|
Contributed by: phuochung |
Views: 2.840
Tuệ Chương
"Trong suốt cuộc chiến tranh Việt-Pháp 1945-54, cơ sở
trường Khải Định Huế bị lính Nhảy Dù Tây chiếm làm
doanh trại. Thời kỳ đó, sau khi khai giảng trở lại năm
1949, dãy nhà bên phải của trường Đồng Khánh được cho
trường Khải Định mượn tạm để làm trường sở. Cuối
niên khóa 1954-55, Tây trả cơ sở lại cho trường Khải
Định. Lúc đó, ông Nguyễn Văn H. mới lên làm hiệu
trưởng. Sợ bị "mất trường", ông hiệu trưởng ra lệnh
cho học sinh, nam cũng như nữ, cứ mấy trò thì chung một
cái bàn hay một cái ghế học trò, khiêng từ cơ sở bên
trường Đồng Khánh "trở về tổ ấm" bên trường Khải
Định. "Cuộc hành quân giành trường chiếm sân" ấy
thiệt là vui! Tau là một trong những thằng tích cực
nhất trong cái công việc nữa làm nửa chơi như thế." Lê
Phúc Lư kể lại cho mấy đứa bạn đang ngồi chỏng tai nghe
một cách thích thú.
- "Rứa tại răng ông H. đuổi mày khỏi trường?" Tôi hỏi.
- "Tại tao! Tại tao chớ không phải tại ông ấy." Lê Phúc
Lư tự nhận lỗi ở mình.
Năm học Đệ Tam, bỗng Lê Phúc Lư như bị bệnh tâm thần,
bị điện chạm, bị "mát" giây, bị "mad", nếu nói theo
tiếng Tây, hoặc điện "xăng đít" lên "đơ xăng vanh"
một cách bất tử, như theo cách diễu của Thanh Hoài. Anh
ta hay bỏ học, đi lang thang. Giờ học chính thức ở
trường thì không học nhưng lại ghi tên học một "cour
part." (*) của Tr. M tại nhà cô ở Hàng Mẹ Lúc ấy Tr. M.
cũng đang học lớp đệ nhất, chờ đám cưới xong là qua
Pháp theo chồng. Lê Phúc Lư đến nhà cô, thay vì vào
phòng ngồi học với cô thì anh ta lang thang ngoài vườn,
tìm ổi hay mãng cầu ăn chơi. Ngôi vườn rộng, có nhiều
cây trái, trồng từ trước 1945, khi ông gia đình Đào Duy
Anh còn ở ngôi nhà nầy. Cô giáo gọi Lư vào hỏi:
- "Tới giờ học thì em phải học. Tại sao lang thang ngoài
vườn kêu mãi không chịu vô lớp."
Thay vì trả lời cô giáo câu hỏi đó, Lư nhìn cô và
cười ngỏn ngoẻn nói:
- "Cô đẹp quá!"
Cô giáo cũng phì cười. Việc cô ta không những đẹp mà
cả mấy chị em cô đều đẹp, cả thành phố Huế nầy ai
chẳng biết.
Còn Lư, năm ấy bị đuổi vì "vắng mặt thường xuyên"
ở lớp!
Niên khóa sau đó, sau khi khai giảng được mấy tuần thì
Lư đi cùng vài người nữa, vào lớp tôi, tay ôm một
cuốn sổ dày. Anh ta đứng trên bục giảng, trước bảng
đen, hô hào bạn học ký tên vào bản kiến nghị, xin hủy bỏ
tên "Trường Khải Định" và đổi thành "Trường Quốc Học
Ngô Đình Diệm" (*).Anh ta nêu lý do Khải Định là ông vua
chẳng tài cán chi, cũng chẳng có lòng yêu nước, thương
dân, chỉ lo ham chơi, ấm thân phì da v.v. còn "chí sĩ" Ngô
Đình Diệm là người yêu nước, bao năm bôn ba nơi xứ
người để mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân,
cho nước v.v..
