Viet Nam Network

Welcome to VN.NET
16/12/17

Ba La Tư linh tinh truyện
  |      Contributed by: Admin  |  Views: 6.155
Trần Hoài Văn

... Vào khoảng cuối thế kỉ ba mươi trước công nguyên, ở nước Ba La Tư thuộc châu Râu Ngô có cộng đồng Liệt, cỡ chừng ba chục ngàn người, sinh sống chủ yếu bằng hai nghề: buôn bán tơ lụa, vải vóc và mở tửu điếm. Người Liệt xuất xứ từ một nước xa tít tận bên bờ biển Sóng Yên Lặng. Đó là những người hình vóc nhỏ bé, chân đi vòng kiềng và ngón chân cái thường tõe ngang sang bên vì một điều giản dị: tổ tiên của họ đã bao đời chân trần lội bùn cày ruộng, bàn chân thường phải bấm chặt vào đất cho khỏi ngã nên lâu dần, ngón cái hát bài "Tạm biệt chim én" với những ngón chân còn lại và quay sang nằm hẳn về một phía. Người Liệt phần lớn chịu khó làm ăn và ít tiếp xúc với dân bản địa. Dân sở tại coi họ là một cộng đồng khép kín, khó hiểu. Giới báo chí địa phương thối mồm, rách việc chuyên thổi phồng về họ như là một bức màn sắt được tổ chức theo kiểu mafiạ Trong con mắt của lũ cảnh sát biến chất, họ quả là những con cừu béo ngoan ngoãn luôn luôn mở rộng hầu bao. Còn đối với bọn lưu manh xã hội đen, đây thực sự là những vật tế thần lí tưởng.

Nói một cách chính xác, người Liệt không phải là những người thích sống khép kín, lại càng không phải là bức màn sắt, màn gỗ gì; họ cũng không hào phóng đến mức được cảnh sát yêu quí quá đáng như vậy; và điều hiển nhiên, họ càng không phải là những kẻ nhát gan trước bọn đầu trâu mặt ngựa. Đơn giản, phần lớn dân Liệt có cái đức tính vô cùng quí báu là sống ở xứ lạ nhưng đếch thèm biết tiếng người ta. Tiếng đã không biết ắt ngại giao tiếp nên bị mang tiếng là khép kín, là bức màn sắt, chứ thực ra họ là những người rất thích nói, nói nhiều và to là khác - dĩ nhiên bằng tiếng mẹ đẻ; còn việc trông thấy cảnh sát thì sợ dúm vào như ếch thấy rắn là hậu quả của cuộc sống bao năm bị cai trị bằng bạo lực, nơi mà tiếng nói của vua Liệt chính là luật pháp, nơi mà không một thằng dân đen nào dám nói điều gì trái ngược với ý muốn của vua quan.

Kể cả rất nhiều người Liệt đã sống lâu năm và được nhập quốc tịch Ba La Tư nhưng vẫn mang nặng tâm trạng của kẻ bị trị. Cụ thể, cứ trông thấy cảnh sát là họ lại giật mình, mặc dù không làm gì trái pháp luật. Sợ cảnh sát như vậy, thế nhưng hai chữ "phòng thuế" chưa chắc đã làm cho họ thấy người nổi nóng lạnh.

Đây cũng là điều cơ bản làm cho họ khác hẳn với dân địa phương, bởi người Ba La Tư sẵn sàng đấu tranh với cảnh sát nếu tụi này lạm quyền, thậm chí họ còn sẵn sàng kiện chúng ra tòa, nhưng chỉ cần nghe đến hai từ "phòng thuế" là nhiều người muốn đái ra quần. Còn chuyện người Liệt là những con vật tế thần lí tưởng đối với bọn lưu manh? Âu cũng là điều dễ hiểu: hãy đi qua những nơi người Liệt buôn bán, bạn sẽ thấy rất nhiều bà, cô ngồi dạng chân như chỗ không người, ngang nhiên cầm từng xấp tiền dày cộp vừa đếm vừa gật gù ra chiều thỏa mãn, mặc cho dân tình đi lại như mắc cửi. Thử hỏi một kẻ có máu chiếm đoạt, một kẻ đói khát, thèm tiền nhìn thấy cái cảnh đó thì làm sao chúng không phát điên cho được?

