|
Contributed by: Admin |
Views: 2.842
hoànglonghải/tuệchương
".... Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ"
(Ca dao)
Trình bày:
Các nhà sử học nước ta, và cả Trung Hoa cũng vậy, khi
chép sử, họ thường có khuynh hướng ghi lại lịch sử
một triều đại hơn là lịch sử của cả một dân tộc, coi
như lịch sử của triều đại nào đó là lich sử của dân
tộc đó. ...
... Vẫn biết một triều đại cai trị là nắm lấy vận
mệnh một dân tộc, việc sống chết của một ông vua là
quan trọng, thần dân chỉ biết ngoan ngoãn tuân theo lệnh
vua; các biến cố lớn ở tại triều đình có ảnh hưởng
trên toàn bộ đất nước. Tuy nhiên, việc người chép
sử không bàn tới hay chỉ nói qua đời sống người dân
thường thì đó là một thiếu sót quan trọng vậy. Ví dụ
như sử chép rành rẽ vua Minh Mạng tên thật là gì, sinh
năm nào, lên ngôi năm nào, băng hà năm nào, có bao nhiêu
hoàng hậu, cung phi mỹ nữ, có bao nhiêu con trai con gái,
nhiều chi tiết nhiều khi thậm vô ích, trong khi nhà vua ban
ra một chiếu, làm kinh động nhân dân, làm bao nhiêu
người lo lắng hốt hoảng, tác động không ít đến đời
sống thường nhựt người dân mà sử sách chẳng bàn qua
một hàng thì đó là một thiếu sót lớn vậy. Ví dụ sự
kiện:
Tháng sáu có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Mà đi lột lấy quần chồng sao đang!
Minh Mạng làm vua từ 1820 đến 1840. Lúc đó Âu Mỹ đã văn
minh rồi, vậy mà dân nước ta còn thiếu quần mặc. Cũng
để chứng tỏ là một dân tộc văn hiến, Minh Mạng cấm
đàn bà mặc váy (người dân gọi mỉa là quần không
đáy). Dân không có tiền để mua vải may quần (hay không
đủ vải để cho dân mua) mà xảy ra sự "hãi hùng" như trong
câu ca dao nói trên thì không thấy nói rõ.
Bên cạnh đó, có nhiều điều được chép trong chính sử
và cũng có nhiều điều nằm trong dã sử. Chính sử là
một quyển sách hay một bộ sách do một hay hai, hay nhiều
người viết và dĩ nhiên không thiếu chủ quan, tâng bốc
nịnh hót và tuyên truyền, bôi lọ. Dã sử là lịch sử sao
chép bằng miệng, là những câu chuyện lịch sử, nói về
các nhân vật lịch sử. Câu chuyện được truyền qua
nhiều đời, bị cắt xén thêm bớt, sao cho phù hợp với
tâm lý người kể, nhưng dù sao thì bản chất sự kiện,
nhân vật không khác đi được. Một câu chuyện dã sử
thuật lại cái hay của một hành động, một lời nói,
một con người thì dù câu chuyện có được thêm bớt
như thế nào, thì ỏtinh chấtõ của nó vẫn vậy.
Nghĩ như thế nên tôi chép lại đây những câu chuyện
người dân Huế kể về chí sĩ Ngô Đình Diệm. Tôi dùng
chữ chí sĩ là có dụng ý, nghĩa là tôi chỉ thuật những
câu chuyện lưu truyền trong dân Huế khi ông được họ
gọi một cách tôn kính là ỏchí sĩõ. Và tôi cũng thuật
thêm một vài chuyện về những người trong gia đình ông
có liên hệ đến ông mà thôi. Còn như việc ông làm
Tổng Thống, người ta viết cũng nhiều, khen cũng có mà
chê cũng không ít, miễn sao thỏa mãn cái ý đồ riêng tư
của người viết mà thôi, còn sự thực thì... bị bóp méo
đến độ đau lòng!!!
Phải nói tới người dân Huế trước khi nói tới những
câu chuyện lưu truyền trong dân Huế về chí sĩ Ngô Đình
Diệm để thấy sự trung thực.
Mặc dù những phong trào chống Pháp như Phong trào Cần
vương, Phong trào Văn thân, Phong trào chống thuế hoặc
đám tang cụ Phan Chu Trinh, ở Huế không mãnh liệt như các
nơi khác, như ở Quảng Nam chẳng hạn, nhưng kể từ khi vua
Tự Đức băng hà 1883 cho đến cuộc khởi nghĩa thất bại
của vua Duy Tân 1916, người dân Huế chứng kiến không
biết bao nhiêu tai biến từ trong triều đình cho đến
ngoài xã hội. Các hoàng tử thì "nồi da xáo thịt", chỉ
có mấy tháng mà mấy ông vua bị giết (tứ nguyệt tam
vương). Sau nầy người ta còn nhắc tới chuyện vua Hàm
Nghi (tên là Ưng Lịch), mới 16 tuổi nhà ở phía ngoài
cửa Đông Ba, đang chơi đánh khăn (Huế gọi là đánh
căng) với bạn bỗng có xa giá tới rước vào đại nội
làm vua, khiến bà mẹ sợ con mình cũng lâm vào cảnh "Tứ
nguyệt tam vương" mà khóc lóc thảm thiết. (Xem thêm "Vua
Hàm Nghi" của Phan Trần Chúc), hoặc cũng chuyện vua Hàm
Nghi bị Trương quang Ngọc làm phản bắt giao cho Tây. Vua bị
nhốt trong thành Mang Cá, một mực chối rằng mình không
phải là vuạ "Nhưng đến lúc vào trong buồng ngồi một
mình, thì hai hàng nước mắt chứa chan, buồn vì nỗi
nước đổ nhà tan, thân mình phải nhiều nỗi gian truân."
(VN Sử Lược, Trần Trọng Kim, tập 2, trang 338).
Không như
bây giờ, Tây không có hình hay có bản lăn chỉ tay để
xác minh lời khai của người tù. Bọn Tây xỏ lá, hoặc
không biết có ông quan VN nào bày mưu mà chúng nghĩ ra
một mẹo, đưa ông thầy dạy học cũ của Hàm Nghi vào tận
nhà giam thăm vuạ Thấy thầy học tới, theo đúng lễ Quân
Sư Phụ, vua Hàm Nghi đứng lên chắp tay vái chào thầy. Coi
như thế là người tù đã xác minh lý lịch. Vua cha (Thành
Thái) bị đày, vua con (Duy Tân) cũng bị đày nốt. Nhà
Nguyễn làm vua từ 1802, đến 1945 thì Bảo Đại thoái vị,
nếu kể cả Cường Để, ông vua không ngai, thì được 14
đời. Vậy mà có tới 4 ông vua bị Pháp lưu đày. Trước
cảnh "quốc phá gia vong", các quan trong triều chia phe "chủ
chiến", "chủ hòa" giết nhau, lại giết cả vua, trong khi bọn
Pháp xâm lược thì ngang ngược, nhất là thái độ hách
dịch, coi thường vua, khinh mạn Triều Đình Huế của De
Courcỵ Trước cái nhục mất nước như vậy, có quan hèn
nhát thì đã rõ, lại có kẻ phản phúc theo Tây như Nguyễn
Trọng Hợp, Phan Đình Bình; kẻ vì nước quyên sinh như
Trần Thúc Nhẫn, kẻ lên rừng kháng chiến như Phan Đình
Phùng. "Thất Thủ kinh Đô" là một biến cố lớn, để
lại những hậu quả sâu sắc trong lòng người Huế, cũng
như cái án chém Thái Phiên, Trần Cao Vân ở pháp trường
phía ngoài cửa An Hòa gây nên nhiều nỗi xúc động khó
phai cho người dân Huế.
Tôi không sinh ra ở Huế. Tôi đến Huế khi 16 tuổi, làm
một người học trò nghèo khổ công cầu học. Đến khi đi
dạy, lại dạy môn văn chương VN và lịch sử. Mười lăm
năm sau, tôi lại rời Huế phiêu bạt vào Nam, xuống tận
vùng Cà Mau- Rạch Giá, không ngồi trong văn phòng mà ra chỉ
thị nầy, chỉ thị kia, đi đâu cũng quan hệ với dân,
chuyện trò cùng bác Năm, chú Bảy... những người chưa
một lần quen biết, rồi tò mò, mục đích là để tìm
hiểu, đối chiếu và thấy dân chỗ nầy chỗ kia khác
nhau như thế nào. Nhìn chung, người Huế bao giờ cũng
tội nghiệp hơn, không phải tội nghiệp ở đám ông hoàng
bà chúa hay ở đám vua quan và cả những người cố làm ra
vẽ "dòng giống vua quan", "con ông cháu cha" (Người Huế
gọi mỉa là đám COCC) mà chính là ở đám người bình dân
lao động. Té ra họ là những người có tinh thần nhứt,
yêu nước nhứt, chống Pháp, chống bạo quyền vô vị lợi
nhứt, chống không phải để làm "ôông ni ôông tê" mà
chỉ vì một tấm lòng đối với đồng bào, đất nước
và cả với các vị vua, quan yêu nuớc.
