|
Contributed by: Admin |
Views: 5.678
Mân Châu
Về cái thời đại gần đây, trong xóm Cầu Đá ở làng
Hội Xá có một người đàn bà góa chồng, tuổi ngoài
bốn mươi.
Từ khi đức phu quân bà vui thú non bồng, còn bà ở lại
chốn hồng trần thời chăn tằm, hái dâu, hàng xay hàng
xáo, giữ tiết thờ chồng và nuôi hai đứa con trai bồ
côi cha đi học.
Bà vốn người họ Nguyễn, năm 20 tuổi thời tơ xe chỉ
kết về họ Lê, lấy kế một ông đồ tuổi ngoài ba
chục, đã có một đứa con riêng vợ trước để lại lên
bốn. Không ngờ trăng già độc địa, giữa đường vội
cắt gánh loan hoàng, gối uyên ương nỡ đem chia nửa, gây
nên một cái bi kịch kẻ dương gian, người âm phủ, đôi
đường cách trở rất bi ai! Năm bà chẵn ba mươi, thời
ông từ biệt bà mà chơi nơi Lạc quốc.
Có một hôm, mặt trời đà xuống núi, vừng trăng mới
lên non, chuông triêu mộ trong làng đổ dồn khắp chốn,
người làm trong các khu ruộng chiêm đã đuổi trâu về
nghỉ tối, kẻ đi người lại vắng tanh, trên con đường
vào chùa Hương Tích, cách mé trong cái quán Đìa độ
chừng hai mươi thước tây có một cô con gái trạc ngoại
đôi mươi, nón quai thao, giày mõm nhái, quần lĩnh áo
băng, khăn xa tanh, yếm nhiễu đỏ, vòng hoa, nhẫn hột coi
rất phong lưu, bị mấy nhát dao ở cuống họng và cạnh
sườn, nằm sóng sượt ra ở dưới rặng tre bên bờ mạ,
hành trang đồ vật y nguyên, không mất tí gì
cả. Lạ thay! Không biết tiền oan nghiệp chướng ra làm
sao, ai thù ai ghét mà mảnh hồng nhan phơi nơi đất khách,
thảm đát (1) nhường vầy! ở đâu đến đó cơn cớ
những gì? Biết ai mà hỏi!
Tuần phiên làng Yến Vĩ đi canh đồng đêm vừa đến
đó, thấy dưới bụi tre thấp thóang bóng người mặc áo
trắng, đương ngồi bên bờ mạ bèn đi xuống thời bắt
gặp hai chàng thiếu niên hai bên mà cái thây người con
gái thời ở giữa, đứa lớn tay cầm dao, đứa nhỏ áo
dây máu liền hô hóan nhau lại bắt trói giật cánh khỉ cả
đôi đem giải về điếm.
Trong lúc tuần phiên làng Yến Vĩ bắt được hai kẻ giết
người thời trên con đường khuất khúc ở bờ sông
Đào, sông Hát dưới bóng trăng lờ mờ ở men làng
Thượng, làng Sêu có một người con trai thành thị chân
bước vội vàng, lòng lo ngay ngáy, đi một quãng lại
ngoảnh cổ lại sau nhìn, nhường e, nhường sợ tai vạ
đến mình. Nhưng xem vẻ ra có ý vui lòng hả dạ, miệng
lẩm bẩm rằng: "Xin đức Thượng đế ngài chiếu giám
cho tấm lòng thành kính của tôi đối với bạn tôi, những
kẻ hại nhân thời nhân hại, ngài soi xét cho chúng tôi
được phận nhờ".
Cách sau người ấy, độ năm kilômet thời không biết
rằng người ấy có biết đến hai kẻ giết người cổ
đeo gông tre, tay bị thừng buộc theo những người tuần
phiên và kỳ dịch làng Yến Vĩ giải nộp quan phủ Mỹ Đức
đó không? Ai ngờ cùng chung một con đường, cùng chung
người đi đường mà có cái bi kịch diễn ra cũng trong
một khoảnh khắc, một bên lủi thủi một người, không ai
gông trói mà lòng cũng ngổn ngang. Vậy các độc giả cao
minh cho cái bi kịch nào thảm hơn?