Trong cộng đồng Liệt, có chàng thiếu niên tên Dương tuổi ngoại tam tuần. Dương mình cao hơn chín thước, hình dong cổ quái, mắt tròn lồi như hai hòn bi ve, trán hẹp, râu dê, mặt khỉ, tính tình nóng nảy. Bình sinh Dương là người đam mê văn chương thơ phú. Ngày ngày, trong khi phần lớn cộng đồng người Liệt lo làm ăn thì chàng lại cưỡi lừa vào trong núi, mở laptop ra chạt với bạn bè ở tận Paris, London hoặc trên dãy Mù Căng Chải quanh năm bốn mùa mây phủ. Hai bàn tay chàng thoăn thoắt lướt trên bàn phím với chiêu "thập chỉ thần công", mồm ngậm xì gà Lahabana luôn nghi ngút khói. Những lúc mệt mỏi, chàng dừng tay với bình sữa dê tu một ngụm lớn rồi hái chiếc lá nho vừa chúm mồm thổi khúc "Phượng cầu hoàng", vừa đưa mắt ngắm các cô thôn nữ Ba La Tư đương khỏa thân làm nương rẫy:

Ơi cô gái Ba La Tư 
Em đẹp làm ta ngất ngư 
Mông em tròn, ngực em đầy 
Con rắn của ta bừng thức dậy 
Hư!

Chiều đến, Dương hay tụ tập bạn bè, uống rượu đọc thơ ở tửu điếm "Ao Tây". Bạn bè của chàng cũng toàn là dân nức tiếng trong giới văn nghệ hai xu, nốc rượu ừng ực như chó uống nước gạo, thỉnh thoảng buồn mồm lại văng tục mấy phát và ngâm láo một câu thợ Cuộc sống của dân Liệt ở xứ này có thể nói là khá thanh bình cho tới những năm cuối của thế kỉ ba mươi trước công nguyên. Mọi người chăm chỉ làm ăn như con kiến tha mồi, số tiền tích cóp được lại đem đổi ra vàng ròng bạc nén gửi về xây dựng quê hương. Vua quan và triều đình nhà Liệt lúc này lại khuyến khích dân đi nước ngoài làm ăn, vì họ hiểu đây chính là nguồn nội lực cho nền kinh tế vốn không mấy khỏe mạnh. Đời sống dân Liệt ở chính quốc rõ ràng là thay đổi rất nhiều so với mấy thế kỉ trước.

Như trên đã nói, cuộc sống của dân Liệt cứ bình thản trôi như một dòng sông mùa cạn (chỉ thỉnh thoảng xảy ra một vài vụ đâm chém vì yêu nhau quá) hóa ra nhiều khi thành nhàm chán. Thấy vậy, có mấy vị trạng nguyên, bảng nhãn mũ áo xênh xang rủ nhau lập ra một cái hội có tên "Người Liệt ở Ba La Tư chia rẽ và chiến tranh". Từ khi ra đời, hội "Người Liệt ở Ba La Tư chia rẽ và chiến tranh" đã làm được rất nhiều việc nhân nghĩa khiến bá tánh vô cùng cảm phục như: kêu gọi mọi người dân Liệt sống và làm việc theo pháp luật, văn hóa của Ba La Tư (không đái bậy ngoài đường, không khạc nhổ lung tung, không ăn thịt chó, mèo; không cười nói to nơi công cộng); thắp hương trên mộ người chết hàng năm vào tiết Thanh Minh; trả lời phỏng vấn báo đài Ba La Tự..

Việc lớn nhất mà hội này làm được là ra nghị quyết xuất bản một tờ báo mang tên "Quê Liệt". Tổng biên tập đầu tiên của "Quê Liệt" là một thiếu niên xấp xỉ ngũ tuần, họ La, tên Sống Lâu. Người này văn võ song toàn, lưng gấu mặt hùm, đi đứng khoan thai như rồng ngái ngủ, mình cao chừng bảy thước rưỡi. Sống Lâu vừa điều khiển tờ "Quê Liệt", vừa cùng người bạn thân của mình là Mưa Thiêng dấy lên phong trào "những người yêu thơ trong cộng đồng". Hai người thảo hịch rồi sai gia nhân dán khắp chốn hang cùng ngõ hẻm kêu gọi các văn nhân hào kiệt mở phường thơ "Tao Đàn Mày Nghe". Phường thơ này qui tụ cũng được kha khá các bậc nhiều chữ, mỗi năm đôi lần họp mặt, tra tấn lẫn nhau bằng cách bắt nghe thợ Thực ra thì lúc đọc lên, có nhiều bài nghe cũng được.