Anh ta nói nghe hùng hồn và hấp dẫn lắm. Lại hấp dẫn
thêm nữa vì lúc đó tình hình chính trị miền Nam dầu
sôi lửa bỏng. Tướng Hinh là tay sai của Pháp, cùng với
Bình Xuyên, Ba Cụt chống lại "chí sĩ" Ngô Đình Diệm để
ủng hộ Tây tiếp tục cai trị miền Nam VN. Do những sự
kiện như thế, nên khi Lư nói xong, cả lớp Đệ Tam B/3
của tôi vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.
Tràng pháo tay vừa dứt, bỗng Lê Hữu Nam, một tay nghịch
nổi tiếng và hay đùa, ngồi bàn gần cuối lớp, sát
cạnh tôi, đứng dậy, la to lên: "Hoan hô nhà cách mạng Lê
Phúc Lư". Cả lớp cười ầm. Ai chẳng biết Lê Phúc Lư
là thằng bạn chạm dây điện, bị đuổi học vì không chịu
đi học, nay Nam hoan hô nó là nhà cách mạng, ai không cười
được? Chính Lư cũng toác cái miệng rộng của anh ta ra
mà cười, huống gì ai?
Rồi Lư và những người trong toán chìa cuốn sổ ra, đi
từng bàn để học sinh ghi tên và ký vào đó. Hết lớp
nầy, Lê Phúc Lư cùng các bạn trong nhóm qua lớp khác.
Khi anh ta chào chia tay, bấy giờ không riêng gì Nam mà cả
lớp đều hoa tay và lớn tiếng "Chào nhà cách mạng Lê
Phúc Lư", có đứa còn nghịch gọi là "nhà cách mạng Lê
Phúc Lừa." (Tiếng Hán Việt Lư là Lừa) hoặc trắng
trợn hơn: Lê Phúc "Khùng" v.v..
Suốt mấy năm sau, tôi vẫn cứ thắc mắc, không hiểu
tại sao "anh chàng khùng, bị đuổi học" biến thành "nhà
cách mạng" như thế?
Năm đệ nhất, tôi và Lư học chung một lớp và lại là
bạn thân "văn nghệ, văn gừng", ngày nào cũng gặp nhau.
Lúc đó thì tôi đã có truyện ngắn, truyện dài đăng
trên báo "Mùa Lúa Mới", còn Lư thì thỉnh thoảng cầm tờ
báo "Phụ Nữ Diễn Đàn" của bà Bút Trà, khoe với tôi bài
thơ của anh ta đăng trên báo ấy. Thơ thì lâu lâu mới
đăng, nhưng tuần nào anh cũng phải mua báo để coi thơ
mình có đăng trong kỳ nầy hay không. Thành ra, Lư trở
thành "một độc giả nghèo mà trung thành với quí báo".
Cho tới giờ, những truyện tôi viết tôi cũng đã quên
mất cả đầu đề, làm sao tôi có thể nhớ được thơ
anh ta nói cái gì?
Một hôm tôi hỏi Lư:
- "Tại sao mi trở thành nhà cách mạng?"
Lư chưng hửng:
- "Tau làm cách mạng khi mổ"
Tôi nhắc chuyện Lê Hữu Nam la to ngày xưa, khi Lư đem
cuốn sổ đến lớp tôi, anh ta à một tiếng, cười vui
vẻ thuật lại:
"Khi tụi mày đi học rồi, tên tao không có ở lớp mô
hết. Tao lo lắm, xin học lại đệ tam, ông H. cũng không
cho. Buồn tình, ngày nào tau cũng tới ngồi trước cửa
văn phòng, xin ông hiệu trưởng xét lại. Tau bỏ học thì
tau không được lên lớp đệ nhị, chớ tại răng không cho
tau học lại đệ tam?
"Một hôm, khi tau đang ngồi chờ thì ông H. tới. Ông
biểu: "Vô đây! vô đây!" Thấy ông vui, tao khấp khởi hy
vọng. Ông ta nói:
- "Đây là lời kêu gọi xin đổi tên trường. Người khác
đã viết sẵn. Anh học thuộc, cứ vô từng lớp kêu gọi
học sinh ký tên vào đây (ông đưa ra cuốn sổ dày). Công
việc xong xuôi tốt đẹp, tôi cho anh vào học lại."