Một hồi ba tiếng trống buổi hầu sáng, quan ra công
đường, nha lại dân sự đều chực hầu rất đông, ở
hàng cơm cổng phủ, các bác tuần phiên đã cột hai tên
ác phạm vào cột nhà hàng mà ngồi hầu cơm cụ chánh
tổng tổng mình và thầy lý thầy phó làng mình, người
nào người nấy đều cơm no rượu say cả rồi, nghe tiếng
trống bấy giờ mới điệu tội nhân vào nộp trước quan
phụ mẫu.
Quan phụ nhận giấy giải nộp xong, nhất diện ngài sai
thầy đề cùng mấy tên lính lệ, tùy phái đi ngay với
chánh tổng Phù Lưu thượng và lý trưởng Yến Vĩ về
chỗ người bị giết nằm khám nghiệm lại để đem chôn;
nhất diện ngài sai thầy thông lấy cung hai tên ác phạm
rồi ngài truyền cai lệ đem xuống trại giam. Trong khẩu
cung thời một người khai tên là Lê Văn Hữu 25 tuổi, cha
mẹ chết cả rồi, một người khai tên là Lê Văn Cung, 18
tuổi, cha chết mẹ còn, chỉ khác tên khác mẹ, còn họ và
tên cha cùng các lời cung về việc giết người con gái
thời giống nhau hết. Hai cậu cùng khai tên cha là Lê Văn
Từ ở làng Hội Xá, duy cậu bé thời còn mẹ là Nguyễn
Thị Nhân mà đều nói rằng: "Vốn con nhà học trò xưa nay
lương thiện không có làm xằng bao giờ". Sự giết
người thời cùng chối rằng: "Tình cờ gặp thời xem,
chớ không phải anh em mình giết".
Nguyễn Thị Nhân là tên ai? Các độc giả hẳn cũng biết
ngay là tên bà ngoài bốn mươi tuổi, góa chồng từ năm
ba mươi, ở xóm Cầu Đá mà Lê Văn Từ chính thực là
tên ông đồ chồng bà. Lê Văn Cung con bà, còn Lê Văn
Hữu là con người vợ trước vậy.
Đêm hôm ấy, mà Hữu và Cung phải bắt thời bà ở nhà
vẫn tưởng như mọi khi hai con mình đi chơi cùng các bạn
học quanh vùng hoặc ở Phú Yên, hoặc sang Bài Lam hay là
ở Bạch Tuyết, không ngờ sáng ra bà vừa cất gánh gạo ra
chợ Đục Khê bán, đến cổng chợ đã thấy người ta
xôn xao chuyện con bà giết người phải bắt nộp quan.
Ôi!
Tin đâu sét đánh lưng trời, khiến cho lòng người mẹ
góa kia không nung mà nóng, chẳng cắt mà đau. Sụt sùi
giọt lệ trở lại gia đình, nào hai con đâu? Mà chỉ thấy
một miếng đất vườn, ba gian nhà gỗ. Lẽ đâu tin ấy
lại là thật? Hay hai con ta ở trong nhà? Nào có đâu! Chỉ
thấy bàn thờ: đây là thổ công, đây là tiên tổ, đây
là đức phu quân! Nghĩ mà thương thay cho con trẻ, tưởng
lại giận thay với trời già! Kìa mặt trời đã gần
đứng bóng, trẻ đầu làng đã đi xem về, đã thấy đồn
đến tai rằng quan phái cụ tá về khám thây người con
gái trẻ, thôi thế nào mà chẳng lụy đến thân già này
thôi. Khóc chán lại nghĩ, nghĩ chán lại khóc, không còn
biết tính ra sao, bà chỉ còn có lên đèn hương mà cầu
nguyện trước từ đường mà thôi.
ở dưới hương thôn, người vợ góa chồng thương con
vật vã, lúc ấy đương là lúc thầy thông vặn vẹo lấy
khẩu cung hai người con ở chốn công đường quan phủ Mỹ
Đức. Lấy xong khẩu cung, thời phó lý và tuần phiên
làng Yến Vĩ ký dự thính khẩu cung, chu tất mới ra chào
quan xin về. Các bác tuần phiên với thầy phó ra ngoài
cửa phủ thời anh em ai đã xuống đến trại xỏ chân vào
cùm rồi vậy.