Vốn là người máu mê văn chương, thiếu niên tên Dương không thể vắng mặt trong những lần gặp mặt của "Tao Đàn Mày Nghe". Có lần cao hứng do quá chén, chàng giật phắt micro, một tay cầm đũa gõ vào vại bia, miệng đọc vang bài thơ như sau:

Ta tráng sĩ, hề, gặp thời loạn lạc 
Như cá chưa gặp nước, hề, ta chưa vẫy vùng 
Bỏ bút nghiên, hề, toàn đồ vô dụng 
Một gươm, một ngựa, hề, một cây cung 
Một lòng can đảm, hề, một chí lớn 
Ta xông pha, hề, giữa chốn mông lung 
Chiếc chiến bào ta, hề, ướt đẫm máu 
Bên tai ta, hề, súng nổ đì đùng 
Ta tráng sĩ, hề, gặp thời loạn lạc 
Như cá chưa gặp nước, hề, ta chưa vẫy vùng . 

Thực ra thì bài thơ không có gì, nó chỉ diễn tả cái tâm trạng của một tráng sĩ mơ mộng theo kiểu dở hơi không thực tế, đương lúc say sắp ngã. Thế nhưng một vài viên thơ lại nghe được bèn bẩm báo với phủ toàn quyền, nói phao lên là Dương có ý làm phản, rồi bàn nhau đem giết quách để trừ hậu họa. Dương nghe được giận lắm, ngẩng mặt lên giời cười nhạt một tiếng, rồi rút gươm ra mài dưới đêm trăng, đề phòng có kẻ nào tới thì sẽ đâm cho một nhát chết tốt. Nhưng đợi mãi không thấy thích khách đến ám hại, lại cất gươm đị Sau ít thấy chàng có mặt ở chốn "Tao Đàn Mày Nghe".

Nói tiếp chuyện Sống Lâu làm tổng biên tập tờ "Quê Liệt" được gần một năm thì viên tịch, hưởng dương 49 cái xuân xanh, để lại một vợ và ba con nhỏ. Hôm đám tang, nhìn người vợ và ba đứa con lít nhít thắt khăn xô trắng lăn lộn vật vã bên quan tài cha, ai nấy thảy đều ứa nước mắt vì thương cảm. Sống Lâu nằm đó thanh thản, môi như nở một nụ cười mỉm, khác hẳn với vẻ khắc khổ khi còn sống. Mới hay, đúng là mọi sự trên đời: tiền tài, danh vọng... chỉ là phù vân. Chỉ có cái chết mới là vĩnh cửu vậy!

Hội "Người Liệt tại Ba La Tư chia rẽ và chiến tranh" cuống quýt tìm người thay thế Sống Lâu. Điều này thực khó, vì sinh thời Sống Lâu đã sẵn thơ lại lắm văn, còn có hai truyện ngắn đăng ở tạp chí Phố Rùm (một tạp chí của người Liệt tại xứ Phú Lang Sa. Theo quan niệm của phủ toàn quyền, thì tạp chí Phố Rùm - nơi Sống Lâu đăng hai truyện ngắn tuyệt tác, là một tạp chí tiến bộ, cần phải tẩy chay và cấm đoán); trong khi đó thì nhân tài xứ Ba La Tư có toàn những tác phẩm vĩ đại nhưng chưa thèm xuất bản, nên chưa biết ai thực tài, ai chỉ hư danh. Sau nhiều đêm mất ngủ vì uống cà phê đặc, các trưởng lão trong hội bèn đề cử Mưa Thiêng lên làm Tổng biên tập thay Sống Lâu bởi hai điều giản dị: Mưa Thiêng là bạn thân của Sống Lâu lúc sinh thời và cũng là một trong những người đồng sáng lập "Tao Đàn Mày Nghe".

