|
Contributed by: Admin |
Views: 3.331
Thế Lữ
Rút từ tập truyện ngắn
Bên đường thiên lôi, 1936.
Nhân nói đến những sự nhũng nhiễu trên tầu thủy,
người đàn ông trạc năm mươi tuổi, mặc áo bông đoạn,
đeo kính trắng gọng vàng, trông ra vẻ một ông ký về
hưu, nằm hút thuốc phiện trong phòng hạng ba của chiếc
tầu chạy Hòn Gai, có kể cho tôi câu chuyện như sau.
Tôi biết một người kẻ cắp rất giỏi, tên là hai Nhiêu,
người Ninh Bình. Bác ta rất thông minh, thiệp nhã, lại
"quân tử" nữa. Quân tử trong phường kẻ cắp - cố
nhiên. Không bao giờ bác thèm lấy của người nghèo. Ăn
cắp đối với bác không phải là một nghề kiếm cơm,
đó chỉ là một cách giải trí của tay chơi, hay có thể
nói là một... "nghệ thuật". Bởi thế việc lấy cắp
càng khó, càng nguy hiểm, hai Nhiêu càng thích. Bác ta khi
đã "nhằm" món nào, tất món ấy phải lắm tiền, mà đã
cố ý lấy tất không bao giờ hụt.
Từ lúc mới quen nhau do một sự ngẫu nhiên - quen nhau kể
đã có trên mười năm nay - hai Nhiêu không giấu tôi cái
chí hướng thích ăn cắp ấy. Nằm đối diện bên bàn
đèn, bác ta thường đem những "công cuộc hành động"
của mình thuật lại với tôi. Nhiều chuyện ly kỳ và lý
thú lắm, kể không xiết được. Nhưng tôi chỉ chú ý
đến chuyện này, vì nó khác thường hơn; hai Nhiêu
thường nhắc lại luôn và gọi đó là một cái khờ đáng
tức cười, một sự "thất bại" của mình lần thứ nhất.
Hồi ấy hai Nhiêu đang trổ tài nghệ trong mấy sòng bạc
ở Hải Phòng. Bác ta thí nghiệm ngón khôn khéo trên túi ai
là cái túi ấy sẽ phải rỗng. Nhưng bác lại có tính máu
mê, được đồng nào của con bạc thì lại nướng cho nhà
cái hết. Đang lúc lập một mưu "chưa xuất bản" để ăn
to, bỗng có tin nhà ra báo cho biết rằng vợ hai Nhiêu ốm
nặng.
Là ăn cắp, nhưng cũng là chồng tốt, hai Nhiêu phải đến
vay tạm tôi dăm đồng để về thuốc thang cho vợ. Rồi
ngay chiều hôm đó đi tầu thủy xuôi Nam. Xuống đến
tầu, công việc thứ nhất của bác là đi xem xét mọi nơi:
bác ta mong gặp được cái may có thể giúp mình được
ít tiền nữa. Nhưng hành khách tuy đông mà không người
nào có "máu mặt". Phần nhiều là người buôn bán nhỏ,
túi tiền không xứng đáng với tài hoa của bác; hay những
người phu mỏ ốm dở trở về. Hai Nhiêu thấy họ lại
cẩn thận đề phòng giữ gìn các gói hành lý hoặc đồ
đạc và thấy một vài tên ăn cắp quèn lảng vảng trong
đám ấy thì bĩu môi ra dáng khinh bỉ. Bác thong thả đến
ghế ngồi trên mép chiếu ở gần buồng máy, uể oải
mượn cái điếu cầy rít một hơi, rồi ngả lưng dựa
vào cái cột sắt ngủ gà ngủ gật cho đến khi trong tầu
lên đèn.
Bỗng những tiếng ồn ào gần đó nổi lên. Anh chàng mở
độc một mắt ra coi rồi lại nhắm lại. Nhưng tiếng ồn
ào lại thành tiếng quát mắng lẫn tiếng van lơn. Bác khó
chịu, phải mở cả hai mắt ra thì thấy người mại bản
đang xỉa xói một người nhà quê thiếu tiền tàu và
nhất định đuổi người ta xuống. Hai Nhiêu bực mình
quá, đứng lên can thiệp, thì người nhà quê kia lạy lấy
lạy để, vừa nhăn vừa kêu:
- Bẩm ông, con về Nam nhưng thiếu mất một hào. Con nói
với chú ấy cho chịu đến khi lên bến, con vay con trả, mà
chú ấy không nghe.
Tên Khách thì cứ luôn mồm:
- Cái lày ti tầu, không cố tền thì ti làm gì? Không! Cái
lày phải xuống tây, không có lôi thôi.
