|
Contributed by: Admin |
Views: 12.786
Thế Lữ
Rút từ tập truyện ngắn
Bên đường Thiên lôi, 1936
Chiều hôm đó, tôi ngồi chơi với Ngô Đàm trong phòng
sách của anh tạ Sau một hồi chuyện phiếm, bạn tôi lấy
ra một cái hộp gỗ trắng đem khoe tôi:
- Tôi mới mua được cái này hay lắm.
- Cái gì?
- Rồi anh sẽ biết.
Nắp hộp mở, anh lấy ra một cái đầu lâu lớn, nương
nhẹ đặt lên bàn, rồi nhìn tôi mỉm cười. Tôi hỏi:
- Anh mua vật này làm gì?
Đàm không trả lời ngay, lim dim mắt, gạt tàn thuốc lá và
thong thả nói:
- Cái đầu lâu là biểu hiện sự chết, là một vật mà
các nhà hiền triết hoặc tu hành bên Âu châu thường bày
trước mặt, bên những chồng sách đầy bụi bám để suy
nghiệm về những lẽ huyền bí của "đời sau". Đối với
một nhà thông thái thì đó là một vật khảo cứu cũng
như viên đá lạ, một chất hóa học hay một ống cấy vi
trùng. Tôi không phải là nhà hiền triết, không phải là
nhà tu hành hay nhà thông thái, nên cái đầu lâu đối
với tôi là một thứ bài trí ghê gớm, một thứ đồ...
"mỹ thuật" của người hiếu kỳ như tôi. Nhưng có lẽ trong
những lúc đọc sách ở nơi tĩnh mịch này, trong những khi
suy xét về những điều bí hiểm của sự chết, của đời
người, thứ đồ "bài trí" kia sẽ là một vật kích thích
cho trí tưởng tượng của tôi... Biết đâu bạn anh sẽ
chẳng là một nhà tư tưởng trầm mặc như nhà hiền
triết, nhà tu hành?
Câu nói văn hoa, nửa nghiêm trang, nửa đùa cợt của Đàm
khiến tôi hơi ngạc nhiên, nhìn bạn.
Bỗng cửa phòng bật mở, một người thiếu niên mặc âu
phục bước vào, chưa kịp nói gì đã trông thấy cái đầu
lâu, rồi đứng đực ra đó. Đàm hỏi:
- Kìa, anh Chung, sao hôm nay trông kỳ khôi thế?
Lúc ấy, Chung mới ngoảnh lại sẽ gật đầu chào tôi, rồi
lại trân trân nhìn cái đầu lâu trên bàn, mãi mới nói:
- ồ anh Đàm! Anh cũng có cái này ử
- "Cũng có?" Thế ra tôi không thể có một cái đầu lâu
được sao?
- ồ, thế anh không thấy gì lạ chứ? Anh không thấy gì
ử
Chung ngồi xuống, đưa tay vuốt tóc, mặt hãy còn vẻ lo
lắng, nhìn hết tôi đến Đàm rồi đến cái đầu lâu.
Anh nói:
- Sao lại có sự ngẫu nhiên lạ thường đến thế? Tôi
đến đây cũng định thuật cho anh nghe về cái đầu lâu
ở nhà tôi... thì lại gặp ngay chính vật này... Chính cái
đầu lâu này. Tôi đã tưởng nó đang ở nhà tôi biến
lại đây, nên tôi mới sửng sốt đến thế. Để tôi kể
đầu đuôi câu chuyện các anh nghe.
Chung lấy chén nước uống cạn một hơi, lóng cóng châm
điếu thuốc lá rồi nói tiếp:
"Trước kia tôi vẫn ở trên Hàng Bông như anh đã biết.
Nhưng cách đây nửa tháng, anh Lịch là người học trường
Mỹ thuật mới ra năm nay, tìm được một cái nhà ngói ở
ngoại ô để làm phòng vẽ. Nhà ấy một tầng chia làm hai
căn rộng. Lịch ở một căn còn một căn gọi anh Thao học
năm thứ hai trường thuốc với tôi đến ở cho vui và
chịu đỡ Lịch ít tiền thuê nhà.