Mưa Thiêng là một trang thiếu niên tuấn tú, cao chừng chín thước hơn, da trắng, môi đỏ, đầu hói, râu thưa, dáng hạc, mình rùa, tay dài quá gối. Mưa Thiêng lúc đầu chối nguây nguẩy, lấy cớ mình "tài hèn, đức mọn", song thấy bách tính khóc nức nở, giật râu đấm ngực thùm thụp, miệng lại đồng thanh tung hô "vạn tuế", nên đành miễn cưỡng nhận ấn tín Tổng biên tập tờ "Quê Liệt". Về phò giúp Mưa Thiêng làm tờ "Quê Liệt" còn có thiếu niên tên Dương và bọn Thấp Đắc Chí, Núi Sáng, Đá Quí Sáng,Trẻ Trân, Rừng Gió Biển,.... toàn những văn sĩ khét tiếng thời bấy giờ.

Có thể nói không ngoa, rằng Quê Liệt là một tờ báo có uy tín bậc nhất trong cộng đồng, vì nó hầu như không tô hồng và cũng chẳng bôi đen. Song phiền một cái, làm tờ báo này rất mất thời gian mà lại không ra của, nên đôi khi khí thế của quân sĩ có phần ngả nghiêng. Mưa Thiêng là kẻ khốn khổ khốn nạn nhất, vừa chạy bạc cả râu để tìm nguồn tài trợ, quảng cáo, đặt bài, vừa phải cặm cụi đi làm để kiếm tiền nuôi một vợ hai con nơi cố quốc. Trong lịch sử tồn tại của mình, cũng có đôi ba lần Quê Liệt khuấy động được độc giả bằng những bài viết có chất gây ngứa, song không nhiều, vì chủ trương của ban biên tập là "dĩ hòa vi quí" để dễ xin tiền tài trợ.

Nhân đương nói chuyện báo chí, phải nói thêm rằng thuở ấy, trong cộng đồng Liệt tại Ba La Tư, ngoài Quê Liệt ra, còn có thêm Phía Mặt Trời Mọc, Cu Liệt, Quá Khứ và Nối Dài Thằng Nhỏ... thực là mỗi tờ một vẻ mười phân không vẹn mười. Thiếu niên tên Dương thấy tự hào vì nền báo chí cộng đồng lắm, nên một hôm trong tiệc rượu tại tửu điếm "Ao Tây", sau khi con a hoàn rót đầy mấy chung rượu, chàng bèn một tay giơ cao chung rượu, tay kia giơ cao mấy tờ báo và nói lớn:

- Hỡi các bạn nhà báo Ba La Tư, các bạn đã thấy, cộng đồng Liệt chúng tôi tuy không nhiều nhặn gì, thế mà cũng ra được đến mấy tờ báo đấy. Tình hình này thì trong một ngày không xa, chúng tôi sẽ còn có cả đài phát thành và ti vi nữa. Rồi sẽ có một ngày, chúng tôi còn được hưởng cả qui chế "thiểu số" ở đất nước này và có ghế trong quốc hội nữa ấy chứ lị. Mẹ kiếp, hãy uống vì sự thành công của chúng tôi!

Một thằng bạn của chàng vốn là dân báo chí xịn của xứ Ba La Tư, tu đánh ực một phát cạn sạch chung rượu rồi nhìn chàng cười nửa miệng:

- Hừ, báo chí quái gì mà cứ như là được in một cách lén lút ở dưới hầm ngầm theo phương pháp thủ công hồi đất nước tao trải qua đại chiến thế giới lần thứ hai mươi ấy? Trông này, lem nha lem nhem, toàn chữ là chữ, không có một cái ảnh nào cả, dù là đen trắng. Tao cóc cần biết nội dung của chúng ra sao, nhưng chỉ cần nhìn cái hình hài thảm hại của mấy tờ báo này là đã không có hứng để xem rồi. Nên nhớ, thời nay không còn cái văn hóa đọc báo nữa đâu, mà là văn hóa xem báo. Mấy tờ báo này giấy xấu quá, nên thậm chí dùng vào "việc kia" cũng không xong. Thôi dẹp đi, ông nhà báo của cái cộng đồng toàn những nhà thơ và cầu thủ kia ơi! Thiếu niên Dương giận sôi người vì bị thằng bạn đá giò lái, chả là trong những bài trả lời phỏng vấn báo chí Ba La Tư, mấy vị quan chức của hội "Người Liệt ở Ba La Tư chia rẽ và chiến tranh" đã hơn một lần tuyên bố "Ngoài những lúc làm việc ra, chúng tôi còn làm thơ và đá bóng".

