|
Contributed by: phuochung |
Views: 3.284
Đỗ Thành
Cây bồ kết trong vườn mới trồng được mấy năm mà
trông thật sum suê. Nó chiếm nguyên một góc, sừng sững
như gốc đa, tàng rậm rịt. Mùa nóng, gió hây hây thổi
những cơn mát dìu dịu, còn mùa đông gió lại ào ào tăng
lên sức mạnh gấp nhiều lần. Những năm trời làm giông
bão, ngọn trên cao lung lay, chao đảo như chỉ muốn bứt bay
lên không. Những ngày ấy, cả nhà đều sợ, chỉ e cây
làm tốc mái nhà hay nhỡ cây đổ trốc gốc đè phải
nhà, thì cơ ngơi coi như mất sạch.
Mẹ quí nhất cây bồ kết. Trước kia, nhà chưa trồng
được cây, mỗi lần gội đầu, mẹ sai trẻ đi mua bồ
kết, chỉ được một nắm bé xiù, chẳng biết ai gội, ai
đừng. Sau này cây mọc cao rồi, quả sai chi chít, nhà dùng
không hết, ai cần đến hỏi mua, mẹ đều biêù không.
Chẳng những mẹ không nhận tiền mà còn mời hàng xóm
vào nhà ngồi uống nước chờ, trong khi sai anh Thi lấy
sào ra hái. Mẹ bảo của trời cho lộc, mình dư, chia bớt
cho mọi người, cầm dăm ba đồng bạc, còn gì là tình
làng, nghĩa xóm.
Mẹ đặt cái chõng tre dưới gốc cây bồ kết. Đó là
giang sơn của mẹ quanh năm suốt tháng. Mẹ làm gì cũng ở
đó, từ bổ cau, hong tóc, đến làm cỗ, đãi đậu. Tết
nhất, soạn lá gói bánh, chọn thịt làm nhân, trộn nếp
đỗ, mẹ đều tất tật làm ở trên chiếc chõng tre. Mùa
hè, mẹ cũng chọn cái chõng làm nơi nghỉ trưa. Mẹ nằm lim
dim nghe con cái đọc Kiều, Phạm Công Cúc Hoa, Nhị Độ Mai,
hay Song Phượng Kỳ Duyên. Chuyện nào mẹ cũng thuộc, con
cái cứ vừa đọc chữ đầu thì mẹ đã lâm râm đọc nối
chữ sau. Nhất là Kiều, mẹ thuộc làu làu chừng chương
một. Chẳng những đọc cho mẹ nghe mà có khi con cái còn
bị mẹ hỏi đố. Mẹ bảo: chúng mày đọc Kiều, vậy chứ
trong toàn truyện có được bao nhiêu câu trăm năm, có
đứa nào nhớ không? Con cái ngẩn tò te cả lũ, mẹ mới
khề khà trách: thế cũng đòi đọc Kiều. Rồi mẹ nhẩn
nha lẩy
Trăm năm trong cõi người ta, mẹ đọc liền tù tì cả
mười câu trăm năm thuộc lòng. Con cái phục sát đất.
Có năm, bồ kết cho trái nhiều quá đỗi, hàng xóm dùng
cũng chẳng xuể, thế là mẹ cho hái đem tặng các nơi
phước thiện, hay đem bán rẻ, được đồng nào mẹ mua
quà tất cho các con. Đứa nào cũng chỉ mong có thế, để
lúc nào cũng được ân sủng từ mẹ ban cho. Năm nào bọn
trẻ cũng mong cây lớn thêm, trái nhiều thêm, dù đứa nào
tối đến thấy cây um tùm cũng sợ. Thảng hoặc mẹ có sai
ai ra vườn lúc trời chập choạng là y như đứa này đùn
đứa kia, hoặc giả rủ rê nhau cùng đi cho đỡ sợ.