Quan xem cung xong, liền phê hỏa bài cho thầy đề, lập
tức khi đệ biên bản về phủ thời phải đòi kỳ lý làng
Hội Xá lên để chất vấn tính hạnh và căn cước hai
tên chối rằng không giết người này.
Hỏa bài một xuống thời kỳ lý đi ngay theo cụ đề về
phủ. Song trước khi đi những lễ trình diện cụ tá, lễ
trình tờ khai quan, hiện đã tống nhà người gái góa kia
bắt phải biện cả. Nhưng dân Hội Xá lên quan, cụ này
thời khai rằng: anh em nhà ấy vốn lương thiện, còn sự
giết người này có hay không không dám chắc; thày kia
thời khai rằng: không dám quyết rằng anh em nhà ấy có
giết người hay không song vốn là người đáng tình nghi
xưa nay...
Đủ cả giấy má, bấy giờ quan phủ ngài mới đem hỏi mỗi
người một lúc để tra xét cho ra.
Lê Văn Hữu bị hỏi trước:- Sao mà trời vừa tối hai anh
em bay đã dám cả gan giết người? Quân này gớm thật!
- Dạ bẩm lạy quan lớn, đèn trời soi xét, chúng con quả
thị hiền lành.
- Không giết người thời sao bay đến đấy làm gì? Mà
khi chúng nó bắt được bay, tay mày cầm dao, áo em mày
đặm máu, chúng bay đương lúi húi lấy của của con bé
ấy. Căn cước của chúng bay đâu, khai cũng đáng tình nghi
thời bay còn chối thế nào được?
- Dạ bẩm lạy quan lớn, sinh phúc cho chúng con được nhờ,
nhân lệ thường của anh em chúng con cứ đến chiều thời
rủ nhau đi đồng, vừa mới ở dưới đồng lên, đến
đấy thấy lạ mà xem thực không có giết.
- Mày nói thật vô lý! Có thế nào cứ thú thực đi, ông
liệu đường cứu cho, không có thời cứ lý kết án bay
chối sao khỏi được.
- Dạ bẩm quan lớn là cha mẹ dân xin ngài xét cho, quả
thực là hai anh em con vừa đi đến đấy thấy lờ mờ mà
không rõ rằng người hay là cái gì mà giống như người,
mới bảo nhau rẽ vào đó thời em con mò vào trước xem
người rồ hay phải bệnh lại nằm đấy, sau em con kêu lên
là người con gái Hà Nội đi chùa bị giết, sườn có con
dao còn cắm đó, con vội vàng rút con dao vừa xong, thời
thích ngộ tuần phiên đến.
Quan nghe xong lại đòi Lê Văn Cung lên hỏi, rồi sai lính
đem Hữu xuống trại. Quan hỏi cung thời cũng khai như lời
anh. Quan bẻ rằng:
- Sao bay thấy thế bay không hô hoán ngay dân làng đến
rồi bay hãy xem có được không? Thực là bay giết.
Cung thưa rằng:
- Chúng con vừa mới gặp, cái lòng thương người chết
nó làm cho quên mất lẽ quốc gia, bởi sơ ý có thế mà
nay nên tội.
Quan hỏi xong, lại sai đem xuống trại giam.
Buổi hầu hôm sau, đông đủ cả quan nha, cơ, lệ, cùng
mấy ông chánh tổng, tuần huyện sở tại đem việc ra bàn
định vẫn lấy làm ngờ.
Thầy đội lệ bẩm quan xin tấn. Quan liền sai đem vồ
nọc chão, roi kìm cặp, hỏa lò than, đủ các thứ để ở
sân công đường, rồi đem phạm nhân ra tấn khảo. Quan
truyền khảo Lê Văn Cung trước.
Lính đem Cung ra đóng cọc rồi trói giật cánh khỉ ra
đằng sau, chìa đầu gối ra để đợi khảo. Lê Văn Hữu
trông thấy thế nghĩ thương em ứa hai hàng nước mắt,
xin ngay vào trước cửa quan để thú tội cho em khỏi phải
khảo.