Hiểu được người Huế như thế mới hiểu được tại
sao những câu chuyện về "chí sĩ" Ngô Đình Diệm được
lưu truyền trong họ; trong khi trong giới được gọi là
"trí thức", giới "quan quyền" thì lại trề môi dè bỉu,
chê bai. Ai không phải ở trong phe cánh họ, hàng ngũ của họ
thì bị họ bôi đen, dĩ nhiên!
Ngay hồi còn nhỏ, chưa tới Huế, tôi đã có dịp nghe
thầy cô nói tới "chí sĩ" Ngô Đình Diệm với một vẽ
trân trọng vì một là ông từng làm tri phủ Hải lăng, một
phủ lớn trong tỉnh tôi; thứ hai, ông là một chí sĩ.
Người dân tỉnh tôi kính trọng ông vì sự nghiệp ông làm
ở đó. Thời gian ông làm tri phủ Hải Lăng thật ngắn
ngủi, nhưng ông để lại đó một công trình lớn, ngày nay
vẫn còn: Đào sông Vĩnh Định để có nước ngọt cho dân
làm ruộng. Ông không ngồi trong dinh quan phủ chỉ tay năm
ngón mà đến từng làng, từng xã coi sóc và lo cho dân.
Ngày 3 tháng 1 năm 1957, một người bạn học truớc tôi
một lớp, được làm đại diện cho học sinh trường Quốc
Học Huế, vào Dinh Độc Lập dự lễ sinh nhựt "chúc thọ
Ngô Tổng thống". Hằng trăm học sinh đại diện cho các
trường ngồi hai bên một dãy bàn dài, nghe Tổng thống
ngồi ở đầu bàn nói chuyện. Ông thuật chuyện khi ông
làm tri phủ cho đào kinh Vĩnh Định, lo ngày lo đêm sao cho
công việc chóng hoàn thành đến nỗi ông mất ăn mất
ngủ, một tuần đôi ba lần ông xuống tận nơi kiểm tra,
xem xét, đôn đốc dân chúng đào kinh; đến nỗi đường
đi từ phủ về kinh Vĩnh Định, ông thuộc lòng từng hàng
tre, từng đám ruộng, khiến cả đám học trò kính phục
trước trí nhớ tuyệt vời của ông.
Ông đến tại chỗ hỏi thăm từng học sinh. Nghe hai chị em
khai tên họ và quê quán, ông cười nói:
- "Rứa là con ông LmL ở QT hí? Về, thưa ba má tui gởi
lời thăm".
Khi ông làm tri phủ, ông LmL làm thừa phái (quan lại hàng
đầu trong phủ, sau tri phủ, quản lý toàn bộ công việc
hành chánh). Quan phủ và gia đình quan thừa phái đều ở
trong phủ, chiều chiều rảnh rỗi, ông xuống nhà quan thừa
phái chơi, bồng ẵm những đứa nhỏ con quan thừa phái,
vì tính ông rất thương trẻ con. Có phải nhờ thế mà
"các đứa nhỏ" con quan thừa phái ngày xưa ấy rất
được ông chiếu cố khi ông làm Tổng Thống?
Kể chuyện xây dựng các khu trù mật, dinh điền, ông
nói:
- "Dân làm biếng, không chịu làm việc mà mấy ông "địa
điểm trưởng dinh điền" không có cách chi được, răng
không lấy hèo phết vô sau đít".
Kể xong câu chuyện đó, người bạn tôi cười: "Đúng là
giọng nói quan huyện, "phụ mẫu chi dân".
Ông ta nghĩ dân cũng như con, nói không nghe thì phải dùng
roi mà dạy.
Tôi không bàn dông dài đến cách "dạy dân" của các cụ
xưa. CS ngày nay thì có "dân vận", có "giáo dục quần
chúng" (cũng là dạy dân vậy) và nếu dân không nghe thì
dùng "bạo lực cách mạng" và cho đi "cải tạo" để thành
người tốt. Có điều, năm 1972, tôi ở Cái Sắn, nghe các
cụ già kể chuyện hồi năm 1958, mới thành lập dinh
điền này, tình hình ngán ngẩm lắm. Tới "Mùa nước
nổi" thì chung quanh mênh mông là nước, kinh chưa đào
xong, đường đi chưa đắp, bước chân xuống khỏi
giường là đụng nước, nói chi tới việc đi đâu xạ
Tới mùa khô đốt rẫy làm ruộng, dân chẳng chịu làm. Ra
tới đồng, họ tìm bóng im mà chụm lại từng đám để
đánh bài, chỉ chờ xin trung ương cấp phát thêm lương
thực, tôn, "ximăng", v.v... Được cấp trâu "murat" để có
sức cày thì đập què chân trâu để xin phép làm thịt.
Tình hình như thế, "quan tri phủ" có biểu "lấy hèo phết
vô đít" cũng còn nhân đạo hơn CS ngày nay cả vạn lần,
nhất là với dân đi "Kinh Tế mới".
Tri phủ là chức quan đầu tiên của cậu ấm con quan Phụ
Chính Đại Thần trên bước đường hoạn lộ, sau khi xuất
thân trường Hậu Bổ.
Ông bố Ngô Đình Khả xuất thân từ một chức thông ngôn
nhưng khác với các ông thông ngôn khác như Trần Văn
Thông (nội tổ bà Ngô Đình Nhu) hay Diệp Văn Cương. Tuy
Ngô Đình Khả là người theo đạo Thiên Chúa, nhưng ông
chứng tỏ được ông là người yêu nước, còn giữ lòng
"Trung quân ái quốc" mà không theo Tây. Thời đó, công
chúa, bà hoàng (hậu), bà hường, bà tuần còn ưa ngủ
với Tây để cho chồng thăng quan, nói chi tới chuyện
chống Pháp. Ai không theo Tây đã là quí lắm rồi.
Vua Thành Thái được Tây đưa lên ngôi, nhưng ông là một
ông vua điên. Dân chúng thì nói ông giả điên để tránh
con mắt Mật Thám Pháp. Ông đang thành lập và luyện tập
một đội nữ binh, nói là để làm lực lượng chống
Pháp. Thực hư ai biết nhưng con gái của quan thông ngôn
Diệp Văn Cương đang ở trong cung bị thương vì luyện
tập cung kiếm, Diệp phải vào tận đại nội lo việc chăm
sóc cho con. Có phải vì vậy mà việc bí mật của vua Thành
Thái bị đổ bể? Nội tổ tôi lúc ấy đang làm ngự y,
tiến vào cung một người em gái của ông. Ông muốn góp
phần chống Pháp hay chỉ muốn làm quốc trượng để con
cháu sau nầy hưởng ơn thánh đế? Sau khi vua Thành Thái
bị đày, người em gái của nội tổ tôi ra ở lăng để
hương khói cho các tiên đế, rồi về tu ở chùa Sư Nữ
Huế, như các cung phi mỹ nữ khác khi về già. Các cô tôi,
thỉnh thoảng lên chùa Sư Nữ thăm bà sư già. Trước Hiệp
Định Genève 1954, tôi từng theo một người cô đi thăm bà
sư già đó một lần. Gặp bà, tôi bâng khuâng! Một cung
nữ một thời son trẻ hay một nữ binh tập bắn cung,
đánh kiếm chống Pháp, nay là bà sư già hóm hém nói năng
lập cập quê mùa nầy đây chăng? Thần tượng của tôi
ở tuổi thiếu niên ấy đổ vỡ thảm hại vì hình ảnh
tuổi già của bà sư và những gì tôi không hiểu được
nơi bà khi bà còn trẻ. Lịch sử giữa nội tổ tôi và anh
em chúng bị gián đoạn vì nội tổ tôi qua đời sớm, chỉ
mấy năm sau khi vua Thành Thái bị đày, phụ thân tôi lúc
ấy cũng mới trên mười tuổi, chưa đủ trí khôn để
biết việc nước việc đời, mà gia phả vì sợ Tây nên
chẳng ghi lại chút gì về việc một người con gái trong
dòng họ được tuyển vào "nội" để làm một thứ giải
trí cho vua hay làm một "nữ chiến sĩ" thời đại, noi
gương bà Trưng bà Triệu.
Dân chúng thì cho rằng vua Thành Thái không điên, ông là
người yêu nước, việc ông "mê gái" được người ta
nói tới qua hai câu thơ của vua, chỉ là giả bộ, đánh
lừa bọn thực dân Pháp:
Kim Luông có gái mỹ miều
Trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi.
Trẫm là tiếng nhà vua tự xưng. Ông đâu có đang đêm bỏ
cung điện ra đi để chiêu mộ người cùng tâm cùng ý
chống Pháp, chỉ vì ông "mê gái mỹ miều" nên trốn kinh
thành ra đi đó thôi. Người dân Huế không tin như vậy,
Tây lại càng không tin như vậy, nhất là sau khi con gái
Diệp Văn Cương bị thương. Cương không có lòng yêu
nước, không thấy sách báo nào hay ai nói Cương là
người yêu nước. Y là một thông ngôn gốc người miền
Nam được Tây tín cẩn đưa về Huế làm thông ngôn. Y
chẳng tôn kính gì triều đình, lợi dụng quyền ra vào
cung cấm để tư thông với hoàng hậu của tiên đế.