"Tau hỏi:
- "Thưa thầy, chỉ có mình con?"
- "Còn mấy người ngoài sân, anh kêu họ đi theo. Xong
việc, anh đề nghị ai, tôi cho họ vào học."
- "Mày nhớ năm đó, mấy đứa đậu trung học, xin vào ban
B thì được xếp thành 5 lớp. từ B/1 tới B/5. Khoảng hai
tuần sau, mấy đứa học trường công, hỏng trung học,
nhưng điểm lục cá nguyệt trung bình từ 5/10 trở lên thì
được vào học lớp B/6. Mấy thằng đứng ngoài sân
điểm xấp xỉ 5/10 đang chờ xin ông hiệu trưởng cứu
xét. Ra sân, tau kêu tụi nó lại hết, thuật lại lời ông
H. rồi kêu hết cả bọn đi với tau. Tụi nó tôn tau lên
làm lãnh tụ, như Đinh Bộ Lĩnh khi còn chăn trâu. Chuyện
tau làm cách mạng là vậy."
*
Năm năm sau, sau khi xuất thân Đại Học Sư Phạm, ban Vạn
Vật, đi dạy ít lâu, Lư cưới vợ. Vợ anh ta là con một
giáo sư ở trường NTP và là học trò của người bạn tôi.
Đám cưới khá vui, nhưng đến khi ra về thì ai cũng đói
bụng tại vì nhà gái đãi khách (cha mẹ Lư ở dưới làng
quê, không thấy lên) theo cách mới, hơi lạ. Khách khứa
ngồi vòng quanh phòng khách, không có bàn. Các cô em gái
của cô dâu khi thì bưng một cái dĩa bánh mặn, khi bánh
ngọt, đi vòng vòng mời khách mỗi người nhón một cái.
Vì vậy mà không ai no. Chín giờ tối, khách đi ăn cưới
nhiều người lại gặp nhau tại quán bún bò Mai Lợi ở
Ngã Giữa. Trong số đó có vợ chồng tôi. Kiến bò bụng
quá, không về ngủ được. Thấy bạn bè đi ăn cưới về
gặp nhau ở đây cười nói còn vui hơn trong đám cưới,
vợ tôi là người rất tin dị đoan, nói:
- "Đám cưới mà cho ăn không no là không nên đâu."
Tôi cười, nói:
- "Xui thì nói là xui. Còn tránh né, nói là " không nên. ."
Vợ tôi không cãi lại, nói:
- "Em chỉ sợ rứa thôi!"
Được hơn nửa năm, sau vụ "Bàn thờ ra đường" (*), một
hôm Lư lững thững dến nhà tôi. Trông anh ta thì vẫn
vậy. Ốm và cao lêu nghêu như "cây tre miễu", hai tay dài,
luôn luôn đòng đưa, tưởng như thừa, không biết dấu
vào đâu, cổ dài và hơi vươn tới, ngực đồng hồ
Oméga. Thầy bói Khánh Sơn nói với tôi những người có
cái tướng cổ cao và ngực lép như thế là yểu. Tôi
cũng hơi lo cho bạn! Và tôi thắc mắc: Về mặt y học, có
phải như thế là thân thể phát triển không bình thường.
Không biết mấy ông bác sĩ nghĩ sao?! Sau khi cưới vợ,
mặt mày anh ta hốc hác và bơ phờ hơn. Cái miệng đã
rộng nay hình như rộng hơn vì hai cái má hóp lại. Vừa
ngồi vào ghế, Lư nói ngay:
- "Vợ chồng mi tới khuyên vợ tau đi theo tau đi!"
ủa!? Cái chi mà lạ rỉ Té ra hai vợ chồng không ở với
nhau mà tôi không hay. Chắc là có chuyện gì. Tôi hỏi:
- "Đầu đuôi ra răng?"
Lư kể:
- "Tau bị đổi vào Vĩnh Long. Ở trong đó, tau lo nhà cửa
xong xuôi rồi, về đem vợ vô. Cô ấy không chịu vô."