Người nhà quê lại hết lời nói khéo mà tên Khách vẫn
nhất mực không nghe, sau hai Nhiêu phải gắt:
- Thì người ta đến bến là có tiền, việc gì mà phải
làm dữ thế. Hay là giữ lấy hành lý của người ta để
người ta chuộc sau không được ử
Tên Khách lườm:
- Cái nị không có piết! Hằng lý nó có cái này thì lấy
làm gì!
Người nhà quê chỉ có một cái lồng gà rỗng, với trong
đó một gói mo chừng đựng cơm nắm, và hai cái nồi
đất mới, miệng bưng bằng giấy nhật trình.
Hai Nhiêu đã hối hận vì trót dây vào việc này, lại cứ
bị người nhà quê bíu lấy kêu nài mãi.
- Ông làm ơn nói với chú ấy hộ. Con thế nào cũng vay
trả chú ấy, chứ bắt con xuống bến này bây giờ, thì
khổ cho con quá. Con lạy ông.
Còn người Khách thì cứ:
- Lạy ông! Lạy ông! Cái lày cố tền ti tầu thì ti tầu
mà không cố thì từng tị.. lạy ông cái gì cơ lớ!
Rồi hăm hở toan túm lấy ngực người đàn ông kia lôi
đi.
Sự bất bình liền sôi trong máu hai Nhiêu. Bác ta chợt
thấy mình là người anh hùng kẻ cả, liền gạt anh Khách
ra, rút một tờ giấy bạc quăng vào mặt nó, hách dịch
nói:
- Bán một cái vé về Nam Định, giữ lấy một hào của
người này nữa, rồi trả lại tiền.
Tên Khách đưa vé xong vừa lẩm bẩm quay đi thì hai Nhiêu
giữ vai kéo hắn lại:
- Từ nay phải nhã nhặn với khách đi tầu chút nữa, nghe
không?
Nói đoạn, bác ta về chỗ cũ ngồi, làm bộ không thèm
để ý đến những câu trầm trồ khen ngợi của mọi
người gần đó.
Người nhà quê thì cám ơn đi, cám ơn lại, đưa cái
điếu cầy mời Nhiêu hút và xin miếng trầu của một bà
ngồi bên cạnh mời Nhiêu ăn. Lại đem nông nỗi làm ăn
vất vả kể với Nhiêu để che sự hổ thẹn thiếu tiền
tầu lúc nãy. Lúc hai Nhiêu thoát được những lời tử
tế thái quá ấy thì người nhà quê lại đem cái lồng gà
đến bên như ý gửi mình coi hộ, rồi đi ra đằng lái
tầu.
Hai Nhiêu ngồi bật cười một mình, không ngờ đâu
người mà ai cũng chê cũng ghét, nay lại là người được
người ta yêu trọng đến thế. Bác ta lẩm bẩm nói:
"Giả thử ngài có của nhét chật túi chứ không có mấy
cái nồi đất kia, thì có lẽ ngài phải chửi đến mấy
đời ông tổ nhà tôi chứ chẳng không".
Rồi nhớ đến những ngón khôn khéo, gian giảo của bác ta
từ trước đến nay, bác ta thấy việc vừa rồi làm cho
trái tim kẻ cắp của bác hơi cảm động. Không phải là vì
bác đã làm được một điều thiện - thiện với chẳng
thiện thì Nhiêu có cần gì? - nhưng vì thấy cái cảm giác
đầu tiên được những người hiền lành kia tin bác một
cách chân thực. Hai Nhiêu nghĩ bụng:
"Hoài của! Giá bọn này nhiều tiền thì chỉ đưa tay một
cái cũng lấy được như bỡn, không phải lừa lọc, rình
mò".
Đợi mãi người nhà quê không trở lại, hai Nhiêu ngoảnh
nhìn bốn phía thì thấy người ấy nằm ngay cạnh đó,
đã ngủ một giấc bình yên! Bác ta bĩu mội bật ra một
tiếng cười khẽ rồi cũng dẹp chỗ ngủ nốt.
Sáng hôm sau thức dậy, hai Nhiêu đã quên việc tối hôm
quạ Tầu tới Nam Định, bác ta vừa bước lên bến, thì
người nhà quê tay xách cái lồng gà rỗng, đã đứng
chờ đó và mời bác lên xơi với hắn một chén nước
cám ơn.
- Đến đây thì chúng tôi đã có nhiều người quen, chúng
tôi sẽ trả lại số tiền ông cho giật hôm qua với lại xin
ông để chúng tôi đền đáp lại ông một chút.