- Bẩm lạy quan lớn, ngài ngồi cao xét rõ, nay cái lý đã
hiển nhiên rằng anh em chúng con giết người, không sao
chối được. Vậy con xin thú quan lớn rằng con giết, còn
em con nó ngu dại nó chẳng biết gì cả. Mẹ hai con có một
mình nó, xin quan lớn làm tội con mà tha cho nó.
Cung thấy anh nói thế bèn bẩm to lên rằng:
- Anh con sợ con phải khảo đau khổ mà ra nhận tội trước
đi đó. Thôi quan trên đã định tội cho chúng con giết
người chúng con không thể chối được, vậy con xin thú
thực là con giết, chớ anh con xưa nay vốn người lương
thiện, trong bọn nho lâm đều yêu quý cả.
Hữu thấy em nói thế liền nói với quan rằng:
- Bẩm lạy quan lớn, em con không biết giết người, nó
lành lắm chẳng qua nó thương con mà nó nhận liều đó
mà thôi, quả thị con cầm dao, con đâm con bé ấy, em con
không biết sự tình gì, xin quan lớn tha cho nó về để
nó phụng dưỡng mẹ hai con, cho mẹ con được vui lòng, còn
con mới chính là có tội.
Cung lại thưa quan rằng:
- Bẩm lạy quan lớn, anh con nhận bậy, chớ chính con giết
nó, vì con thấy của mà ham, giết xong đưa dao cho anh con
cầm, chứ không phải là anh con giết, chẳng qua anh con
thương con bé dại mà muốn cứu con, gánh lấy tội đó
thôi, chính con mới là có tội.
- Em ơi, sao em nhận chi thế, chính anh là cái thằng tham
sắc hiếp gian không được rồi giết người ta, em còn
thương làm gì thằng hung ác nữa... Bẩm quan lớn, con
đây mới thật là có tội.
Hai anh em Hữu và Cung, anh nhận là anh giết, em nhận là em
giết làm cho suốt từ quan đến nha, cả bên cơ lẫn bên
lệ, không ai biết là người nào giết người, kẻ thời
nhận vì tham tài mà giết, kẻ thời nhận vì tham sắc mà
giết, không biết ai oan ai tội.
Hai anh em Hữu và Cung đều nói phân vân như vậy, quan phủ
Mỹ Đức không hiểu thế nào mới bẩm đệ cả hồ sơ và
giải cả hai người ấy lên quan Tổng đốc Hà Đông.
Ra đến tỉnh đông đủ quan thượng, quan án, quan thương
cùng bên phiên, bên niết hỏi thời hai anh em nhà ấy đều
cũng cứ kẻ này khăng khăng vì tham tài mà giết, kẻ kia
khăng khăng vì hiếu sắc mà giết, quan tỉnh cũng lấy làm
khó xử mới bẩm lên quan kinh lược. Quan kinh lược bèn
sức cho đòi người mẹ lên hỏi. Mà cái tiếng hai anh em
Lê Văn Hữu yêu mến thương xót nhau đã lừng lẫy lên
ở Bắc Kỳ, cơ hồ cả nước Nam đều biết, ai nghe cũng
lấy làm cảm động.
Trong lúc ấy, thời cái người thành thị cùng đi một
đường với anh em nhà họ Lê cách nhau 5 kilômet kia đương
thênh thang ở trong chốn Thăng Long, dưới non Nùng trên
sông Nhị.
Thì giờ như tên bắn, ngày tháng như thoi dưa, bà Nguyễn
quả mẫu ngồi nhà tính đốt ngón tay đã được hai tháng
lẻ! ồ! Mới ngày nào một vẻ thiều quang thiên hạ nô
nức chơi xuân trẩy hội mà đến nay còn một tháng nữa
thời đã đến tết đoan dương. Nghĩ đến lúc tàn xuân
trăng vọng, con mình phải bắt mà cái sầu nay đã đến
cùng cực không biết thế nào rồi! Xiết bao nhiêu tốn
kém về dân làng khai báo mà đến nay chợt lại có lính
cho đòi ra đến kinh kỳ. Mảng tưởng đến chỗ chồng con
du học xưa nay, ra đến nơi lòng càng thảm đạm.