Việc y tiến con vô Nội chẳng qua cũng chỉ muốn dùng con
gái làm nấc thang trên đường danh vọng. Một người tư
cách như thế khó tranh được với ông Ngô Đình Khả,
cũng làm thông ngôn nhưng thường lo tới việc nước
việc dân. Thấy trại lính thủy của Nam Triều bỏ trống
(Sau khi Pháp nắm quyền cai trị, giải tán hết binh lính
của Triều Đình Huế), ông nghĩ tới việc xây dựng một
"Nền Quốc Học". Do đó mà có trường Quốc Học Huế ngày
nay, một trường học cách tân đầu tiên của nước VN lạc
hậu bán khai. Sau mấy năm đầu ông làm Chưởng Giáo
(Hiệu Trưởng) trường nầy, Pháp đẩy ông đi nơi khác,
tự nắm quyền điều khiển ngôi trường. Làm sao họ có
thể tin tưởng để có thể giao việc đào tạo nhân tài
cho người bản xứ. Ông Ngô Đình Khả đặt tên trường
nầy là trường Quốc Học, muốn nói lên cái ý đồ muốn
xây dựng một "Nền Quốc Học". Với truyền thống cổ
truyền trọng hiền của người VN Quân Sư Phụ, người làm
thầy cũng như người mở trường là người truyền dạy
đạo lý thánh hiền nên người dân thường nhớ tới công
lao của những người có công mở mang trường học như ông
Ngô Đình Khả. Vậy thì ai khác hơn ngoài ông Ngô Đình
Khả xứng đáng được lấy tên mà đặt cho ngôi trường
nầy; cũng như sau nầy, việc thành lập viện Đại Học
Huế là ý chí và công lao của ông Ngô Đình Diệm. Mới
cầm quyền thực sự được hai năm, viện Đại Học Huế
được ông đích thân về làm lễ khai giảng (1957). Trước
khi có ngôi trường Đại Học nầy, biết bao nhiêu thanh
niên Huế chấm dứt việc học sau khi tốt nghiệp trung
học. Chỉ ai có điều kiện mới tiếp tục học cao hơn ở
Hà Nội hay Saigon mà thôi.
Trở lại chuyện người chạ Sử chép:
"Ông Bửu Lân bấy giờ mới lên 10 tuổi, đang cùng với
mẹ phải giam ở trong ngục. Triều đình vào rước ra, tôn
lên làm vua, đặt niên hiệu là Thành Thái, cử ông
Nguyễn Trọng Hợp và ông Trương Quang Đản làm phụ chính.
(VN Sử lược, Trần Trọng Kim, tập 2)
Thành Thái làm vua được 20 năm (1888-1908) thì Tây mượn
cớ là nhà vua bị điên và truất ngôi, đưa đi đày. Khôn
khéo tránh mặt, Pháp ra lệnh cho các quan trong triều họp
nhau lại để truất ngôi vuạ Thủ đoạn của Pháp ném đá
dấu tay, để người ngoài nghĩ rằng đây là việc nội
bộ Nam Triều, Pháp không xía vộ Nhưng có người trong
triều không tuân lệnh Pháp. Đó là ông Ngô Đình Khả,
ông cho rằng vua không tội gì để phải bị truất. Một
mình ông Ngô Đình Khả chẳng làm được gì khi các triều
thần đều theo Tây. Nhưng tiếng thơm thì còn đó, còn
trong câu ca dao:
Đày vua không khả
Đào mả không bài.
Câu ca dao nầy là một loại chơi chữ. Trong tiếng Hán
Việt, chữ khả có nghĩa là có thể. Đày vua không khả có
nghĩa là Không thể đày vua (Thành Thái) được. Đó là
lập trường của ông Ngô Đình Khả trước triều thần,
mà không khả thì khả lại là tên ông. Thành ra người ta
lại hiểu: Trong việc đày vua, không có ông (Ngô Đình)
Khả tham dự. Ông đứng ngoài việc nầy. Đây là một
biến cố lớn ở kinh đô, chính ông Hồ Chí Minh cũng
biết rõ như thế.
"... tôi xin nói tới một mẫu chuyện lịch sử ít người
biết. Sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, ông Ngô Đình
Diệm bị (1) bắt. Tại Hà Nội, ông Diệm không phải bị
giam ở Hỏa Lò mà ngay trong Bắc Bộ phủ. Theo ông Chu Đình
Xương, nguyên giám đốc Sở Liêm Phóng Hà Nội thì việc
ông Diệm bị giam ở Bắc Bộ phủ là do ông Hồ Chí Minh
quyết định. Tại sao ông Hồ có quyết định đó thì ông
Chu Đình Xương không hiểu. Rất có thể do những giây mơ
rễ má nào đó giữa gia đình ông Hồ với các quan lại
triều Nguyễn trong quá khứ mà ông Hồ Chí Minh lo cho số
phận của Ngô Đình Diệm, không muốn để mặc tính mạng
con người nổi tiếng chống Cọng nầy nằm trong tay những
đồng chí nóng tính.
"Cha tôi là người giữ chìa khóa phòng giam. Đến bữa
cảnh vệ lên lấy chìa khóa, cho Ngô Đình Diệm ăn xong
thì nộp lại. Một hôm, ông Hồ bảo cha tôi: "Chú Huỳnh ạ,
tôi tính nên thả ông Diệm. Mình làm ân cho người tốt
hơn là làm oán". Cha tôi bàn với ông Lê Giản (2). Hai ông
cho rằng để ngăn ngừa những hành động chống cách
mạng của ông Diệm, cách tốt nhất là để ông ta được
hưởng chế độ câu lưu tại Việt Bắc. Ông ta sẽ sống
như dân thường, chỉ bị hạn chế tự do đi lại mà thôi.
Ông Hồ bỏ ngoài tai ý kiến phản bác, ông đã định thả
là ông thả: "Các chú không ở Huế không biết, chớ dân
Huế có câu: Đầy vua không Khả, đào mả không Bài" là
nói về cụ thân sinh ông Diệm đấy. Vì người cha mà thả
người con là điều nên làm lắm chứ. Các chú không nên
hẹp hòi!
"Nhiều người nhận xét khi ở cương vị tổng thống VN
Cọng Hòa, ông Ngô Đình Diệm không bao giờ có những lời
khiếm nhã đối với chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trong
những nguyên nhân, theo tôi nghĩ, có thể do ông Diệm
không quên ơn ông Hồ đã tha mạng mình là điều không
phải khó hiểu.
(Đêm Giữa Ban Ngày, Vũ Thư Hiên, trang 227, 228)
Với đoạn trích nói trên, tôi không đặt trọng tâm câu
chuyện thực bao nhiêu phần trăm bởi vì điều chính yếu
trong câu chuyện là câu ca dao nói trên. Hơn thế nữa,
việc Thành Thái bị truất năm 1908 khi Hồ Chí Minh vừa 18
tuổi, có thể đang ở Huế, và thân sinh ông, ông Nguyễn
Sinh Sắc vừa bị mất chức tri huyện. Khi Thành Thái bị
truất, Ngô Đình Khả đang làm thượng thư bộ Lễ. Cũng
do tờ trình của bộ Lễ, ông Nguyễn Sinh Sắc bị mất
chức tri huyện Bình Khê vì say rượu đánh chết người.
Trong vụ thứ hai nầy, khi đó ai làm thượng thư bộ Lễ,
ông Ngô Đình Khả hay người nào khác. Ông Hồ Chí Minh có
gì oán hận bộ Lễ làm cho thân phụ ông bị mất chức,
hay ông cho rằng bộ Lễ xử như thế là đáng tội hay có
khoan hồng. Trong thời kỳ đó, anh thanh niên Nguyễn Tất
Thành không thể nào không kính trọng ông Ngô Đình Khả,
một là ông Ngô Đình Khả sáng lập ra ngôi trường
Nguyễn Tất Thành đã học ở đó. Ông Ngô Đình Khả,
đối với Hồ Chí Minh, vừa là bậc thầy, vừa đáng
tuổi cha, còn về địa vị thì ông Nguyễn Sinh Sắc mới
chức tri huyện còn Ngô Đình Khả thì chức thượng thư,
cách nhau khá xa, chưa kể ông Ngô Đình Khả làm quan biết
lo cho dân còn tri huyện Nguyẽn Sinh Sắc say rượu đánh
chết dân.
Trong cuộc đời khổ công cầu học, tôi có được cái may
mắn vào ở trong gia đình một ông chú họ nhưng ông lại
có quan hệ gần gũi có tính cách bạn bè với thân phụ
tôi. Ông khuyên tôi chăm học và đừng bướng bỉnh như anh
cả của tôi. Năm 1950, anh cả tôi, Hồng Quang, vào Huế làm
báo Ý Dân. Anh tôi không nghe theo lời khuyên ông chú họ,
nên ẩn nhẫn chờ thời cơ đang tới, hơn là đơn thương
độc mã, vừa chống Pháp, vừa chống đám quan lại theo
Pháp làm tay sai. Theo ông, anh tôi nên theo cụ Ngô như ông
mới hợp thời hợp thế. Kết quả của hành động bướng
bỉnh đó là chỉ mấy tháng sau anh tôi bị Việt gian thủ
tiêu.