- "Mi nói rứa, cô ta không chịu vô là phải rồi. Ai lại
nói đem vợ vô. Phải nói là rước. Tau đi chơi với vợ,
cũng phải đưa với rước. Mấy "mệ" Huế, rắc rối
lắm! Biết không?" Tôi cười nói đùa.
Lư chỉ cười gượng. Có lẽ anh ta không hào hứng lắm
với câu nói đùa vô duyên của tôi. Cũng có thể anh ta
đang lo lắng hoặc nôn nóng vì chuyện vợ con. Nhìn anh
bạn, tôi thông cảm và hỏi lại nghiêm chỉnh hơn: "Tại sao
mày xin đổi vô Vĩnh Long?"
- "Tau đâu có xin. Mi không biết tau bị Thiệu Kỳ trù dập
à?" Lư nói, giọng có vẻ tức tối.
Tôi hỏi, vừa đùa:
- "Rứa mi có làm " cách mạng xin đổi tên trường. không?
Có tham gia " Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc. không?"
Tôi hỏi như vậy vì sau vụ "Quân Thiệu-Kỳ" ra dẹp bàn
thờ ở miền Trung năm 1966, nhiều quân nhân công chức
tham gia tranh đấu (*) bị bắt, ai nặng tội thì bị đưa ra
tòa, cho giải nhiệm, giải ngũ, hoặc đổi vào Nam, có
người bị đổi vào tận Phú Quốc, Rạch Giá.
- "Không, tau không có trong "Hội Đồng Nhân Dân Cứu
Quốc" nhưng tau ở trong ban tham mưu của Thượng Tọa Đôn
Hậu." Lư trả lời.
- "Rứa là mi làm "quân sư quạt mo"? Tôi cười hỏi.
- "Xếp sòng trong ban tham mưu, tau không xuất đầu lộ
diện công khai, không có chức phận chi hết, nhưng quyền
hành lớn, khắp cả miền Trung." Lư giải thích.
Vốn dĩ, ngay từ đầu, không ưa "Hội Đồng Nhân Dân
Cứu Quốc" nên tôi nói ngay:
- "Mi biết, " Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc. là hình
thức một kiểu " Ba-Lê Công Xã. người Huế họ tinh tế
lắm. Hồi chống chế độ Ngô Đình Diệm, người Huế
hết sức tích cực, hy sinh nhiều lắm, có người còn
liều cả tài sản và tính mạng cho phong trào đấu tranh.
Ngay cả những người có đạo ở Phú Cam, không ưa chế
độ Diệm, cũng tham gia đấu tranh. Đấu tranh để sống
còn nên người Huế theo. Sau nầy đấu tranh để giành
chính quyền, người Huế rất hờ hững với việc đấu
tranh nầy, ngoại trừ những người có tham vọng hoặc nhẹ
dạ. Mi mà cũng có tham vọng rứa?"
- "Tau cũng không biết nói làm răng?! Tau biết chớ. Tau
đâu phải như tụi thằng Bàng, thằng Sang, thằng Tường,
thằng Xuân. Nhưng mình đã lỡ chui vào cái guồng máy nó
đang chạy, có chạy lui cũng không được."
- "Hồi đi học với mi, tau không nghĩ mi có tham vọng chi.
Nếu mi tham gia phong trào chống Ngô Đình Diệm, tau còn
hiểu được. Cả miền Nam, không nơi nào hoan hô ông Diệm
bằng Huế; cũng không nơi nào chống ông Diệm bằng Huế.
Ai cũng chống, cũng tham gia hết, ít hoặc nhiều. Còn như
cái "Hội Đồng Nhăn Răng Cứu Cuốc" nầy... " Tôi bỏ dở
câu nói.
- "Với mi, tau nói thiệt. Đầu tiên tau tham gia Việt
Quốc. Ông thân tau và chú ruột tau ngày trước là đảng
viên VN Quốc Dân Đảng. Chú tau bị Việt Minh giết, ông
thân tau chạy thoát. Từ chỗ đi theo con đường của gia
đình, tau được cử vào làm việc ở chỗ ông Đôn Hậu.