Chỗ này ở xa thành phố, chung quanh toàn bãi cỏ, một
mặt ngoảnh ra phía đường cái. ở chỗ yên tĩnh như thế
để học hành, lại rẻ tiền nhà, mà có hai người bạn
cùng nhã nhặn tử tế cả thì còn gì dễ chịu hơn. Tôi
không bao giờ phàn nàn nếu trưa hôm kia anh Thao không có
cái ý kiến kỳ quặc đem về nhà một cái đầu lâu.
Đầu lâu thì tôi không lạ gì. Hồi còn học trường
Bưởi, tôi đã được trông thấy nhiều lần ở phòng
thí nghiệm. Nhưng cái mà anh Thao lấy ở nhà thương về
lại là của một tên tù mới chết, trông còn mới, trắng
hơn cái này nhiều, mà xương chưa được khô lắm. Thao
xem ra quý hóa cái vật quái gở ấy lắm. Tôi thì không.
Tôi thoạt trông thấy nó bỗng ghê rợn cả người... Có
lẽ vì tôi thoáng nghĩ đến cảnh hiu quạnh chung quanh nhà
của chúng tôi, hay có lẽ tôi vừa mới đọc xong những
truyện linh hồn hiển hiện anh cho mượn ngày trước...
Cái đầu lâu đặt trên bàn học anh Thao kê gần cửa sổ
lúc nào cũng như chăm chú nhìn tôi bằng hai con mắt đen
và rỗng, mà hai hàm răng thì nhe ra một cách chế giễu
độc địa. Tôi có cái cảm giác khó chịu hình như "nó"
biết cả những điều tôi nghĩ thầm. Tôi sinh ác cảm với
"nó" và chắc hẳn "nó" cũng không ưa gì tôi. Cái vật
trơ trơ kia không ngờ lại làm tôi băn khoăn đến thế.
Tôi lấy đủ các nhẽ để tự nhủ mình cũng không xong, mà
nỗi lo ngại của tôi mỗi lúc một thêm nặng nề như đè
nén mãi lòng mình.
Tối hôm ấy, thấy bứt rứt trong người, để Thao ngồi
học một mình, tôi đi nằm trước. Anh Lịch ở phòng bên
cạnh vào nói mấy câu chuyện rồi lại ra ngay. Tôi nằm
đó chừng đến hơn một giờ đồng hồ mới ngủ đi
được. Nhưng cả trong giấc ngủ, tôi vẫn bị cái đầu
lâu kia ám ảnh hoài. Tôi nằm mơ toàn thấy những đầu
lâu với xương người, hay những cái ghê sợ hơn thế.
Một lần tôi hốt hoảng thức dậy thì ngọn đèn cây trên
bàn học anh Thao đã tắt, trong nhà tối đen như bưng lấy
mắt, bên ngoài cũng vậy, vì tôi cố tìm cái cửa sổ
chấn song sắt cũng không trông thấy đâu. Bên cạnh tôi
anh Thao chừng đã ngủ say, tiếng thở đều và thong thả.
Thỉnh thoảng một tiếng ngáy ở buồng anh Lịch lại đưa
sang. Mọi vật quanh nhà đều im lìm. Không một tiếng lá
bay, không một hơi gió thoảng. Tôi muốn quên mà không
thể quên cái đầu lâu kia được. Tôi thấy hình như nó
có tri giác, nó "vẫn còn thức" và trong bóng tối, đang
nhăn răng tráo mắt nhìn sự kinh khiếp của tôi.
Bỗng nhiên tôi thấy lạnh tái người đi. Từ phía bàn
giấy anh Thao, tôi chợt nghe thấy những tiếng ken két như
hai hàm răng nghiến vào nhau. Tiếng ấy nghe mỗi lúc một
rõ dần, mà lâu đến gần một phút. Trước tôi còn
muốn tin là tiếng anh Thao nghiến răng trong mợ Nhưng Thao
nằm bên cạnh tôi, mà tiếng kia thì rõ ràng ở bàn giấy
đưa lại. Tiếng nghiến răng vẫn không dứt, nghe ra giận
dữ và ghê gớm hơn lên... Tôi vội nắm lấy cánh tay anh
Thao, hết sức lay. Thao thức dậy hỏi thì tiếng nghiến
răng lại ngừng bặt. Tôi ghé tai Thao nói rất nhỏ:
- Này Thao ạ, tôi vừa thấy một việc lạ quá!