Này, buổi hầu sáng, trống vừa thôi điểm cậu lính
tuần đã giải một bà cụ mặt mũi âu sầu chua xót, từng
đi qua cái con đường người con trai thành thị đi trước
5 kilômet tuần phiên làng Yến Vĩ giải con mình đi sau,
mắt đã nhìn thấy cửa phủ Mỹ Đức, cửa dinh quan tổng
đốc Hà Đông, bấy giờ mới đến tòa kinh lược mà vào
hầu vậy.
Vào tới nơi sụp xuống lạy, quan liền hỏi:
- Con mụ kia, xưa nay trong gia đình sao không biết dạy con
để cho con làm điều phi pháp.
- Dạ bẩm lạy cụ lớn, ngài là sao phúc của muôn nhà,
Phật sống của trăm họ, xét thấu tình cho con. Cha chúng
nó ngoài bốn mươi thời chết vốn cũng là người học
trò thi hai ba khoa tam trường về nhà dạy học, con hơn
mười năm nay chẳng may ở góa, giữ tiết thờ chồng,
cũng mong nuôi cho con nối nghiệp thư hương, không dè tai
bay vạ gió, hai con con dại dột thế nào, sinh con ai nỡ sinh
lòng, cụ lớn thương cho con được phận nào con nhờ
phận ấy.
- Không, ta không có làm tội mụ làm chi, ta chỉ hỏi mụ cứ
thực mà nói trong hai đứa, đứa nào ác hơn.
- Trăm lạy cụ lớn, hai thằng con con xưa nay, chúng nó chăm
chỉ học hành, nết na đứng đắn cả, người trong vùng con
ai cũng khen ngợi, chẳng hay sự giết người này ra thế
nào con không dám biết. Duy con có nghe trong sách mà chồng
con thường giảng đọc xưa nay rằng: "Sát nhân giả tử",
vậy thời phép nước, hễ giết người thời phải làm
tội chết, nay con xin cụ lớn làm tội thằng em, còn tha
cho anh nó được về thời chúng con được nhờ ơn cụ
lớn lắm lắm.
Quan kinh lược thấy nói lấy làm lạ lắm bèn hỏi luôn
rằng:
- Thường tình con người ta, ai cũng yêu con bé hơn con
lớn, nay con bé lại chính là con mụ đẻ ra, con lớn lại là
con người vợ trước sao mụ lại không xin tội cho đứa
bé mà lại vì đứa lớn thế thì nghĩa làm sao?
- Dạ bẩm lạy cụ lớn ngàn lần, thằng Lê Văn Cung là con
con đẻ ra, thằng Lê Văn Hữu là con chị trước con đẻ ra
thật. Nay bố nó đã vì nó bồ côi mẹ mà lấy con về
để làm dì ghẻ nó. Lúc bố nó hấp hối chết có gọi con
lại gần cạnh giường, cầm lấy cổ tay con trỏ vào thằng
ấy mà dặn lại con hai ba lần rằng: "Bà mày vì tôi mà
chăm nom cho nó, may ra mà nó nên người được thời tôi
và mẹ nó ở dưới suối vàng cũng được đội ơn". Con
đã nhận lời mà rằng: "Xin ông đừng có ngại, trăm sự
tôi xin chu tất, chẳng may trời phân rẽ hai vợ chồng ta,
nay người mất kẻ còn, cái đau lòng kể sao cho xiết!
Thôi mệnh trời đã thế, ông cứ an giấc ngủ trăm năm,
hai đứa đứa nào cũng con tôi cả, tôi hết lòng gây
dựng". Nay nếu con làm mẹ kế nó thời cũng là mẹ nó,
đã là mẹ mà không yêu thương lo liệu được cho con, sao
cho là có nhân? Coi con chồng là con chồng, con mình là con
mình, chỉ biết âu yếm con mình mà phí hoài con chồng sao
cho là có nghĩa? Khi bố nó chết đi có ân cần dặn lại
như thế, con đã nhận lời, phân lại nhường kia, nếu
bây giờ không chu toàn được cho nó thời là nói dối
người chết không có giữ được lời, sao cho là có tín?
Làm người cốt lấy cương thường làm trọng, nay bỏ cả
nhân, cả nghĩa, cả tín đi thời còn định làm mẹ người
mà sống ở trên đời sao được?