Có hai lý do để Việt Quốc đi với Phật Giáo. Một là
quần chúng Phật Giáo rất đông, cần tìm chỗ dựa ở
quần chúng đó; hai là vì Đại Việt đi với Thiên Chúa
Giáo thì anh em tau phải đi bên nầy."
- "Mi có biết tôn giáo hóa chính trị là một việc hết
sức nguy hiểm, sẽ gây hậu quả chia rẽ dân tộc nghiêm
trọng về sau không? Cái ni chỉ có lợi cho cộng sản." Tôi
góp ý kiến.
- "Thôi bỏ qua chuyện ruồi bu đó đị" Lư muốn cắt đứt
việc tranh luận. "Tau muốn nói chuyện gia đình tau để
vợ chồng mi qua khuyên vợ tau. Có lẽ cô ấy nghe lời mi
vì cô ta là học trò anh Văn, bạn thân của mị Hai là vợ
tau không hiểu sao lại thích vợ mi lắm, cứ nhắc hoài."
- "Nhưng tau phải biết là tại sao vợ mi không chịu đi theo
chồng?" Tôi hỏi.
- "Chuyện rất dễ hiểu. Tụi " tranh đấu. thì hô hào "
GIs go home. . Từ khi tụi nó đốt Phòng Thông Tin Hoa Kỳ và
đòi đuổi Mỹ về nước thì gia đình vợ tao chống giữ
dội, thiếu đường tau không dám đến nhà vợ vì họ
biết tau theo " tranh đấu. . Mi biết, gia đình vợ tau
đông anh chị em, suốt mấy năm sống thiếu thốn vì tất
cả chỉ trông nhờ vào đồng lương ông bố vợ. Con cái
càng ngày càng lớn, cần chi tiêu nhiều, vật giá leo thang
mà lương tiền không leo theo. Do đó bà mẹ cô ta phải đi
làm sở Mỹ, lương cao, con cái được no ấm đầy đủ
hơn. Bỗng nay tao theo tụi " GI go homẹ thì có khác chi tao
đem nồi cơm nhà vợ mà đập bể không? Vợ tau không
lấy tau thì lấy người khác. Cô ấy đẹp, lo gì, chớ ai
đi theo thằng rễ đập bể nồi cơm nhà vợ được?!" Lư
nói giọng buồn và có vẻ hối hận.
- "Rứa không ở đây, xin đổi vô Vĩnh Long làm chỉ"
- "Đâu có. Khi "Quân Thiệu Kỳ" ra dẹp bàn thờ, núm đầu
hết. Tau không bị bắt vì tau có giữ chức vụ chi mổ
Cũng không thể lấy lý do tau ở trong ban tham mưu của ông
Đôn Hậu mà bắt tau được. Nhưng sau đó tau có lệnh
thuyên chuyển vô Vĩnh Long. Vớt con cá ra khỏi nước là
xong. Tau cũng muốn yên thân nên đi trước, lo hết mọi
chuyện xong xuôi, về "rước bà" thì bà chẳng chịu ddi."
- "Thôi được. Tụi mình đi uống cà-phệ Chiều chiều,
tau với vợ tau qua bên đó nói chuyện."
*
Khi tôi kể lại chuyện vợ chồng Lư với vợ tôi thì vợ
tôi nhớ lại chuyện cũ, nói với vẻ nghiêm trọng:
- "Anh thấy chưa? Em nói không có sai. Đám cưới mà cho ăn
không no là xui lắm."