Năm cách mạng về, bộ đội chọn cây bồ kết làm đồn
canh phòng. Một anh du kích được cho leo lên cây để theo
dõi bước giặc đi, thấy gì lạ là báo động. Mẹ sợ
chết khiếp, chỉ e nhỡ giặc phát giác, câu trái phá vào
thì cả nhà chịu trận. Mẹ không tiếc cây bồ kết bị
phá, mà chỉ e thân nhân trong gia đình ai có việc gì thì
mẹ chua xót lắm thay.
Rồi du kích rút đi, mẹ chưa kịp mừng thì giặc lại kéo
đến đóng đồn ngay trong xóm. Ngày đêm nhìn những cảnh
bọn lính đánh trần trùng trục, râu ria xồm xoàm, lại có
đứa đen thủi đen thui, mặt đầy vết cắt, răng cười
trắng nhởn, thấy mà kinh. Mẹ suốt đời cứ lo, lo trời
mưa trời nắng, lo gạo kém người thưa, giờ lại lo không
biết lúc nào còn, lúc nào mất. Bọn lính lại hay lảng
vảng trong vùng, đành rằng chưa nghe nói có sự va chạm
với ai, song lối sống xô bồ đó, mẹ thấy không thích
hợp.
Giặc đóng ở đó, tuy chưa xảy đánh nhau, nhưng dăm thì
mười họa, giặc lôi ở đâu về, đủ thành phần già
trẻ, bé lớn, trói giăng tay từng lớp, rồi đêm nghe
tiếng la đau đớn, mẹ cứ ứa nước mắt thầm. Chín năm
dài chịu đựng như thế, mẹ tưởng như cây bồ kết cũng
hòa cảm với người. Mẹ trông lên cây, vẻ u sầu thấm
đậm. Liền mấy năm cây ít cho trái, được quả nào thì
lại quắt queo, chứ không mỡ màng như trước. Mẹ lẩn
thẩn nghĩ cây cũng mang tâm trạng như mình, giặc đến
nhà thì đến đá cũng phải đổ mồ hôi, suối cũng đâm
nát mạch.
Ấy may rồi giặc cũng tan. Năm hòa bình, mẹ đã nghĩ từ
nay sẽ sạch sành sanh cuộc đời ngang trái. Nào ngờ đâu
trong vùng lại xảy ra những cảnh thâm thù. Người ngày nao
bán dăm ba củ khoai, quả mướp cho vợ con lính ta phục vụ
giặc, nay bị đưa ra xét xử vì thuộc loại tay sai. Nhà có
ruộng bị qui này qui nọ, rồi đem ra đấu tố. Cái chõng
tre sau vườn bị dẹp bỏ để trở thành nơi hài tội mỗi
đêm. Bà con trong xóm có người đã phải quì gục ở đó
để nghe mọi người phán xét.
Nạn nhân run sợ mười phần thì mẹ cũng lo đến bảy,
tám. Mẹ không nắm được đầu đuôi sự việc, chỉ sợ
mọi điều đi quá đà thì đâm mất tình người, nghĩa
xóm bấy lâu. Căn nhà của mẹ lúc nào ồn ào vì các phiên
xử, còn lại trở nên quạnh quẽ vô cùng. Bà con ai cũng
tránh xa như sợ bị ám ảnh vào những phút giây căng
thẳng mà họ đã từng phải chứng kiến.
Năm ấy trời làm cơn bão lớn. Mẹ đứng sau liêp cửa
trông ra thấy vườn thốc tháo bay tung. Cây bồ kết
chuyển ầm ầm, ngọn lay tít như có bàn tay khổng lồ nào
nắm trên chóp vặt lia lịa. Cây ngả nghiêng như người say
rượu, cành kêu lắc rắc như muốn xé khỏi thân. Lá thay
nhau đổ muôn chiều, lết lê dài khắp vườn. Mỗi lần
chớp đánh vung lên kèm theo là những tiếng sét nháng
lửa, lá bồ kết quằn quại như những thây người bị
nạn vẫy vùng.