Quan nghe thấy lời bà cụ nói rất là cảm động, bèn gọi
lính đưa vào nhà trong cho yết kiến bà lớn, rồi ngài
tiễn chân 5 tấm lụa, và hai nén bạc, hứa rằng sẽ nghĩ
phương kế mà cứu cả cho 2 người con.
Cái tấm lòng liệt nữ của bà Nguyễn quả mẫu hôm
trước, hôm sau người Hà Nội đã truyền tụng vang lừng
đâu đâu cũng biết.
Cách hai hôm sau, buổi hầu chiều, trước công đường nha
kinh lược có một người tuổi trẻ mặt mũi khôi ngô,
chân tay mập mạp, khăn lượt áo the, hình dung nho nhã, sụp
lạy quan kinh lược xin chịu cái tội của hai người anh em
nhà họ Lê mà đi sau người ấy hôm nào cách năm kilômet
ở con đường lên phủ Mỹ Đức kia.
Quan kinh lược lấy làm lạ. Người ấy lạy xong, đứng
chắp tay ngang ngực mà bẩm rằng:
- Bẩm lạy cụ lớn, tên con là Lương Xuân Tín, năm nay 28
tuổi, học trò trường Đốc học, ngụ ở phố Hàng Thiếc
Hà Nội. Từ năm 13 tuổi có kết bạn được một người
anh em rất thông minh hào hiệp tên là Dương Đức Nghĩa
ở phố Hàng Bông. Cha anh ấy đỗ cử nhân có tiếng,
mất từ khi anh ấy mới lên bốn, bà cụ cử người rất
trinh tiết, trung hậu; kết tóc năm 19 tuổi với người
con gái 18 tuổi ở phố Hàng Đậu tên là Lý Thị Lợi,
nhà vợ cũng giàu có xưa nay. Cưới vợ về một năm, đẻ
được đứa con trai, năm sau đứa bé ấy mất mà bà thân
mẫu cũng từ trần; bỗng năm kia, bỗng dưng vô cớ mà
bạn con đã phải nằm trong nấm cỏ ở đồng làng Kim Lũ
gần đây! Chao ôi! Dòng nhà ấy bây giờ tuyệt tự. Nghĩ
đến bạn con lúc nào con cũng thâm gan tím ruột, giận thay
cho kẻ tham dâm nỡ hại khách anh hào! Thương thay nỗi oan
không làm sao bộc bạch được! Cái đám cưới tháng Chạp
năm ngoái mà linh đình ở chốn kinh đô, tuy Cụ lớn ngồi
cao nhưng nghe xa, nhắc tới chắc cụ lớn còn phảng phất
rằng đã có kẻ thưa lọt tai ngài cái ngày tên khách Minh
Hương ở Hàng Ngang đón vợ. Ôi! Vợ nó đấy là ai?
Chính là tên Lý Thị Lợi. Ngày ấy là ngày hai đứa giết
người nó đã về ở với nhau. Nguyên từ khi bà cụ cử
qui ẩn đi rồi, anh Dương Đức Nghĩa anh trên chẳng có,
em dưới thì không, trọi có hai vợ chồng, âu yếm nhau vô
hạn. Ngờ đâu chồng thực mà vợ hư, chồng ngay mà vợ
gian giảo. Thị Lợi từ khi mẹ chồng chết, việc nhà cờ
đã đến tay, mưu với chồng mở hàng tấm ở Hàng Đào
bán. Được ít lâu Thị Lợi giao thiệp với một tên
khách Hàng Ngang, đem ngay lòng tham của, rắp những sự
quên nghì, dở lời chênh lệch cùng tên khách, ra dạ bắc
nam với lại chồng. Tên khách kia cũng tham vẻ má hồng,
đặm tình ân ái, bởi thế mới đồng tâm hại bạn con!