Chàng buồn thê thảm, muốn thổ huyết mà chết, lòng hẹn lòng phải bằng mọi cách ra được một tờ báo màu sắc rực rỡ để sánh vai với báo chí của lũ tây dương này, kể cả có phải bắt tay với quỉ dữ. Chàng gặp người nọ, gạ người kia, ráo riết đi tìm đối tác, tìm nguồn vốn và bỏ bẵng mọi công việc cho vợ quán xuyến trong hơn hai tháng. Nhưng người có lòng thì không có vốn, người sẵn sàng bỏ vốn thì lại có mục đích khác với chàng. Lại hơn hai tháng giời nữa trôi qua, vợ chàng vẫn vò võ một mình quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ hai con với một chồng.

Vợ Dương là thiếu nữ con nhà, da trắng, miệng tươi, mũi dọc dừa thắt đáy lưng ong, vừa khéo chiều chồng lại giỏi nuôi con. Thấy thằng chồng khùng mắc căn bệnh đam mê văn chương mà không ra xít (tiền), nàng không giận, vẫn chăm chút mong chồng thỉnh thoảng rặn ra được áng văn hay. Nàng hiểu cái giá trị đích thực của hạnh phúc không nằm ở nhà băng, mà ở ngay giữa hai đùi chồng, nên chăm chút cho Dương lắm lắm: nào phao câu ba ba, nào trứng thuồng luồng lộn, nào dương vật chó... thực không thiếu thức gì. Ngày ngày nàng gọi taxi đi làm sau khi đã chăm chút cho hai đứa trẻ ăn và dẫn chúng đi học. Dương ngủ bảnh mắt quá ngọ mới dậy, vớ bình sữa sữa dê vợ để sẵn đầu giường tu một hơi rồi lại cưỡi lừa đi vào núi, vừa làm thơ, vừa lướt web, vừa hút xì gà, vừa hái lá nho thổi khúc "Phượng cầu Hoàng", vừa ngắm gái Ba La Tư cởi truồng làm rẫy (như đã kể ở phần đầu).

Một hôm, như mọi bận, Dương tỉnh dậy khi mặt trời đã lên tỏ, đầu đau như búa bổ vì đêm trước hơi quá chén. Chàng chợt nhớ ra là đã cùng chúng bạn uống hết chai vodka dành cho con lừa (nhân đây xin mở ngoặc: con lừa của chàng cũng mất dậy như chủ, rất hay ghẹo lừa cái và đồ uống khoái khẩu nhất của nó là vodka Nga La Tư). Dương phân vân quá, bởi chàng biết rõ tính tình con vật của mình; nếu thiếu rượu chắc chắn nó sẽ không chở chàng đi đâu, dù chỉ là một mét. Nếu có quật, có đánh làm cho nó điên lên, thì nó sẽ trả thù bằng cách lừa lúc hất chủ ngã từ trên lưng xuống đất. Dương đã hơn một lần nếm đòn thù của con lừa mất dậy và sành rượu này rồi, nên chàng thực sự thấy chờn chợn. Sau giây lát phân vân, chàng quyết định ra tửu điếm gần nhất mua vài xị rượu đế cho con lừa uống tạm. Sờ túi thấy không còn cắc nào, chàng bèn mở két định lấy ít bạc vụn.