Mà xui thật. Gần ba giờ đồng hồ, vợ chồng tôi hết
sức thuyết phục Phượng, tên vợ của Lư, đi theo chồng
nhưng cô ta nhất quyết từ chối. Khuyên nhủ cách chi cũng
không được. Hễ nói tới tên chồng là vợ Lư xổ ra
một tràng tội lớn, tội nhỏ của Lư mà vì không biết
đầu đuôi ra làm sao nên chúng tôi không biện minh, bênh
vực được. Nói tới chuyện tham gia phong trào thì
Phượng cứ nhất quyết cho là Lư ích kỷ, vì ham danh vọng
mà chà đạp lên hạnh phúc gia đình vợ. Tôi chỉ có thể
nói được với Phượng một câu là tôi không bênh gì Lư
trong việc nầy. Tôi biết anh ta có lỗi với vợ, với gia
đình vợ, một lần lầm là một lần lỡ, hãy cho anh ta
cơ hội chuộc lại lỗi lầm.
Trên đường về, tôi nói với vợ tôi:
- "Không hy vọng chi vợ chồng nó sum họp. Cô ta thương gia
đình ghê lắm, thương mẹ ghê lắm. Định kiến nặng nề
như thế giết chết lòng thương chồng."
Vậy mà một năm sau, trước Tết Mậu Thân, hai vợ chồng
Lư từ Vĩnh Long về ăn Tết, ghé lại thăm chúng tôi, còn
bồng theo một đứa con nhỏ rất khaù khỉnh.
Tôi lại chưng hửng:
- "Trời ơi! Theo nhau hồi mô mà vợ chồng tui không biết
chi hết."
Thì ra, sau khi thất vọng việc về Huế "rước" vợ vô
Vĩnh Long không được, Lư buồn tình ra đi một mình,
tưởng thế là chuyện vợ chồng chấm dứt. Ai ngờ chỉ
nửa tháng sau, khi đang dạy ở trường thì anh ta được
thông báo lên văn phòng Hiệu Trưởng đón vợ vào thăm.
Không chỉ vào thăm, cô ta ở lại với chồng rồi sinh một
chú bé khaù khỉnh. Họ đến thăm vợ chồng tôi để cám
ơn việc chúng tôi ra công hàn gắn ngày trước. Tôi nhớ
tập truyện ngắn Nằm Vạ của Bùi Hiển, nói đùa với
Lư: "Ấy vợ mi có tên trong " gí. đó" (*).Lư biết cái
truyện ngắn đó, toét miệng ra cười.
Sau "Mùa Hè Đỏ Lửa" 1972, Lư xin đổi về Huế vì lý do
gia đình. Bộ Giáo Dục không thuận nhưng anh ta cứ đến
trường Nguyễn Tri Phương ở Huế, trường cũ anh đã dạy
ở đó trước khi bị đổi vào Vĩnh Long, xin với ông
hiệu trưởng, một bạn cũ của anh, để nhờ can thiệp.
Cuối cùng, sau mấy tháng chờ đợi, anh ta được Bộ
Giáo Dục chấp thuận.
Sau 1975, "chính quyền Cách Mạng" cho anh nghỉ dạy vì có
nhiều "quan hệ" với "chế độ cũ". Tôi không thể định
nghĩa chữ "quan hệ" nầy như thế nào, là "theo" hay
"chống" chế độ cũ. Trong tù, tôi nghe tin anh ta qua đời
sau một cơn đau tim. Anh ta đau tim mà qua đời vì "cơ thể
phát triển không bình thường" như tôi thắc mắc hồi
xưa khi thầy tướng số Khánh Sơn luận về tướng mạo
của anh hay vì chính sách của chế độ mới làm anh lên
cơn đau tim mà chết?
Sau khi ra tù, vợ chồng tôi về Huế, tìm lại nhà cũ của
anh cũng như gia đình vợ anh để thăm Phượng và con cái
của họ nhưng toàn bộ gia đình vợ anh đã chạy vào Nam,
không ai biết tin tức gì của họ cả.