Than ôi! Nó giết bằng gì? Bằng dao? Hay bằng gươm? Bẩm,
chẳng dao, chẳng gươm, chỉ bằng gói thuốc độc. Anh
Dương Đức Nghĩa của con kia, nghĩ mà thương hại, chiều
nghe bình văn trong trường quan đốc con về, ăn cơm xong
thời buồn ngủ ngay, sáng mai có tin rằng mất! Chúng nó
làm khéo cho đến nỗi, cái án ấy thành ra mất tích,
đến năm nay con mới dò xét được ra thời việc cũ ấy
đã nguội lạnh không còn có chút nghi gì trong tâm trí
người ta cả. Con không thể
nào mà đi cáo quan được nữa. Một là vì chứng cớ của
con ít, hai là vì tiền của chúng nó nhiều. Chúng nó có
thể mua chứng đút tiền, án lên đến cụ lớn, thời con
chắc con cũng là thằng vu cáo, mà thù bạn con cũng không
có người trả cho. Nhân con nghe ở nhà nó mách con rằng
vợ chồng nó sắp đi chùa Hương để làm chay sám hối,
đi thời đi lâu đến một cữ mới về. Con bèn quyết
chí đi theo để liệu cơ báo phục. Không biết Phật tổ
ngài thiêng ghét kẻ gian dối mà dun dủi hay sao, con gặp
được dịp rất tốt.
Chúng nó đã làm chay xong, chồng
thời sốt ruột về, vợ thời mải đồng bóng, nên
con thấy vợ nó hẹn chồng nó cứ về, đến ngày kia nó
sẽ về sau. Con mừng quá, thay hình đổi dạng, đi theo ngay
thằng Chiệc, đến bến đò nó xuống thuyền, con cũng
xuống thuyền. Trời vừa chiều nhân nó không biết con,
con bèn bàn với nó hai người thuê riêng một cái khoang
thuyền trả bội tiền lên để cho rộng đi ra giữa sông
thuyền đến quãng sông Tế Tiêu, con thấy nó đã ngủ say,
con mới giở dậy cầm con dao đập một cái vào sống mũi
nó rồi con đâm lấy đâm để, nó giãy giụa thời con cứ
kêu rằng: "Chú Khách mê hoảng chưa, ngủ mê mà hoảng lạ".
Người trong khoang thuyền ai cũng tưởng thật, còn mấy
đứa bơi chèo thời nó mải làm việc cũng chẳng nghĩ chi
đến. Nó giẫy một lúc thời nó chết. Khoang thuyền ấy
ở về đàng lái, cho nên máu chảy ra cũng không có ai
biết. Thuyền đi đến chỗ quá phủ Mỹ Đức gần đến
Vân Đình, đấy thuộc về làng Phùng Xá con mới bảo lái
đò dừng thuyền lại cho con lên con đi đồng, con liền
gọi con mụ ngồi gần lái lên hỏi, con kể sự tình thằng
Khách bất nhân là thế, con vì bạn báo thù là thế. Nó
giật mình lo sợ, con bèn cho nó trăm bạc và xui nó về
bảo nhau vứt cái xác ấy xuống sông, rồi đổ mau khách
ở đò lên bến đi, không thời lộ chuyện thời nó rầy
rà. Nó xuống thuyền thời con theo con đường men theo bờ
sông, đi một quãng được chỗ khuất lại đổi quần áo
mà về chùa Hương đợi đón giết con vợ nó là đứa
chính tay đã giết bạn con mà là chồng nó trước kia.
Bởi con vợ nó biết con rõ lắm, nên con phải giả làm kẻ
ăn mày bù đầu xõa tóc, bôi nhọ mặt, cắt da chân chảy
cả máu ra để cho được hệt... Tối hôm trước về ngủ
ở quán Đìa, sáng dậy ra chợ Đục Khê ăn cơm, đi con
đường quán
Ông Thang vào đò Suối, trưa thời đến Thiên Trù, nó còn
ở đó, chờ mãi đến nhá nhem tối, nó lên đồng xong
mới ra hàng ăn cơm rồi cùng với bạn lũ nó đi ra bến
Hội Xá. Con liền theo bọn nó, ở bến đò Suối bước
lên đã gần qua hết làng Yến Vĩ, con đương bối rối
không biết hạ thủ bằng cách nào. Nguyên con ấy nó rất
bạo dạn, thích ngộ (2) đến đó, nó bảo các bạn nó cứ
đi bến trước để nó rẽ đi đồng đã. Thật là giờ
báo phục của con đã đến, con bèn theo nấp ngay ở dưới
gốc búi tre, ước nửa giờ đồng hồ thời nó lên qua
đó, con nhìn trước nhìn sau thấy vắng nên con ra liền
nắm lấy tay nó, vốn nó hay trang điểm nhân hôm ấy lại
nắng ráo, nên y phục nó chỉnh tề, nó tưởng con là
người ở đấy ra cướp giật, con không để cho kêu,
một tay giữ nó, một tay rút dao ra mà bảo nó rằng:
"Muốn nghe lời tôi nói thời im, hễ kêu thời dao này vào
cổ ngay". Nó van lạy xin vâng.