- ở đâu?
- ở cái đầu lâu.
- Có lẽ nào?
- Cứ để yên mà nghe.
Rồi chúng tôi không nói gì thêm, lắng tai nghe ngóng một
lúc thì lại thấy như trước, tiếng nghiến răng cứ
trước nhỏ, sau to dần. Thao liền đứng phắt lên, chạy
lại bàn đánh diêm thắp đèn: cái đầu lâu vẫn nguyên
chỗ cũ, nhưng lúc ấy ngoảnh mặt nhìn về phía giường
tôi nằm.
Chúng tôi nhìn khắp nhà một lượt. Không có gì lạ. Cửa
sang phòng anh Lịch vẫn đóng kín. Của sổ tuy không có
cánh, nhưng có chấn song sắt, mà cái bàn giấy của Thao
kê xa đó những năm sáu bước, áp vào bức tường đối
diện với giường của chúng tôi.
Thao bảo tôi rằng những tiếng vừa rồi là tiếng chuột
gặm, nhưng chính anh cũng biết nhà chúng tôi không có qua
một con chuột nào. Và cái tiếng lúc nẫy nghe to, nghe rõ
một cách khác thường lắm.
Thao thấy tôi lo ngại cũng không bình tĩnh được, nhưng
anh cố tìm lời an ủi tôi.
Chúng tôi để đèn rất lâu chờ xem, song không thấy gì.
Nhưng khi tắt đèn lên giường nằm chưa đầy nửa giờ,
thì cái tiếng nghiến răng lúc nãy lại bắt đầu, mà
lần này thêm dữ dội.
Lúc ấy, cây đèn để ngay cạnh giường ngủ. Tôi chập ba
que diêm làm một bật lên thắp. Trông sang bàn giấy thì
cái đầu lâu đang lắc lư như thằng phỗng nhựa của trẻ
con chơi!
Ngô Đàm bỗng phì cười lên thì Chung có ý không bằng
lòng.
"Quả thế, cái đầu lâu cứ nhăn nhở, lắc lư đến nửa
phút. Mà chả có gì đáng cười hết. Chính anh Thao là
người không sợ gì cả, lúc ấy cũng phải kinh ngạc mà
nhìn tôi.
Suốt đêm ấy, chúng tôi không ngủ, cứ để đèn ngồi
rình thì lại không thấy xảy ra việc gì nữa.
Sáng hôm sau (tức là hôm qua) chúng tôi nói chuyện ấy cho
anh Lịch nghe thì anh cũng không tin. Sau thấy tôi nhất
định nài anh Thao đem cái đầu lâu vứt đi, Lịch mới cho
là chuyện có thực. Nhưng anh nói:
- Đã thế thì để đêm nay tôi cũng rình xem, rồi có
thế nào vứt đi cũng không muộn.
Thì đêm qua cũng lại giống đêm trước. Cứ tắt đèn
được một lúc lại thấy cái đầu lâu nghiến răng ken
két mà thắp đèn lên lại thôi.
Tôi nhân đọc các sách anh cho mượn và gần đây lại
được đọc một đoạn dật sử về hồi đại cách mệnh
Pháp, thấy kể chuyện những thủ cấp sau ba, bốn giờ
vẫn còn sống được, nên tôi càng cho việc cái đầu
lâu kia nghiến răng là một việc phi thường. Bây giờ
thì tôi tò mò hơn là khiếp sợ. Tôi bảo Thao cứ để
yên cái đầu đấy và đến rủ anh ngủ ở nhà chúng tôi
một tối xem. Tôi vẫn biết anh hay để ý đến những
thứ chuyện kỳ dị này lắm".
*
Ngô Đàm vui lòng nhận lời. Tôi cũng ngỏ ý muốn đi với
anh ta một thể và cùng hẹn đến tối sẽ có mặt ở nhà
anh Chung.