Nhưng trong két trống không, cả bạc vụn lẫn bạc nén đều không có. Thấy mảnh giấy gập tư nằm chỏng chơ, chàng tò mò giở ra đọc. Mặt chàng tái đi, hóa ra giấy báo của nhà băng đã đến kì hạn đáo nợ số tiền mà vợ chàng vay kredit. Mồ hôi túa ra, chàng thấy mình thật vô tích sự quá đị Chàng thầm trách mình suốt ngày chỉ văn với thơ, để cho vợ vò võ kiếm tiền một mình nên không đủ cung phụng cho hai đứa con và thằng chồng hay rượu, lại thêm cả con lừa mất nết. Thiếu nên Dương vò đầu suy nghĩ lúc lâu rồi chàng vớ tập bản thảo tập thơ dịch từ ngôn ngữ Charamaxiphacote đang đợi chỉnh lí lần cuối trước khi in, ra hiệu cầm đồ ngoài đầu ngõ. Được hơn nén bạc, chàng mua cho con lừa ba trăm gam cô nhắc, chỗ bạc còn lại chàng để cho vợ lấy tiền chợ. Rồi hai thầy trò dắt nhau đị Sau một hồi giở đủ trò (vì chưa đủ cơ số rượu) như chổng đít lên giời đi bằng hai chân trước, rồi lại đi giật lùi mà không thấy chủ thèm để ý, con lừa hiểu rằng chàng đang có tâm sự nên cũng không dám hỗn nữa. Nó càng ngạc nhiên khi chàng bảo chở ra bến sông chứ không vào núi như mọi ngày.

Ngồi trên lưng lừa, thiếu niên Dương vò đầu suy nghĩ. Dạo này làm ăn khó hơn xưa, nên cái nghề viết của chàng nghe chừng cũng không ra gì. Nhuận bút đã ít lại bị trả làm nhiều lần, nên đồng tiền cứ bị xé lẻ ra, không còn đủ để uống rượu. Dọc triền sông nơi thiếu niên Dương và con lừa đi qua, những cánh đồng cúc trổ hoa vàng rực. Nhìn những bông cúc run rẩy trong gió thu dưới cái nắng vàng hoe như rơm mới, thiếu niên Dương lại càng buồn tái tê, bởi nó gợi cho chàng nhớ về kỉ niệm thời ấu thơ nơi chính quốc. Cũng trên cánh đồng hoa cúc như thế này ở triền sông quê hương vào một ngày nắng hanh vàng, chàng đã được nếm nụ hôn đầu đời. Cô thôn nữ mắt nhắm nghiền, môi hé mở, người mềm nhũn như chờ đợi một cái gì đó ở gã trai quê hơn là nụ hôn vụng về. Nhưng hồi đó thiếu niên Dương còn ngu lắm, nên luýnh quýnh một lúc như gà mắc tóc, chàng cũng chẳng biết làm gì hơn là vuốt tóc người bạn gái và hôn đại vài phát không đâu vào đâu.

Đang đi cà nhắc bước một, chợt con lừa của Dương lồng lên, phi nước đại chạy thẳng xuống cánh đồng hoa cúc vàng. Dương ngạc nhiên, nhưng vốn đang chẳng biết đi đâu, nên chàng để mặc xem con lừa thiếu rượu này giở trò gì? Chạy được chừng hơn dặm, tới một bụi cây, con lừa lắc mạnh một cái, Dương ngã chổng vó, mặt đập vào những bông hoa cúc vàng mềm mại. Chàng điên tiết ngẩng mặt lên định chửi cho con lừa mất dạy một trận, thì thấy nó đang uốn éo đi lại quanh một con lừa cái, mắt liếc ngang liếc dọc đưa tình. Chàng phì cười cho cái tật máu gái của con lừa và biết rằng mình sẽ còn phải đợi đến lúc nó "thịt" được con lừa cái tội nghiệp kia thì may ra mới có thể tiếp tục lên đường.

Để giết thời gian, chàng đi thơ thẩn trên cánh đồng hoạ Bước chân đưa chàng tới một ốc đảo xinh đẹp, có suối chảy róc rách, có vượn hót chim kêu. Băng qua con suối nhỏ trong vắt nhìn rõ cả những chú cá vàng nhởn nhơ bơi lội, thiếu niên Dương bước tới thảm cỏ xanh rờn, nơi có một đạo sĩ tóc bạc phơ, râu dê, mặt chuột, đang ngồi ngả nghiêng bên vò rượu, tay quạt guitare phừng phừng như quạt chả, giọng lướt khướt ca bản "Đừng xa anh đêm nay". Không dám kinh động cảm hứng của dị nhân, thiếu niên Dương se sẽ giật lùi rời gót.