- Chị có biết tôi là ai không?
Nó đáp rằng:
- Nghe tiếng thời giống bác Lương Xuân Tín bạn với nhà
tôi xưa, song hình thù thời khác, vì cớ gì mà ám ảnh
tôi? Đây, vòng hoa nhẫn hột của tôi, muốn lấy hết đi
tôi cũng xin vâng.
- Không, tao đây không phải là giết người lấy của. ừ,
tao chính là Lương Xuân Tín, phen này nguyện có trời cao
làm chứng, tôi xin báo thù cho anh Dương Đức Nghĩa đây.
Hỡi Dương Đức Nghĩa ơi, anh đến ngày nay mới thực là
an giấc ở dưới suối vàng không còn ân hận! Này, mày
giết chồng trước đi theo thằng Khách, nay thằng Khách
cũng đã chết trong tay tao rồi, thôi bụng cá là mả thằng
Ngô, đây thời là mồ con đĩ...
Nói đến đây con e dùng dằng lâu thời lỡ, bụng con đã
thấy rợn, con liền đâm mạnh một nhát vào cổ, nó kêu
đánh "ức" một cái thời ngã, con lại sợ chưa chết
liền rút dao đâm mấy nhát rồi cắm vào cạnh sườn,
vừa xong thời chợt nghe có tiếng người rủ rỉ với nhau
trên con đường quán Đìa, con liền gạt nó vào búi tre
rồi lẩn vào sau cái ruộng dâu gần đấy, nhìn ra thấy
có hai người, quần áo trắng đi xuống ruộng mạ. Con
lượn ra quán Đìa lấy những bị gậy áo tơi rồi qua
cầu Hạ Đoạn đi một mạch. Đến chợ Sêu, người thấy
mệt bèn ra bến tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo mới vào
hàng ăn quà, nghỉ một lúc lâu đến quá nửa đêm thời
đi.
Ôi! Tội con thật là tội, song lòng con rất thỏa
lòng, con nghe rằng nghĩa bè bạn là một đạo lớn trong
nhân luân, trong Kinh Lễ có nói: "Bằng hữu chi thù bất
dữ đồng quốc" (Thù bè bạn không cho nó ở cùng một
nước với mình). Thánh nhân đã dạy như thế, nghĩa làm
người thời phải có nhân luân, giống người mà hơn
giống vật chỉ có thế, nếu không có nhân luân thời thà
chết đi còn hơn. Khi bạn con sống ước hẹn những cưu
nhau trong lúc nguy hiểm, thương nhau trong lúc nghèo nàn...
Nếu mà nay quên thời là "thất tín"; bạn chết ở trong
tay kẻ hung ác nếu mà không báo thù cho thời là "bất
nghĩa"; sợ đeo tội giết người nếu mà không tiết
được cái oán hận cho bạn ở dưới cửu tuyền thời là
"vô hiệp" giết người nếu mà bỏ trốn thời là "vô
dũng"; mình làm nên tội nếu để cho kẻ khác phải mang
thời là "bất nhân", làm điều phi pháp để lụy đến gia
đình, tộc thuộc thời là "vô trí"; đã không có tín,
nghĩa, hiệp, dũng, nhân, trí sao cho được làm người
quân tử. Con mà chậm đến đây chỉ còn chút tình trong
gia tộc, nay thu xếp đã xong, xin đem mình chịu tội
trước cửa cụ lớn.
Tạp chí Nam phong, số 28 - Tháng 10-1919
1. Nguyên in: thảm đáp. Thảm đát: buồn rầu, đau xót.
2. Vừa lúc.
oOo
|
|