Tại sao ông chú họ tôi theo cụ NGÔ?
Ông vốn dĩ ra vào cửa Khổng sân Trình từ khi còn nhỏ,
cầm cây bút lông mèo trước khi cầm bút chì. Đến khi
đã thành niên, cũng như một số thanh niên Huế khác, ông
thường ra vào nhà cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự vì lòng
yêu nước và để đọc Khổng Học Đăng, để nghe cụ Phan
giảng thêm về tứ thư, ngũ kinh.
Cụ Phan Bội Châu là linh hồn của Phong Trào Đông Dụ Sau
khi phong trào nầy tan rã, cụ Phan bị Pháp bắt cóc, đưa
về Hà Nội tuyên án tử hình, cuối cùng cụ giam lỏng ở
Bến Ngự. Ngoài hình ảnh "Ông già Bến ngự" "Chiều
chiều trước bến Văn lâu, ai ngồi ai câu ai sầu ai
thảm",(*) ông là người mà dân Huế, ai đó có lòng yêu
nước đều đến viếng thăm. Dù bị Mật Thám Tây theo
dõi, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế đang làm báo
Tiếng Dân, cụ cử Võ Bá Hạp, vẫn thường lui tới, và
những người thuộc thế hệ trẻ hơn như ông Võ Như
Nguyện (Con cụ cử Võ Bá Hạp), người ta còn nói là cả
cậu học trò Võ Giáp (sau nầy là Võ Nguyên Giáp) cùng
một số học sinh Huế thời đó như ông chú họ tôi vẫn
thường ra vào nhà cụ Phan, trước là để gìn giữ, nung
nấu chút lòng yêu nước, sau là để học thêm kinh sách
đạo Nhọ Dĩ nhiên, một người xuất thân Nho học và ái
quốc như ông Ngô Đình Diệm, nhất là sau khi ông có hành
động khẳng khái từ quan vì chống Pháp, thì việc ông
lui tới với "ông già Bến ngự", tưởng không có gì lạ.
Sau nầy, CS cũng như một vài người viết sách viết báo,
cho rằng ông Ngô Đình Diệm từ quan vì tranh ăn không lại
với Phạm Quỳnh là một hành động bôi lọ. Thật ra, sự
việc, trước tiên là phải nói từ vua Bảo Đại. Năm 1930,
Bảo Đại mới tròm trèm 18 tuổi (Bảo Đại sinh năm 1913), du
học từ Pháp về, tiêm nhiễm những tư tưởng tự do, dân
chủ Âu Tây, muốn đem sở học của mình để canh tân
nước nhà, noi gương Nhật bản. Ông vua trẻ thấy đời
màu hồng, những tưởng việc gì cũng dễ dàng, vội cho
năm ông thượng thư già về hưu, đưa vào chính phủ
những thành phần trẻ. Chỉ chừng đó, dân chúng Huế hãi
hùng vì "cảnh đất bằng sóng dậy":
Năm cụ khi không rớt cái ình
Đất bằng sóng dậy chốn thần kinh
Vậy thì Tây tiếc chi mà không truất phế nhà vuạ Họ
khôn khéo hơn: Gây áp lực với những người trẻ để
đập tan chính phủ mới nầy, mà thành phần tham gia không
do Tây lựa chọn, đẩy ông vua trở lại vai trò bù nhìn,
ràng buộc chân ông bằng một thói nhi nữ thường tình,
bằng một người biết bảo vệ quyền lợi gia đình, giai
cấp và tôn giáo của mình hơn quyền lợi dân tộc, đất
nước. Vốn dĩ là người không có ý chí mạnh mẽ, cầu an
và ham thích thú vui riêng, vua Bảo Đại ngoan ngoãn thúc thủ
trong cái củi sơn son thếp vàng của ông vua một nước nô
lệ mà mãi đến khi Tây cuốn gói cao chạy xa bay, ông mới
dám nói ra câu: "Thà làm dân một nước độc lập hơn
làm vua một nước nô lệ".
Vua Bảo Đại và quan thượng thư bộ Lại trẻ tuổi (Ngô
Đình Diệm sinh ngày 3 tháng Giêng năm 1901, lúc đó mới 32
tuổi) chia tay nhau lần thứ nhứt ở đó. Ông Ngô Đình
Diệm không từ chức cũng không được. Vả lại hành
động khẳng khái cáo quan vì không muốn hợp tác với
Tây khi Triều Đình Huế sụp đổ vì Pháp xâm lăng là
hành vi nhiều quan lại đã làm trước ông. Một người
như ông Ngô Đình Diệm, học vấn ấy, văn hóa ấy, ý chí
và lòng thương dân như thế, và thừa hưởng dòng máu
"đày vua không Khả" nơi người cha như thế, thì có từ
quan cũng không có gì lạ, sao lại bôi lọ cho rằng từ quan
vì không tranh lại Phạm Quỳnh vì Phạm có thế lực của
Marty, Chánh Sở Mật Thám Pháp ở Đông Dương.
Vì là người khẳng khái như thế, ông Ngô Đình Diệm
mới ra vào nhà cụ Phan ở Bến Ngự; không những thế, qua
trung gian cụ Phan, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để chọn ông Ngô
Đình Diệm làm đại diện. Có một cái trục là lòng yêu
nước. Xoay quanh trục ấy là vua Thành Thái không trốn qua
Nhựt theo lời đề nghị của phong trào Đông Du được, ủy
thác và trao ấn cho Cường Để theo cụ Phan. Khi phong trào
Đông Du tan rã, nhưng dư âm vẫn còn thì sự quan hệ
giữa cụ Phan và Kỳ Ngoại Hầu, cũng như việc chọn ông
Ngô Đình Diệm làm đại diện ông vua không ngai là môt
sự xuyên suốt rất dễ hiểu. Ba nhân vật ấy: Cường
Để, Phan Bội Châu, Ngô Đình Diệm là ba nhân vật khác
nhau nhưng chung nhau ở lòng ái quốc. Người dân Huế
biết rõ diều ấy, không thể hiểu khác được trừ phi
người ta muốn bóp méo lịch sử. Thành thử những thanh
niên Huế yêu nước ra vào nhà cụ Phan và sau nầy họ chọn
ông Ngô Đình Diệm làm minh chủ, cũng là một điều không
có gì khó hiểu.
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, nhiều người
Huế, ai không rõ mưu đồ CS, thì theo Việt Minh. Chỉ một
số ít, hiểu rõ Việt minh là gì, lại cũng không muốn gia
nhập đảng Đại Việt quan lại vì sợ mang tiếng theo Tây,
nên giữ lòng trung với chí sĩ Ngô Đình Diệm. Tiếng gọi
"chí sĩ" nầy tự nhiên mà có, không phải do những người
theo ông Ngô Đình Diệm quảng bá tuyên truyền. Vả lại,
với dân Huế, kiểu tuyên truyền dựng không thành có
không phải là điều dễ được người ta tin. Người ta
biết ông Ngô Đình Diệm là người yêu nước, là đồng
chí của cụ Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng,
là người đại diện cho Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, có
hành động kiên cường chống Pháp. Có như thế, người
ta mới chịu gọi ông là "chí sĩ". Một linh mục tưởng theo
Pháp có lợi cho đạo của mình là hay, đến thăm ông, ông
mắng vào mặt: "Cha tưởng theo Tây là không có tội với
Chúa hay sao?" Vị linh mục ấy tẻn tò không bao giờ dám
đến gặp ông lần thứ hai nữa. Câu chuyện trên được
đồn đãi trong dân Huế với lòng ngưỡng vọng "cụ Ngô
yêu nước".
Sau "Trưng Cầu Dân Ý", tôi đến thăm ông chú và hỏi vài
sự việc, cũng là điều suy nghĩ của vài người bạn.
Một người thấm nhuần Nho Giáo như ông Ngô Đình Diệm,
làm tổng thống thời đại ngày nay còn nghiên cứu kinh
Dịch để lo việc nước việc dân, biết giữ lòng "Trung
Quân Ái Quốc", sao lại có việc lật đổ ông Bảo Đại,
và việc "Trưng Cầu Dân Ý" lại được hướng dẫn bằng
câu "xanh bỏ giỏ đỏ bỏ bì". Ông chú tôi cười bảo:
"Khổng tử nói không có việc giết vua Kiệt, vua Trụ, chỉ
có việc giết một người tên Kiệt, một người tên Trụ
mà thôi". Tôi tự thấy thêm một điều: Bảo Đại là vua,
hay là một người tên thực là Vĩnh Thụy. "Xanh bỏ giỏ
đỏ bỏ bì" là sáng kiến của đám "bảo hoàng hơn vua",
nhiều khi lộng hành. Thật ra, người dân Huế không ai
thắc mắc việc truất phế ông Bảo Đại. Bảo Đại không
là Hàm Nghi, Thành Thái hay Duy Tân, người có những hành
động yêu nước và nói câu đầy tâm sự như: "Ngồi
trên nước không ngăn được nước, buông câu ra đã lỡ
phải lần" hay "Tay dơ lấy nước mà rửa, nước dơ lấy
máu mà rửa". Không những vua Bảo Đại ham chơi mà ông còn
dung túng một đám tay chân bộ hạ như Phan Văn Giáo,
Nguyễn Văn Mạnh không những là Việt gian bán nước, còn
gây bao điều uất ức cho người dân Huế. Việc trưng
cầu dân ý 23 tháng 10 có những cái sai, rõ ràng thiếu vô
tư, sắp đặt trước, nhưng người dân Huế không đặt
làm điều quan trọng giữa một bên là một ông vua ham
chơi, không lo việc nước và một bên là người họ tôn
vinh làm "chí sĩ".
