
- Thưa ngài, con đã đến xã, huyện, tỉnh khiếu nại
nhiều lần, nhưng họ bảo con ra trung ương mà thưa. Giờ
ngài chỉ dạy như vậy thì con biết đi đâu bây giờ, con
biết kêu cứu vào ai đây. Ngài thương xót con là kẻ bần
cùng đói khổ...ban cho con chút ân huệ...nhỏ nhoi!
Vị quan chức nhà nước trung ương xô ghế, đứng lên,
nét mặt hầm hầm:
- Ê, chị kia, đừng có nói dai. Đã nói rồi, không nghe.
Cút đi. Hết giờ tiếp dân.
Dứt lời ông ta bấm chuông reng reng, tên công an áo vàng
nhanh nhẹn bước vào kéo mạnh chị út Quắn ra khỏi cửa.
Chị út Quắn lảo đảo bước xuống thềm. Cả bầu trời
tối sầm trước mặt chị, chị chẳng còn nhìn thấy lối
đị Chị ngồi bệch xuống đất khóc rấm rức trong đau
khổ và tuyệt vọng. Chị đang cảm thấy cái chết trước
mắt mới giải quyết được nổi oan khiên. Hồi lâu chị
út Quắn như nhớ ra, chị hoảng hốt, dáo dác rảo mắt tìm
con Chái.
- Chái ơi! là Chái ơi!! Chái đâu rồi! Con tôi đâu rồi!
Chái ơi! Con ơi! Con đâu rồi!!
Chị út Quắn vừa khóc bù lu bù loa, vừa kêu tên con thảm
thiết. Chị chạy khắp ngõ ngách lùng sục tìm con Chái.
Vừa tìm, vừa hỏi thăm người này người nọ, nhưng chị
vẫn chưa tìm thấy con Chái. Chị chạy loanh quanh ra đường
lộ ngơ ngác băng qua đường tìm con...trong lúc một
chiếc xe hơi chạy lướt tới...chị út Quắn ngã sấp
dưới lòng xe..máu tuôn xối xả...trước nổi kinh hoàng
của đám người dân đang đứng lố nhố chờ đợi khiếu
kiện...!!!
oOo
|
|