Chợt đạo sĩ râu dê mặt chuột buông đàn, ngẩng đầu lên:

- Xin đừng khách sáo! Mời khách quí dùng với ta một chung rượu nhạt.

Dương vốn đang thèm rượu gần chết, lại sợ đạo sĩ thay đổi ý định nên lập tức vái dài một cái rồi ngồi xuống.

Sau tuần rượu đầu tiên, người đã hơi tinh tỉnh lại,

Dương cung kính mà rằng:

- Thưa lão trượng, chẳng hay lão trượng danh tánh là gì, xin cho kẻ hậu bối được biết.

Đạo sĩ cầm chung rượu lên, nhưng thay vì đổ rượu vào mồm như người trần mắt thịt thì lão ta lại cho mũi vào hít đánh soạt một cái. Thiếu nên Dương cả kinh, lại cung kính vái dài cái nữa.

Đạo sĩ đưa tay quệt ngang mũi, đoạn vuốt nhẹ chùm râu dê:

- Ta vốn không phải người xứ này. Quê ta ở tận miền Sống Dở Chết Dở thuộc hành tinh Nhiệt Liệt Hoan Nghênh , ta vốn xuất thân làm báo, viết văn...

- Lão trượng viết văn, làm báo? Vậy sao lão trượng lại tới nơi này?

Không giấu nổi vẻ kinh ngạc, thiếu niên Dương hỏi dồn, quên cả phép lịch sự tối thiểu.

Đạo sĩ dường như không để ý tới điều này, rung đùi nói tiếp:

- Ờ, có gì đâu. Cả thời trai trẻ ta đã dành hết tâm trí và thời gian để làm một tờ báo. Tờ báo mà ta dành hết tâm trí để làm không mang lại cho ta một đồng xu sứt nào, nhưng bù lại, người ta trả công cho ta bằng những lời khen, động viên khích lệ và thỉnh thoảng đãi ta một bữa ăn. Nhưng vợ con ta không sống được bằng những lời khen, nên đã bỏ ta mà đi. Khi ta giật mình tỉnh ngộ thì đã quá tuổi của con bây giờ. Ta chán đời, bỏ lên núi đi tu, học được phép tiên. Sau khi đắc đạo, ta ngao du thiên hạ để giải khuây. Qua xứ này thấy con gái Ba La Tư đẹp quá nên cũng đành nghiến răng trả vài ngàn nén bạc cho mấy thằng cha làm dịch vụ kiếm tấm thẻ định cự Sau khi nhận thẻ ta mới biết mình bị chúng chém quá đắt, việc nhỏ thì chúng thổi phồng thành to, việc vừa vừa thì chúng làm như nhà sắp cháy để móc túi của ta, đã thế chúng lại còn hay giở giọng giả nhân giả nghĩa. Ta định trừng trị bọn bất lương ấy, nhưng lại thôi, vì muốn để cuộc đời này sẽ trả lời cho chúng biết một cách chính xác nhất về luật nhân quả. À, còn con? Con là ai, từ đâu đến? Thiếu niên Dương đứng dậy cúi mình xá một cái nữa:

- Thưa lão trượng, hậu bối tên Dương, họ Không Áo, cũng ti toe đeo đẳng nghiệp bút nghiên bấy lâu nay. Hiện hậu bối cũng đang làm báo.

Đạo sĩ nhướng cặp râu dê:

- Làm báo ử Chắc xứ này họ trả thù lao cao lắm phỏng?

Con làm cho ta thấy ngứa nghề rồi đấy.

Thiếu niên Dương bối rối cúi đầu:

- Dạ không, hậu bối làm báo và cũng được trả thù lao bằng những lời khen, thỉnh thoảng cũng được đãi một bữa ăn ở tửu điếm "Ao Tây" hoặc "Cốc Cốc". Hiện nay vợ con hậu bối cũng đang lâm vào cảnh đói rách. Hôm nay buồn quá, hậu bối trèo lên lưng lừa và để mặc cho nó đi đâu thì đị Không ngờ, số phận run rủi cho hậu bối được gặp lão trượng.