Việc người dân Huế và cả Thừa Thiên lần đầu tiên
tiếp đón chí sĩ Ngô Đình Diệm khi ông về làm thủ
tướng tỏ rõ lòng ngưỡng mộ của họ đối với ông như
thế nào. Còn quá xa một ngày hội. Từ đồng Thanh Lam cho
tới đồng An Cựu (sau nầy là đường Duy Tân), đường
Thượng Tứ (sau nầy là đường Trần Hưng Đạo), vườn
hoa Phú Văn Lâu, không chỗ nào đặt chân cho lọt, người
người áo quần tề chỉnh đi đón chí sĩ. Xe đưa ông về
tới Phú Văn Lâu, nhưng vì đồng bào hoan nghênh nồng
nhiệt quá, ông lại phải leo lên xe Jeep, đi một vòng trở
lại cầu Trường Tiền. Một tay ông nắm vào mui xe cho
khỏi té, một tay hoa lên chào đồng bào, tiếng hoan hô
vang trời dậy đất.
Từ đó về sau, trong khoảng một năm, cứ mỗi lần nghe
tin "cụ về" là người ta nô nức đón chào. Dọc các
đường phố lớn như Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu (mới
đổi tên từ đường Gia Long) nhà nhà bày hương án
trước nhà, "chưng hình cụ" và lư trầm để tỏ lòng tôn
kính, vui mừng. Bài diễn văn "chúc mừng cụ" hôm cụ về
chủ tọa lễ kỷ niệm 60 năm trường Quốc Học, 1956, do anh
HVX viết, anh ĐAT đọc, có câu: "nguyện học tập và sống
xứng đáng với thế hệ Ngô Đình Diệm", ai cũng cho là
hay và hoan hô nhiệt liệt. Nha Thông Tin Trung Việt cho máy
in chạy suốt ngày đêm in "chân dung cụ" phát không cho
đồng bào đem về treo không sao đủ cho nhu cầu dân chúng.
Nhưng chỉ được hơn một năm! Khi các ông quận trưởng
Phú Vang, Hương Trà, v,v... "lùa" dân đi "đón cụ", cố
viết biểu ngữ cho thật to để lập công, thì việc
người dân "tự động hoan nghênh cụ" lại không còn nữa.
Người dân Huế chính trực không ưa nịnh hót, giả dối.
Những tên "nịnh trên nạt dưới" làm hại chế độ là
vậy.
Việc người dân hoan nghênh ông ở Quảng Trị và ở Hội
An cũng vậy. Cụ Trần Được, một người thuộc dân Hội
An "cố cựu", dòng dõi sinh sống ở đây đã mấy trăm
năm, nghĩa tế cụ Võ Úy, tri phủ, bạn đồng liêu với Ngô
Đình Khôi, tổng đốc, mới năm kia đây kể cho tôi nghe
vài câu chuyện lý thú. Sau khi thôi chức thượng thư, ông
Ngô Đình Diệm hay vào dinh Tổng Đốc của ông anh ở Vĩnh
Điện (Quảng Nam) chơi. Có nhiều buổi chiều, ông ghé nhà
cụ Võ Úy, bảo mấy đứa cháu: "Có cơm nguội đem cho chú
ăn, chú đói bụng". Có khi ông tự lấy cơm mà ăn, cụ
Trần Được nhận xét: "Ông ấy tự nhiên một cách dễ
thương". Có khi cụ Võ Úy còn nói đùa "Chú Diệm bây
không có cu" thì ông cũng chỉ cười. Ở Huế cũng có
nhiều người biết ông ăn uống đơn giản, đạm bạc,
không có gì cầu kỳ cao lương mỹ vị. Khi ông làm tổng
thống rồi, "cậu Cẩn" tìm ở Huế một bà già biết làm
bánh nậm ngon, "tiến" vào dinh Độc lập để làm món ăn
sáng cho Tổng Thống vì từ nhỏ ông đã thích món ăn Huế
bình dân nầy. Lần đầu tiên về thăm Quảng Nam, ông gọi
riêng cụ Trần Được hỏi thăm tình hình, sai tùy viên Kỳ
Quang Liêm lấy hai ổ bánh mì "chú cháu mình" ăn với nhau,
ở ngay chỗ nói chuyện dưới gốc cây mà không tham dự
bữa tiệc thịnh soạn do tỉnh trưởng dọn sẵn. Ông còn
hỏi: "Ai cho thằng ni mần tỉnh trưởng? Mấy thằng "mắt
trắng môi thâm" như thằng ni, mần tỉnh trưởng chỉ chết
dân". Ông sợ chính sách cai trị hà khắc của quan trên,
ông sợ dân khổ, ông thuộc lòng "Hà chánh mãnh ư hổ".
Ai nói là ông không biết thương dân? Nhưng ông quên một
điều, chính "cậu Cẩn" chứ "ai cho thằng ni mần tỉnh
trưởng" cho nên phải hơn hai năm sau, tỉnh trưởng mới bay
chức, mặc dù ông nhắc nhở "cậu Cẩn" nhiều lần. Và
chính ông có quên chăng, chính Tổng Đốc Ngô Đình Khôi
có tiếng là người ác. Từ thời Tỉnh Trưởng Hồ Liêm,
ông ta đã chuẩn bị dựng tượng Tổng Đốc Ngô Đình
Khôi để tưởng nhớ công đức thì ít nhưng để nịnh
thì nhiều. Việc Hồ Liêm bị mất chức tỉnh trưởng bất
thình lình làm cho công trình dựng tượng dang dỡ. Đến
đời Tỉnh Trưởng Nguyễn Hữu Chì, sau khi nhà Ngô sụp
đổ, ông tưởng việc dựng tượng là hay bèn muốn tiếp
tục. Cụ Trần Được đang làm Tổng Thư Ký Hội Đồng
Tỉnh bèn can: "Bố vợ tôi là bạn đồng liêu với ông Ngô
Đình Khôi, nhưng tôi khuyên ông tỉnh trưởng không nên
tiếp tục việc dựng tượng nầy, dân xứ Quảng tôi không
mấy hoan hô". Cụ Trần Được nói riêng với tôi: "Không
mấy hoan hô là tôi nói khéo với ông tỉnh trưởng, thiệt
ra, ông ta ác lắm. Làm quan mà thương dân, nhà nớ chỉ có
ông Ngô Đình Khả và ông Ngô Đình Diệm mà thôi."
Tại Hội chợ Phú Văn Lâu, Huế năm 1953, thủ hiến Phan
Văn Giáo chủ tọa khai mạc, gặp Đại Úy Phùng Ngọc Trưng,
PVG chỉ ngay mặt nói: "Anh theo Ngô Đình Diệm". Đại Úy
Phùng Ngọc Trưng phản ứng: "Ông Ngô Đình Diệm là người
yêu nước, làm việc phải nên tôi theo". Vốn dĩ là
người chịu ơn gia đình nhà Ngô, PVG im lặng bỏ đị Ở
Huế, người ta nói vì câu nói đó nên sau khi ông Ngô
Đình Diệm cầm quyền, đại úy PNT nhãy băng một cấp,
lên thẳng Trung tá.
Người dân Huế ngưỡng vọng chí sĩ cứu nước thì đông
lắm, nhưng vào "đảng của cụ" (Thật ra bấy giờ người
ta không thấy, không biết đảng của cụ Ngô, người ta chỉ
biết những người tới lui gia đình cụ có tính cách vừa
là "đồng chí" vừa là gia đình mà thôi) không đông.
Những người dân Huế biết có quan hệ mật thiết với
"cụ Ngô" là ông Võ Như Nguyện, con cụ cử Võ Bá Hạp. Cụ
Võ Bá Hạp thi đậu cử nhân mà không chịu ra làm quan, là
"đồng chí" của cụ Phan, cụ Huỳnh (Thúc Kháng), cụ Ngô
(Đức Kế); là người cải táng mộ cụ Trần Quí Cáp bị
chém ở Bình Định (yêu trảm=chém ngang lưng) đem về chôn
ở cửa Trài. Ông Võ Như Nguyện và các đồng chí của
ông hầu hết chọn chí sĩ Ngô Đình Diệm làm minh chủ,
đứng ra trông coi việc xây lăng cụ Phan ở Bến Ngự, lo
ngày giỗ kỵ và hương khói mỗi rằm, mồng một. Những
ngày nhà cụ Ngô có kỵ giỗ, những người như ông Võ Như
Nguyện, Đỗ Mậu, Phùng Ngọc Trưng, Đinh Sơn Thung, Kỳ
Quang Liêm, nhạc sĩ Ngô Ganh và ông chú tôi đều có mặt
với không khí gia đình, anh em. Hồi ấy "cậu Cẩn" còn
"dễ thương."