Hai Nhiêu nóng về Ninh Bình ngay nhưng từ chối thế nào
người nhà quê cũng không nghe:
- Chả mấy khi gặp người tử tế như ông, nếu ông không
cho tôi được trả ơn, thì tôi ân hận mãi... Nào, mời
ông, xin ông đừng từ chối, phụ lòng tôi.
Thấy vẻ chân thực của người nhà quê và biết không khi
nào họ để cho mình đi ngay, hai Nhiêu phải ưng theo vậy.
Người nhà quê mừng rỡ:
- Thế thì quý hóa quá! Chúng tôi chẳng dám phiền giữ
ông lâu...
- Nào có gì mà bác phải bày vẽ ra...
- Không, nếu không có ông thì hôm qua chúng tôi bị rày rà
lắm.
Câu lễ phép đi, câu lễ phép hơn đáp lại; cứ thế
đến chừng năm phút, khi hai người bước tới hàng cơm
gần đó thì câu chuyện kết luận bằng một câu không
lễ phép mấy, nhưng nghe cũng vui tai:
- Bà hàng đâu, bà dọn cho tôi một mâm rượu thực tươm
tất ấy nhé, mà làm mau lên, ông quý khách của tôi vội.
Hai Nhiêu ngạc nhiên, bụng bảo dạ:
"Có lẽ nào một người đi tầu thiếu tiền mà lại dám
tiêu rộng rãi đến thế, hay là họ lại định nhờ khéo
mình thêm một bữa cơm nữa đấy?".
Nhưng thấy bà hàng ra chiều quen thuộc người nhà quê,
nên Nhiêu ta cũng yên bụng. Uống xong một bát nước,
người nhà quê bỗng gọi bảo một người nhà quê khác
đứng chờ đó, đưa cho hắn cái lồng đựng gói mo cau
với hai cái nồi đất:
- Chú Ba về làng trước, đưa cái này cho bu nó cất đi,
tôi còn bận một chút, xong về ngay.
Rồi quay lại bảo hai Nhiêu:
- Nào bây giờ mời ông vào hàng, xơi với tôi chút cơm
rồi tôi lại xin tiễn ông lên đường không dám giữ.
Cơm rượu xong, thấy người nhà quê mở hầu bao ra chi
tiền cơm, hai Nhiêu không hiểu ra sao, toan hỏi nhưng sợ
bất tiện. Đến lúc đưa chân ra ga, người kia lại nhất
định nài lấy vé cho mình. Hai Nhiêu lại càng kinh ngạc.
Người nhà quê thấy vậy mỉm cười và thong thả nói:
- Thưa ông, ông lấy làm lạ cũng phải. Nhưng việc thiếu
tiền hôm qua, chỉ là một mẹo đấy thôi. Tầu Chấn Dinh
này có tiếng là lắm kẻ cắp. Chúng tôi có tiền mang theo
mà không làm thế, thì giữ sao được của mình?
- Vâng, nhưng tôi thấy ông chỉ mang có hai, ba đồng thì
tội gì phải thế?
- Nếu hai, ba đồng thì cất đâu chẳng được. Đây tôi
lại dồn một món tiền lớn về để mua cái phó lý cho
tôi, lo cưới vợ cho thằng cháu, lo khao, lo vọng...
- ồ thế rạ..
- Vâng, tôi về chuyến này đem những ngót năm trăm bạc,
mà để kẻ cắp biết, thì tôi có khi cũng không về
được tới nhà.
- Nhưng... ông giắt trong mình thì...
- Chết! Giắt trong mình nguy hiểm lắm. Tôi phải bỏ vào
một cái nồi đất trong cái lồng chú nó đem về ban nãy
đó.
Rồi vừa cười, người nhà quê vừa tiếp:
- Cái lồng gà với mấy cái nồi, mà lại của một anh nhà
quê không có lấy một hào để trả tiền tầu... ông tính
còn kẻ cắp nào để ý đến nữa. Nếu tôi không nghĩ
đến kế ấy thì ngủ yên sao được... mà nếu không làm
thế thì sao tôi được gặp người quý hóa như ông.
Xe lửa về đến ga, hai Nhiêu bước lên toa ngồi mà vẫn
còn choáng người đi vì tiếc của. Bác ta tìm hết tiếng
độc địa để rủa cái trí khôn ngu ngốc của mình và tự
hứa rằng lần sau đi tầu, không nên coi thường những
cái lồng gà trong đựng có hai cái nồi đất.
Rút từ tập truyện ngắn
Bên đường thiên lôi, 1936.
|