Mưa liên tiếp hai ngày. Đến khi mưa ngưng, mặt trời cố
len mình đứng dậy mà không nổi. Cái nắng chợt lóe ra
lại tắt ngúm, nhờ nhờ như một vệt màu quét dở dang,
nham nhở. Cây bồ kết xác xơ mất dáng, trông lụ khụ như
người già. Gió thổi hơi nhiều mà cây chẳng thấy rung,
y như tuổi già thiếu hơi thở. Mẹ thương cây bồ kết
yêu dấu. Mẹ nhỏ những giọt nước mắt khóc cây quí của
mẹ ngày xưa. Mới đó mà mẹ tưởng đã lâu lắm rồi cây
với mẹ không còn gần cận. Cây mỏi mòn, mẹ mỏi mòn, ra
ngẩn vào ngợ
Tóc mẹ hồi nao láng mượt nhờ màu bồ kết, giờ trông
khô cong như rễ tre cằn. Mẹ cứ nhìn lên tàng bồ kết,
không ra buồn mà cũng chẳng ra vuị Giá có thể ví thì
ruột mẹ tầm tầm vò xé, y như những nhánh bồ kết tàn
tạ sau vườn. Mẹ cho đặt cái chõng bên cạnh liếp, cứ
ngồi đó nhìn ngọn cây. Những lượt lá đổ liên tục
từ các nhánh bồ kết khô rũ, mẹ không hiểu đó có phải
là dấu hiệu báo cây sắp tàn chăng.
Rồi những năm chinh chiến diễn tiếp nhau. Cái vùng bé
nhỏ của mẹ thấm đẫm cảnh người khóc người vì mất
mát. Làng có nhiều mảnh khăn tang trên đầu trẻ nhỏ và
trên cả người già, phụ nữ. Chiến tranh gây đổ vỡ
quá, người mất đã đành mà người còn cũng ngơ ngác
nhìn nhau. Bom đạn chẳng chừa một nơi nào cả, từ thôn
quê đến thành thị. Những lớp người gọi ra đi, đi mãi
không thấy về, có khi tin đưa đến toàn là tin báo tử,
dăm thì mười họa có người được về thì thân thể
chẳng lành lặn ra sao.
Cây bồ kết cũng chung số phận. Địa phương không muốn
giữ một tàng cây khô héo nên đã nhiều lần giục mẹ
đốn bỏ. Mẹ cứ chần chừ ngày một ngày hai, kéo dài
hẹn để mong giữ được cây thêm chút nữa. Mãi đến khi
địa phương áp lực mạnh, mẹ mới nhờ người đẵn cây
xuống. Ngày cây bồ kết bị hạ, mẹ nằm kịt trong nhà. Mẹ
chẳng nói với con cái một lời, thậm chí mời mẹ dùng
cơm, mẹ cũng kêu khó nuốt.
Phải mất mấy hôm cây mới chặt xong phần cành nhánh.
Còn khoảng sát gốc lớn quá, người ta đành để lại,
nằm chơ vơ đó như người cụt cả hai tay ngửa mặt nhìn
trời. Mẹ đau xót khi nhìn cái chứng tích của thời gian
dần dần phủ lên cây bồ kết cũ. Rồi một lần mẹ
không chịu được nữa, mẹ ngã bệnh luôn. Bệnh không ra
sao mà người mẹ sút giảm dần. Tóc mẹ bạc ra, da nhăn
rúm, rồi mẹ mất. Cây bồ kết tiễn chân mẹ ra đồng
trong cái dáng khẳng khiu thêm.
Từ đó cứ mỗi lần nhìn cây bồ kết, con cái mẹ bỗng
thấy rất buồn. Nhớ đến mẹ, đứa nào cũng ứa nước
mắt nghĩ ngày cây bồ kết còn sum suê. Nhưng mẹ thì
không bao giờ còn nữa...
oOo
|
|