Việc nước là việc của anh ông, "cậu Cẩn" tự nhận là
văn dốt, vũ nhát, ông không lãnh đạo, chỉ tập họp anh em
để giúp "cụ Ngô". Với một gia đình giữ truyền thống
Nho giáo rất cao, thì chữ hiếu là một cái đạo. Ông thay
mặt các anh lo "đạo hiếu" để các anh rộng tay lo việc
nước, việc đạo.
Năm học lớp nhì, tôi bỏ học mấy tháng vào ở Bến Ngự
để hằng tuần đi thăm nuôi bới xách cho anh tôi đang bị
giam ở lao Thừa Thiên (tòa nhà sau nầy, thời Ngô Đình
Diệm trở thành một phân khoa của Viện Đại học Huế,
biến nhà tù thành trường hoc). Những ngày rảnh rỗi, tôi
theo mấy đứa bạn cùng xóm đi hái lá bìm bìm với "cậu"
đem về cho thỏ ăn. Mấy đứa chúng tôi cứ tới giờ thì
đến đứng trước cổng nhà "cậu", chờ "cậu" ra thì
cùng đi lên bãi tha ma gần chân núi Ngự Bình. Tính "cậu"
cẩn thận, ngày nào cũng đi hái như thế để có lá
tươi cho thỏ ăn. Theo lời "cậu" dặn, chúng tôi chọn kỷ
thứ lá hái, không già quá, không non quá và nhứt là
không hái lá sâu. Khi nào "cậu" cũng dễ thương, chẳng
nói lớn tiếng với chúng tôi bao giờ. "Cậu" ưa những
đứa hay đùa, liếng thoắng, nhanh nhẹn, chăm chỉ nhưng
"cậu" có vẽ hơi "quê" vì "cậu" chẳng biết nói đùa bao
giờ. Đi hái lá bìm bìm với "cậu", tôi nhớ hoài tính
"cậu": Hái cho nhanh mà về vì sợ "cụ cố" (bà mẹ) ở
nhà một mình. "Cậu" luôn luôn nghĩ rằng mẹ ở nhà cần
mình, có gì xảy ra cho mẹ thì sao! Việc nầy ám ảnh tôi
mãi về sau, dưới chế độ Ngô Đình Diệm khi có chế
đô quân dịch, động viên, biết bao nhiêu thanh niên nhận
lệnh nhập ngũ. Họ cũng có mẹ vậy và không ít người
không muốn bỏ mẹ mà đị "Cậu" ở trong cảnh "kín cổng
cao tường" có biết không, có thông cảm cho họ không?
"Cậu" thương mẹ lắm, "cậu" phụng dưỡng mẹ hết lòng.
Người ta cũng thế thôi. Bọn thanh niên Huế như tôi,
đứa nào cũng có mẹ và thương mẹ không thua gì "cậu",
thế khi chúng tôi lìa mẹ để nhập ngũ, ai chăm sóc, ai
phụng dưỡng mẹ? "Cậu" lìa mẹ đi hái lá bìm bìm mới
một chốc, đã lo quày quả về gấp với mẹ. Còn bọn tôi
đi lính, xa mẹ qua năm này tháng nọ thì sao? Suốt những
năm đi dạy, khi giảng về Chinh Phụ Ngâm cho bọn học sinh,
tôi nói rằng vua ở trong cung hễ cần thì ra lệnh bắt
lính. Vua đâu có biết cái khổ của người dân khi có
lệnh bắt lính được mô tả trong Chinh Phụ Ngâm hay trong
Thạch Hào Lại của Đỗ Phủ, chỉ có quan huyện Đặng Trần
Côn trực tiếp thi hành lệnh vua, mới cám cảnh mà viết
nên Chinh Phụ Ngâm, nói về cảnh chia ly chồng vợ cha con.
Tôi không nghĩ rằng "cậu" biết cảnh đó. Nhà "cậu" bấy
giờ không còn như xưa, cái cổng cũ rêu phong "cậu" vẫn
còn giữ đấy, "cậu" không muốn bỏ đi những gì cha mẹ
đã dựng nên, nhưng bây giờ hai cánh cổng bao giờ cũng
đóng kín, lại có người cầm súng đứng gác, đâu có
dễ gì vào rạ Và có bao giờ "cậu" nhớ tới những
thằng bé thò lò mũi xanh chúng tôi lẽo đẽo theo "cậu" đi
hái lá bìm bìm. "Cậu" không quên đâu. "Cậu" có trí nhớ
tuyệt lắm. Anh em nhà "cậu" không có ai là không thông
minh. Nhưng bọn tôi chẳng đứa nào tới lui nhà "cậu"
nữa. Cũng hay đấy! Trong khi người ta tìm mọi cách để
vô ra nhà "cậu" cầu cạnh thì chúng tôi bỏ "cậu" đi
mất, chẳng đứa nào trở lại, - trở lại thăm "cậu" có
lẽ "cậu" cũng nhớ và tử tế như khi "cậu" còn hàn vị
Đệ tử "cậu" thì không biết sao chớ "cậu" không phải
là người thủ đoạn, không cho thủ tiêu bọn tôi để che
dấu dĩ vãng bần hàn. Cũng may, chẳng đứa nào trở lại,
nên đứa nào cũng đứng ngoài trò dâu bể năm 1963. Tuy
vậy, sau cuộc tang thương đó, đi ngang nhà "cậu" thấy
cảnh bây giờ vắng ngắt, vắng hơn cả những ngày trẻ
nhỏ đi hái lá bìm bìm, lòng tôi xúc động vì thời thế
đổi thay nầy. Bọn trẻ chúng tôi ngày đó chẳng đứa
nào theo "cậu" hay chống "cậu", nên chẳng được gì để
mà vui và cũng chẳng mất gì để mà tiếc. Tất cả chỉ
là trò đời. Bà Huyện Thanh Quan gọi đó là cuộc hí
trường:
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thắn thoắt mấy tinh sương.
Đúng là cuộc hí trường, mới vui đó mà ra buồn đó,
mới ngày nào xe ngựa rập rình đó mà nay vắng ngoe vắng
ngắt; mới ngày nào lẽo đẽo theo chân "cậu" lên bãi tha
ma hái lá bìm bìm đó mà nay "đã mấy tinh sương", "cậu"
đã ra người thiên cổ. Phải chi anh "cậu" đừng làm
tổng thống, phải chi "cậu" chẳng có chút quyền lực nào
để khỏi ai vào ra xin xỏ, biếu xén, mua chuộc, phải chi
"cậu" cứ mỗi ngày đi hái lá bìm bìm cho thỏ, cùng với
những đứa trẻ trước tôi đã từng đi với "cậu", họ
lớn lên rồi đi xa, tới bọn chúng tôi và những đứa sau
tôi nữa, cứ hết lớp nầy đến lớp khác đi hái lá
bìm bìm với "cậu", trong cuộc sống bình dị mà hạnh phúc
vì "cậu" được luôn luôn gần mẹ để lo tròn đạo
hiếu. Ai cũng biết "cậu" thương mẹ lắm, "cậu" có hiếu
vô cùng. Vậy ngày ra pháp trường, thân phận "cậu" thì
coi như đã yên, đã xong. "Cậu" biết "cậu" không chạy
đằng nào cho thoát án tử hình. Khi nghe tin Nguyễn Khánh
đảo chánh, cậu buột miệng "Thằng ấy đảo chánh thì
chết tao" là "cậu" biết số phận "cậu" rồi đấy.
"Cậu" biết lẽ trả vay, ân oán trong cõi giang hồ mà vì
cuộc đời đưa đẩy, "cậu" trót đã dấn thân. Nhưng mẹ
"cậu" thì sao? "Cậu" chết rồi thì ai chăm sóc cho mẹ, ai
phụng dưỡng mẹ, ai hầu mẹ cái ăn cái mặc. Đó là
điều đau đớn nhứt của "cậu" khi "cậu" bước ra pháp
trường. Có lẽ cũng noi gương "cậu" thương mẹ nên tôi
cũng thương mẹ tôi như "cậu" thương mẹ "cậu" vậy nên
tôi thông cảm "cậu" vô cùng cảnh cậu ra pháp trường mà
lòng đau xót, sợ rằng chết rồi để mẹ ai nuôi. Trong
cuộc tang thương nầy, công hầu khanh tướng nầy, tổng
thống, thủ tướng, chủ tịch nầy, rốt rồi chẳng ra mẹ
gì cả. Chỉ có mẹ mình là nhứt, và ngay ông Trời cũng có
mẹ. Tiếng gọi cuối cùng của người hấp hối là "Mẹ
ơi!" Vậy mà "cậu" bỏ mẹ mà đi trước. Bỏ mẹ mà đi
trước, lòng "cậu" đau xót biết bao nhiêu. Tôi nghiệp
"cậu" biết bao nhiêu!