Lúc Chung ra khỏi, Đàm xoa tay mỉm cười một mình. Tôi hỏi
ý anh về chuyện vừa rồi ra sao, thì Đàm chỉ nhún vai,
nói:
- Tôi sợ không gặp được cái ly kỳ như anh Chung nói,
không khéo lại chỉ là một câu chuyện buồn cười thôi.
Nhưng dẫu sao, ta cứ đi xem, không biết đâu mà nói
trước được.
Bẩy giờ rưỡi hôm ấy chúng tôi đến nhà thì các anh
Thao, Chung và Lịch đang ăn cơm ở phòng vẽ của Lịch. Đàm
đứng xem mấy bức vẽ than của Lịch được chừng năm
phút thì các anh ăn xong. Chúng tôi sang cả phòng bên kia
nói chuyện.
Trước hết, Đàm đi lại bên bàn cầm cái đầu lâu ngắm
nghía mãi. Mặt anh có vẻ nghiêm trang như nhà thông thái
đang khảo cứu, nhưng đôi mắt tươi cười một cách hóm
hỉnh. Bỗng anh quay lại hỏi Lịch:
- Anh có thấy gì lạ ở cái đầu lâu này không?
- Không.
- Giá lúc anh cầm nó lên xem, anh chú ý chút nữa, thì
thấy bốn chiếc răng trong cùng hà gần một nửa.
Lịch ngạc nhiên hỏi:
- Nhưng sao anh lại biết tôi đã cầm lên xem?
- Có gì là lạ. Anh cầm lên xem cẩn thận lắm, nhưng lúc
chực bỏ cái quai hàm dưới ra để xem bộ răng thì
trượt tay suýt đánh rơi xuống bàn. Có phải không?
- Phải. Nhưng sao anh biết?
- Tôi thường đọc sách của Conan Doyle, nên cũng tập
được một đôi chút tỉ mỉ. Những vết đen này là bởi
than vẽ ở ngón tay anh ra.. Chỉ cần để ý một chút cũng
thấy được. Anh đang vẽ ở phòng ngoài chắc chợt nghĩ
đến cái đầu lâu, nên vào xem thử chứ gì?
Rồi Đàm đi khắp gian nhà, cúi nhìn các chân tường một
cách cẩn thận như người đi tìm một vật quý đánh
rơi. Anh lại nhờ Lịch cầm đèn ở phòng bên sang, còn tự
anh cũng cầm cây đèn bên cạnh cái đầu lâu, và bảo dẫn
đi xem chung quanh nhà.
Bên ngoài tối như mực. Trên trời mây ám không có một
ánh sao nào. Ngoài một hàng dóc rào mau, xa xa thấy một
đám sáng chiếu lên: đó là thành phố Hà Nội. Sau một
cuộc tìm xét rất kỹ càng, nhưng rất vô ích, Đàm đạo
mạo như một nhà trinh thám, bước vào trong nhà rồi xoa
hai tay vào với nhau. Thốt nhiên, như sực nghĩ ra điều
gì, anh nói:
- Tôi khờ quá, không đem cái đèn bấm ở nhà tôi lại.
Thao nói:
- Hay để tôi lên phố mượn?
- Anh chắc có mượn được không. Thôi để tôi về nhà
lấy vậy. Phiền thực, nhưng thế chắc chắn hơn.
Lúc Đàm trở lại thì đã gần mười một giờ: anh đi
nửa đường thì xe đạp nổ bánh.
Chúng tôi để sẵn diêm với đèn gần tầm tay. Cái đèn
bấm Đàm trao cho Chung, còn anh ta thì ngồi ở một cái
ghế thấp bên cạnh cửa sang phòng anh Lịch. Trước khi
tắt đèn, Đàm dặn chúng tôi không ai được làm gì,
nếu không có lời anh ấy bảo.
Đèn tắt. Bóng tối dầy đặc trong nhà. Tôi đưa tay lên
tận mắt cũng không trông thấy. Thao với Lịch nằm sát
vách, còn Chung và tôi thì ngồi ở mép giường. Không ai
nói qua một lời. Tôi nghe hơi thở của Chung thì biết anh
ta hồi hộp lắm.