Cặp râu dê lại nhướng lên lần nữa:

- Con nói gì, cưỡi lừa tới đây à? Lừa đực phải không?

- Vâng...

- Hèn nào, giờ thì ta đã hiểu - Không đợi cho Dương hỏi tiếp, đạo sĩ giải thích - Vốn ta vẫn để một con lừa cái cảnh giới vòng ngoài, hễ có người lạ đến là nó sẽ dùng sóng siêu âm truyền tín hiệu báo động để ta cho cái ốc đảo này biến mất. Nhưng có thể hôm nay nó đã bị gã lừa đực của con mê hoặc nên quên nhiệm vụ. Nhưng thôi, không sao, âu cũng là duyên trời cho hai thằng nhà báo chúng ta gặp nhau. Nào, ta cùng uống! Đạo sĩ lại rót rượu ra hai cái chung và lại cho lên mũi hít đánh soạt rồi vỗ vai thiếu niên Dương:

- Đừng buồn, chàng trai, ta sẽ cho con một bảo bối để mỗi khi túng thiếu, chỉ cần giở nó ra là con sẽ đủ tiền tiêu. Con hãy đưa tay ra.

Thiếu niên Dương run run chìa bàn tay. Đạo sĩ phất mạnh ống tay áo, một quyển vở nhàu nhĩ nằm gọn trong lòng bàn tay gã thiếu niên.

- Đây là bửu bối mà bất kì thời nào, chế độ nào con cũng có thể kiếm cơm được, hãy xé nó ra thành từng mảnh nhỏ và nuốt vào bụng. Con sẽ tự khắc nắm được bí quyết này.

Thiếu niên Dương làm theo, dĩ nhiên chàng dùng rượu để nuốt giấy cho dễ. Quả thực, nuốt vào đến đâu, chàng thấy sáng dạ ra tới đó. Khi nuốt xong tờ cuối cùng, thiếu niên Dương vui mừng vì đã biết mình có thể làm được gì. Chàng vui sướng cúi xuống hôn chân đạo sĩ. Họ lại túy lúy uống hết chung này tới chung khác.

Khi bóng nắng đã ngã xuống sau rặng cây, đạo sĩ ngật ngưỡng vạch tay áo lên nhìn chiếc đồng hồ Thủy quân lục chiến dạ quang ba kim hai cửa sổ, giọng nhừa nhựa:

- Thôi, đã đến giờ ta phải thăng rồi. Con về đi, và hãy nhớ làm theo những điều ta dặn: Hãy chăm sóc thật tốt gia đình của mình. Đấy mới là lẽ sống, con ạ.

Vứt mẹ nó tờ báo của con đi. Ở thời này cứ việc gì không ra xít thì đừng có làm, ngay cả những người làm công việc từ thiện họ cũng phải có miếng đổ mồm. Đừng có để cho kẻ khác lợi dụng. Nhưng ngay cả khi được trả tiền, thì cũng phải xem cho kĩ, họ trả tiền cho con với mục đích gì. Nếu vì đồng tiền mà đánh mất bản thân mình thì cũng bỏ mẹ nó đị Đừng biến mình thành một thằng điếm bút con nhé! Nếu phải làm điếm, thì thà làm điếm đực! Hà hà hà! Đạo sĩ cười nghiêng ngả rồi rùng mình một cái. Một cơn lốc xoáy ào ào nổi lên. Phút chốc cái ốc đảo xinh đẹp với thảm cỏ xanh và dòng suối trong vắt biến mất, chỉ còn lại thiếu niên Dương say ngả nghiêng và con lừa đực vẻ đầy mệt mỏi nhưng hạnh phúc.

Từ đó trở đi, không ai thấy thiếu niên Dương viết lách gì nữa. Chàng chuyển sang làm nghề khác, nghề mà đạo sĩ đã truyền cho bí kiếp. Thỉnh thoảng mới thấy chàng cưỡi lừa vào núi và nghe văng vẳng tiếng hát:

Ơi cô gái Ba La Tư

Em đẹp làm ta ngất ngư

Mông em tròn, ngực em đầy

Con rắn của ta bừng thức dậy

Hư!

Vác sa va tháng Tư 2004

Truyện-Ngắn

Story Options