Nói thiệt, gần "cậu" một thời gian ngắn, tôi biết
"cậu" có tính xấu; không phải những cái xấu như sau
nầy người ta viết báo, viết sách. Đời bây giờ loạn
ly, loạn ly cả lòng người, nên người ta thêu dệt dữ
lắm, làm sao tôi biết ai chân ai giả mà tin. Tôi tin những
gì tôi thấy tôi nghe bằng mắt tôi, tai tôi. "Cậu"
thương ai, khen ai thì thương thì khen dữ lắm, mà ghét ai,
chê ai thì cũng không ít. Có điều, những người "cậu"
khen chê cũng là "dòng dõi" cả đấy. Có lần nhắc tới
tên một ông giám đốc đương thời, "cậu" nói: "Cha
thằng nớ hồi truớc mần lý trưởng tiêu tiền của
làng, chút nữa bị tù, nhờ anh tổng đốc tha cho". Hoặc
nhắc tới một ông tỉnh trưởng thuộc phe Phan Văn Giáo,
"cậu" bảo: "Thứ nớ chẳng xái bò chi" Tôi vốn dĩ có
trí nhớ lâu như mẹ tôi cho nên bây giờ tôi còn nhớ vài
lời "cậu" nói như trên cách nay hơn nửa thế kỷ. Nhiều
khi tôi tự hỏi: Nhớ chuyện xấu của người ta để làm
gì nhỉ?" Nhớ chuyện anh mình (anh tổng đốc) ban ơn cho
người khác để làm gì nhỉ? "Cậu" nhớ chuyện "ông tỉnh
trưởng xái bò" cũng như tôi nhớ việc "cậu" chê họ
chẳng hạn. Nhớ để làm gì chớ? Có điều, "cậu" trọng
ai thì trọng dữ lắm. Có vậy nên khi ông VNN đến nhà
"cậu", lính không cho vào, ông đập cửa la toáng lên,
thế mà "cậu" không dám nói gì, còn mời ông ấy vào nhà
nói chuyện tử tế, phân trần. "Cậu" và cả ông chí sĩ
nữa, biết người lắm. Nếu kể những người theo chí
sĩ khi ông chí sĩ còn bôn ba thì phải nói rằng ông VNN là
"đại công thần" đấy. Sau nầy, ông chú họ tôi kể là
ông VNN bị bôi lọ với tổng thống dữ lắm nên ông buồn
tình, bỏ chức tỉnh trưởng Bình Định là tỉnh mới thu
hồi vào vùng quốc gia, ông Diệm cần người lãnh đạo
giỏi; ông VNN cũng bỏ luôn chức Dân Biểu Quốc Hội. Ông
VNN đi chơi với cô em gái giữa đường phố Saigon, bị
người ta lén chụp hình trình gian với tổng thống rằng
ông ta hủ hóa, trụy lạc. Ông chú tôi là một trong số
những người cũ, theo cụ từ thập niên 1940, sau nầy số
lớn trong họ theo gương Phạm Lãi bỏ Việt Câu Tiễn mà đi
sau khi trả được mối hận Ngô Phù Sai, họ tránh cái
gương Hàn Tín sau khi Lưu Bang đã giành được nước. May
cho họ, họ ra đi sớm, không ngồi mãi trong chính quyền
như Đỗ Mậu, nên tránh được cái tiếng xấu "bất
trung".
Năm 1963, sau vụ đàn áp ở Đài Phát Thanh Huế, tôi đến
thăm ông chú họ. Ông xin nghỉ hưu non đã lâu, còn tôi thì
đang đi dạy. Đến thăm chỉ là để biết thêm tình hình.
Hỏi ông. Ông chỉ nói: "Tội nghiệp ông Ngô Ganh". Nhạc sĩ
Ngô Ganh cũng là người theo cụ từ lâu, như ông chú họ
tôi vậy. Khi vụ nổ Đài Phát Thanh Huế xảy ra, ông đang
làm Quản Đốc đài phát thanh nầy và Bí Thư Tỉnh Ủy Cần
Lao Thừa Thiên, Huế. Bọn học trò tiểu học Huế lứa
tuổi tôi, phần đông được ông dạy cho những bài hát
ngộ nghĩnh như "Chuột cắp trứng", "Hai con chuột đưa
xác con mèo", v.v... Phần tôi, lúc ở nhà ông chú họ, vài
khi ông sai tôi lên gặp ông Ngô Ganh, nhà ông cũng ở
đường Ông Ích Khiêm (đường Cột Cờ) phía trên "Tỳ Bà
Trang" của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba một đoạn. Cả hai ông
nhạc sĩ nầy, đều "khùng" như ông quan gốc Chàm được
lấy tên đặt cho con đường nầy. Nhạc sĩ NHB là người
ít khùng nhứt trong ba người khùng, ông chỉ khùng khi ông
chưa đắc thời đắc thế mà thôi. Còn ông quan gốc Chàm
khùng một cách "khôn quá cha thiên hạ" chứ không như trong
câu ca dao:
An Nam có bốn anh hùng
Tường gian, Viêm lận, Khiêm khùng, Thuyết ngu (*)
Ông Ngô Ganh nuôi hai con chó, một con ông đặt tên là
"Phách Tấu", một con ông đạt tên là "Nói Trạng". Mỗi khi
có khách tới, ông gọi tên chó, đuổi vào nhà, làm cho
khách như bị chặn họng, chẳng ai dám nói "Phách Tấu"
(khoe khoang, làm cao) hay "Nói Trạng" (nói như ông Trạng
Nguyên, nói dóc, một tấc tới trời). Chúng tôi thích cái
lối dạy đời một cách ngộ nghỉnh của ông, theo như cách
của cụ Phan lập bia chó mà mai mỉa những tên Việt gian
theo Tây bán nước. Qua câu nói của ông chú tôi về ông
Ngô Ganh, tôi hiểu tâm sự ông, lòng trung thành của ông
đối với "minh chủ" và những "trái trăng" của chế độ.
Sau ngày 20 tháng 8 năm 1963, đứa em út của tôi, Hoàng Ngọc
Hùng, trong sách "Mùa Hè Đỏ Lửa" của Phan Nhật Nam gọi là
"Hùng móm", bị bắt vì Hùng cùng với sinh viên và giáo sư
Đại Học Huế và cả Linh Mục Viện Trưởng Cao Văn Luận
nữa tham gia phong trào "chống lại Ngô Triều". Ông chú họ
tôi phải can thiệp cho Hùng về sớm. Thằng nhỏ căm "trận
đòn hội chợ" khi bị giam ở Ty Công An nên chiều ngày 1
tháng 11 năm 1963, mới nghe tin đảo chánh ở Saigon, đã
bắc ghế tháo hình ông Ngô Đình Diệm treo trên vách
tường để xuống bàn "salông". Hùng nói: "Hễ đảo chánh
thành công là tui đập bể khung hình ni". Mẹ tôi nói:
"Không được làm rứa, hễ không treo nữa thì mở hình
đem cất."
Cũng xin nói thêm về việc treo hình ông Ngô Đình Diệm
tại nhà tôi. Chúng tôi lúc đó đang đi học, chỉ có
người anh thứ ba là công chức, treo hay không treo hình
tổng thống chính quyền chẳng hạch hỏi. Một lần ghé
nhà ông chú họ, thấy một tấm hình cụ Ngô in khá đẹp,
anh tôi xin về "treo chơi" mặc dù trước đó, một anh cán
bộ ty Thông Tin, tên là Lê Xuân Tr., một anh "tân tòng",
nguyên là cán bộ CS không tập kết, ở lại làm việc cho
Quốc Gia, muốn lập công với chinh quyền bèn tố cáo
rằng nhà tôi có một đám thanh thiếu niên hay tới lui
họp hành bàn chuyện chống chế độ. Ty Công An giao cho anh
Truyền, người làng Trí Bưu, có đạo dòng, công an viên
phụ trách phường tôi điều trạ Thay vì điều tra mật,
anh ta đến nói thẳng với mẹ tôi: "Mụ, (Mẹ tôi là chủ
nhà hộ sinh) coi thằng Tr. rứa mà nó báo cáo như ri
được. Đọc báo cáo nó, tui tức lắm. Mấy chú ở nhà ni
toàn đi học không, có làm chi mộ Con của mụ thiếu chi bạn
học."
Một hôm nhà tôi có giỗ, mời bà con đến ăn giỗ. Một
người thuộc làng nội tôi, anh Hoàng L., làm thợ rèn,
chỉ bức hình Tổng thống Ngô Đình Diệm treo trên vách
tường, nói mỉa: "ÔÔng ni là ôông mô, có bà con chi mà
treo rỉ" Anh tôi trả lời: "Anh khác tui khác". Sau khi khách
ra về, anh tôi hỏi tôi: "Mi biết tại răng thằng cha L. nói
rứa không?" Rồi anh tôi không đợi trả lời, nói tiếp:
"Nó mặc cảm thấp hèn, dốt nát."