Cái lo ngại dần dần ám đến. Mà sự yên lặng ở gian
phòng có nhiều người này lại càng có vẻ khác thường.
Chúng tôi cùng hết sức lắng tai, tiếng đồng hồ đeo
ở tay anh Lịch nghe rõ mồn một. Tôi đếm tiếng tích
tắc để biết thời giờ, nhưng mãi cũng sinh chán, và
trong lòng lúc ấy thấy nôn nao một cách lạ. Tâm linh hình
như bị kích thích và hình như báo cho tôi biết trước có
một điều ghê gớm sắp xẩy ra...
Có lẽ chúng tôi ngồi đó đã ngót một giờ, có lẽ lâu
hơn nữa; mà tịnh không thấy một tiếng động nào hết.
Hai anh Thao và Lịch chừng như đã ngủ, tôi đưa tay định
xem họ còn thức không thì bỗng Chung nắm chặt lấy cánh
tay tôi, nói khẽ quá đến nỗi tôi phải đoán ra chứ
không nghe rõ:
"Im! Nghe!"
Tôi chú ý nghe thì quả nhiên thấy có tiếng ken két
nghiến răng thực. Lúc ấy tôi mới hiểu cái khiếp sợ
của Chung. Lúc ấy tôi mới thấy rõ ràng cái ghê rợn của
người gặp ma quái. Tay Chung vẫn nắm chặt lấy cánh tay
tôi, nhưng hơi run run. Còn tôi thì cứ muốn quát to lên,
quát rất lớn để phá tan cái yên lặng ghê gớm lúc
đó.
Thấy hơi nóng ở sau gáy, tôi biết hai anh Thao và Lịch
đã ngồi dậy. Tôi tráo mắt nhìn bóng tối đen đặc và
mỗi lúc tưởng thấy hình thù dị thường hiện lên.
Tiếng nghiến răng càng lâu càng rõ thêm. Thỉnh thoảng
ngừng lại một giây rồi lại nghiến nữa. Đàm ngồi trên
chiếc ghế gần đó có lẽ cũng sinh nát đảm: chúng tôi
không trông thấy anh, mà đợi mãi cũng không thấy anh bảo
sao.
Hốt nhiên, từ phía đầu lâu, một tiếng quái gở gào
lên trong những tiếng cười nghe sởn tóc gáy. Mọi người
đều vùng dậy, tôi không đợi anh Đàm nữa, vớ lấy
diêm đánh, mà Chung cũng bật đèn bấm lên.
Cái đầu lâu lắc lư như điên cuồng, và ngay cạnh đấy,
một vật đen ngòm đang giẫy giụa. Mắt chúng tôi khi đã
đỡ chói thì nhận ra đó là một con mèo đen bị giữ
trong tay Đàm.
Đám lúc ấy, tay thì giữ mèo trên bàn, nhưng người thì
ở dưới gầm bàn. Anh cả cười lách chui ra, vừa gặp
lúc chúng tôi ồ cả lại. Con mèo giương mắt kinh hãi nhìn
chúng tôi. Một con mèo to, đen, mà gầy, lông mọc xờ xạc
không đều và không mượt.
"Đấy (lời Đàm nói) cái quái dị mấy hôm chỉ là ở con
vật đói khốn nạn này mà ra cả. Các anh nên nhớ rằng
cái đầu lâu vô tri giác kia còn mới, mới luộc xong,
vẫn còn hơi thịt... Từ lúc anh Chung mới kể chuyện, tôi
đã ngờ thế... Đến lúc xem lại cái đầu lâu với cái
cửa sổ không có cánh này, thì tôi đã hơi chắc. Mà bây
giờ thì đã nắm được, hì! Đã nắm được "điều
huyền bí" ở trong tay".
Sự lo sợ của chúng tôi bấy giờ lại đổi ra sự kinh
ngạc. Vì có ngờ đâu câu chuyện kỳ quái ấy chỉ gây nên
bởi một con mèo.
|