Nghe thế, tôi mới sực nhớ ra chuyện làng nội tôi. Cách
đây hơn 400 năm, một người đàn bà góa, có 4 người con
trai đều là thợ rèn, theo chúa Nguyễn vào Nam mà lập ra
làng. Khi gia đình nầy khá giả, bốn người con hùn nhau
cùng với dân làng dựng lên một ngôi chùa cho mẹ tụ Chùa
nầy bị hư hại nhiều nhưng nay vẫn còn. Bốn ông con nầy
là bốn họ Hoàng chính trong làng. Khi giàu có, thay vì cho
con học rèn, họ cho con học chữ để ra làm quan, có người
làm đến phụ chính đại thần, làm quốc trượng. Do đó,
người làng tôi bỗng chia hai phe rõ rệt: phe có học thì
làm thầy, làm quan; phe không học thì làm thợ. Thậm chí
ngay cả anh em ruột kẻ có học, người không cũng chia thành
hai phẹ Phe làm thầy, làm quan thì hưởng ơn vua lộc
nước, không giàu có thì cũng nhàn hạ, sung sướng; phe
làm thợ thì quai lưng đập búa thợ rèn, gian nan cực
khổ. Sự cách biệt đó gây ra nhiều mâu thuẫn, xung
khắc đố kỵ đến nổi nội tổ tôi tuy làm thầy thuốc
cứu nhân độ thế mà ở trong làng cũng không yên, phải
qua ngụ bên làng vợ ông.
Sự mặc cảm vì dốt nát và đố kỵ với kẻ có học,
giới quan quyền, khiến sau cuộc cách mạng tháng 8 năm
1945, làng tôi trở thành một làng theo Việt Minh khá
đông, làm cho cái đình làng nổi tiếng to và đẹp bị phá
hủy hoàn toàn. Khi chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ thì
nhiều châu bản triều Nguyễn từ Tàng Thơ (Kho sách của
Triều đình ở Huế) đem về cất giữ ở đình làng thì
Việt Minh cho đốt sạch hoăc cho dân lấy giấy vấn thuốc
lá hút, không còn lại một chút tài liệu sách sử nào.
Những người lãnh đạo Việt Minh trong làng cho rằng
những thứ châu bản phong kiến ấy có liên hệ với các
ngưới làm quan mà họ ghét bỏ, thậm chí thù hằn nên họ
không để lại làm gì. Những ngưởi "lãnh đạo" việc
đốt phá ấy, sau nầy có mấy người làm tướng trong
ngành Công An CS Bắc Việt. Người làng bà con tới ăn
giỗ nhà tôi không nằm ra ngoài mặc cảm dốt nát, thua
thiệt ấy nên mặc dù ông biết rõ tấm hình treo trên
vách tường là ai nhưng ông còn giả bộ hỏi: "ÔÔng ni là
ôông mô có bà con chị.. " Nếu tôi còn ở VN tôi cũng
không treo hình Hồ Chí Minh trong nhà và tôi cũng chẳng bao
giờ kêu Hồ Chí Minh bằng "bác" vì ông ta với tôi chẳng
bà con chi, còn như có ai treo hình Hồ Chí Minh và gọi ông
ta bàng "bác", thì chẳng qua họ kiếm chác được địa vị
quyền lợi như các người thợ rèn làng tôi nên tôn vinh
ông ta mà thôi.
Chỉ mấy ngày sau cuộc đảo chánh, chính quyền mới ra
lệnh cấm treo hình ông Ngô Đình Diệm, lúc đó thì anh
tôi đã nghe lời mẹ tháo tấm hình đem cất vào tủ rồi.
Giáng Sinh năm 1972, Linh Mục Nguyễn Bá Lộc ở Kinh 1 Cái
Sắn mời tôi và nhà tôi vào ăn lễ Noel. Tới nơi, tôi
thấy phòng khách của linh mục NBL treo chình ình bức chân
dung Tổng Thống Ngô Đình Diệm nơi bức tường lớn. Linh
mục NBL nói với tôi từ ngày treo lên tới giờ, chưa bao
giờ ông hạ bức hình Tổng Thống xuống, dù có lệnh của
chính quyền quân nhân đảo chánh, bởi vì như vị linh mục
nói: "Không có ông thì không có dinh điền nầy. Như anh
thấy đấy, dân ở đây không những no cơm ấm áo mà còn
giàu. Trước mắt, mỗi gia đình có 3 mẫu ruộng, giá
mỗi mẫu trên nửa triệu đồng". So với đồng lương
một sĩ quan như tôi, nửa triệu đồng lớn quá. Trong
cuộc tranh cử năm 1967, tướng Thiệu, tướng Kỳ đều có
đến đây, ai cũng thấy chân dung cố Tổng Thống Ngô
Đình Diệm treo trong phòng khách nầy. Họ nghĩ gì nhỉ?
Riêng tôi, tôi nhớ ông chú họ tôi, nhớ tới nhà thờ cụ
Phan ở Bến Ngự, nơi mở ra con đường cho ông chú tôi
tìm được minh chúa, nhớ những ngày thơ ấu tôi lẽo
đẽo theo chân "cậu" đi hái lá bìm bìm ở bãi tha ma bên
chân núi Ngự Bình mà ngay khi ấy, dù còn nhỏ tôi đã
biết câu tục ngữ rất thâm thúy của người Việt: "Dậu
đổ bìm leo".
Mass, những ngày tháng 9/02
hoànglonghải/tuệchương.
Chú thích trong "Đêm Giữa Ban Ngày" của Vũ Thư Hiên:
(1) Ngô Đình Diệm (1902-1963), sinh trưởng trong một gia
đình quan lại, dưới thời vua Bảo Đại làm tới chức
thượng thư tại triều đình Huế. Bị Việt Minh bắt
được thả. Ngô Đình Diệm chạy ra nước ngoài (Mỹ,
Pháp), sau năm 1954 trở về VN làm thủ tướng của chính
quyền Bảo Đại. Năm 1955, Ngô Đình Diệm lật Bảo Đại,
tuyên bố Miền Nam VN là nước Cọng Hòa và lên làm tổng
thống. Năm 1963 bị phái quân nhân làm dảo chánh giết
chết.
(2) Tên thật là Tô Dĩ, đảng viên Cọng sản, bị thực dân
Pháp đày đi Madagascar. Được quân đội Anh giải phóng,
giao cho quân đội Mỹ. Theo ông kể cho tôi nghe thì một
số tù chính trị VN trong đó có ông và ông Phan Bôi (Hoàng
Hữu Nam) được OSS (Cục tình báo chiến lược, tiền thân
của CIA) huấn luyện rồi thả dù xuống Hà Đông. Lê Giản
mang điện đài, tiền và vũ khí về cho đảng. Năm 1945
được ông Hồ Chí Minh cử làm Tổng Giám Đốc Nha Công
An VN. Sau, ban lãnh đạo đảng nghe theo kinh nghiệm Trung
Quốc không để cho người từng có thời gian sống với
địch nắm công tác quan trọng, gạt ông khỏi chức vụ.
Trước khi về hưu Lê Giản là phó chánh án Tòa Án Tối
Cao. Ông có uy tín rất lớn trong những người CS thế hệ
già.
(3) Cụ thân sinh ra ông Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả,
thượng thư bộ Lễ trong triều đình Huế. Khi thực dân
Pháp quyết định bắt vua Thành Thái đi đày cụ Ngô Đình
Khả phản đối, không ký tên vào bản án. Một chí sĩ
khác, cụ Nguyễn Hữu Bài đã từ chối không ký tên vào
bản đồng ý cho khâm sứ Pháp Mahé đào lăng Tự Đức
để lấy vàng bạc châu báu.
(Đêm Giữa Ban Ngày, VTH, trang 228)
(*)Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm
Ai thương, ai cảm ai nhớ ai trông
Thuyền ai lơ lững bên sông
Đưa câu mái đảy chạnh lòng nước non
Đây là câu hò Huế, tả cuộc sống và tâm trạng cụ Phan
khi bị giam lỏng ở Bến Ngự. Nhiều người tưởng tác
giả vô danh. Theo Tôn Nữ Hỷ Khương, chính thân phụ bà là
tác giả, cụ Ưng Bình Thúc Dạ thị.
(*) Nguyễn Văn Tường, Hoàng Kế Viêm, Ông Ích Khiêm và
Tôn Thất Thuyết.
Trước tình cảnh "quốc phá gia vong" vì Tây xâm lược,
các quan trong triều chỉ lo tranh giành, xâu xé nhau. Ông Ích
Khiêm dọn một bữa tiệc, mời các quan lại ăn. Hỏi cho ăn
gì, ông nói: "Chó, trên dưới đều chó hết." Ông dặn
gia nhân, xong tiệc đừng đem nước uống ra, dù ông có
gọi. Gọi mãi không có nước, ông gọi hết gia nhân ra
mắng trước mạt khách: "Bọn bây chỉ lo ăn, chẳng đứa
nào lo việc nước cả."
Các quan giận lắm, nhưng chẳng làm gì một người thẳng
tính như ông.
|
|