Chú thích :
(*) Tên đầu tiên của trường là Quốc Học. Tôi không rõ
vào lúc nào nó có tên là Trường Khải Định. Khi ông Ngô
Đình Diệm về làm thủ tướng (7-7-1954) và sau đó là
tổng thống (26-10-1955), Ông Nguyễn Văn Hai, chống lại ý
kiến của các đồng chí cũ của ông Ngô Đình Diệm như
ông Võ Như Nguyện, Ngô Ganh, Huỳnh Hữu Hiến v.v. muốn
đặt tên trường là Trường Quốc Học Ngô Đình Khả,
người đầu tiên có ý kiến sử dụng trại lính thủy cũ
của Nam Triều để thành lập Trường Quốc Học. Mục đích
chính của ông Ngô Đình Khả là buộc sĩ tử tốt nghiệp
trường Hậu Bổ, những người chỉ biết chữ Nho và chữ
Nôm, phải học thêm chữ Quốc ngữ và chữ Pháp để tiện
làm việc dưới quyền bảo bộ của Pháp. Các ông nói trên
cho rằng lấy tên Ngô Đình Khả là để tưởng niệm
người đã có công sáng lập ngôi trường ấy. Tuy nhiên,
ông Nguyễn Văn Hai, hiệu trưởng vào thời kỳ đó, lại
muốn trường chỉ lấy lại tên "Quốc Học" mà thôi. Vì
vậy thay vì trường có tên là "Quốc Học Ngô Đình Khả"
thì lại có tên là "Quốc Học Ngô Đình Diệm". Sau đó,
nhân dịp kỷ niệm 60 năm Trường Quốc Học, ngày 26 tháng
12/1956, Tổng Thống Ngô Đình Diệm về tham dự lễ kỷ
niệm nầy. Khi thấy có một tấm băng vải giăng ngang
cổng trường đề là "Trường Quốc Học Ngô Đình Diệm",
Tổng Thống Ngô Đình Diệm quay lại hỏi ông Hiệu Trưởng
Nguyễn Văn Hai: "Tui còn sống đây, răng lấy tên tui mà
đặt cho trường?" Theo phong tục của người Pháp, họ kiêng
cử tránh lấy tên người còn sống mà đặt cho một cơ
sở nào đó để làm kỷ niệm. Vì vậy, sau lễ kỷ niệm
60 năm "Trường Quốc Học Ngô Đình Diệm", trường chỉ
còn lại tên "Trường Quốc Học" mà thôi.
(*) Năm 1966, Phật Giáo đồ miền Trung nổi lên chống
"Thiệu-Kỳ". Nguyễn Cao Kỳ lúc đó là chủ tịch ủy Ban Hành
Pháp Trung Ương đem quân ra đánh dẹp. Không lực Hoa Kỳ
giúp chở nguyên một trung đoàn thiết giáp mới thành
lập xong (Thiết Đoàn 7/Kỵ Binh) từ Sài Gòn ra Đà Nẵng.
Ngoài Thiết Giáp còn có Thủy Quân Lục Chiến giữ an ninh
vòng ngoài và Cảnh Sát Dã Chiến của Thiếu Tá Phạm Huy
Sảnh giữ nhiệm vụ dẹp bàn thờ trên các đường phố vì
Phật Giáo Đồ, nghe lệnh Thượng Tọa Trí Quang lập bàn
thờ Phật ngay giữa đường phố để cản đường tiến
của "Quân Thiệu Kỳ". Ngày 15 tháng 5/ 1966 đánh dẹp bàn
thờ ở Đà Nẵng, ngày 15 tháng 6/1966 đánh dẹp ở Huế.
Những người tham gia tranh đấu kẻ bị đưa ra tòa, kẻ bị
bãi chức, giải nhiệm, giải ngũ, rất nhiều người bị
thuyên chuyển vào miền Nam.
(*) Truyện ngắn "Ma Đậu" trong quyển tiểu thuyết "Nằm
Vạ" của Bùi Hiển thuật lại một câu chuyện khá buồn
cười. Chị kia lấy chồng nhưng nhất định không chịu
nằm chung với chồng. Anh chồng nằm trong buồng còn chị
treo võng nằm ở nhà ngoài. Anh ta than thở với bạn. Nhân
lúc ấy trong làng có nhiều người chết vì bị bệnh
đậu mùa. Người ta đồn rằng mỗi đêm "ma đậu" đi
từng nhà bắt người. Hai người bạn anh chồng nảy ra
một mẹo. Đêm ấy, hai người giả làm "ma đậu" đến
trước nhà vợ chồng người bạn, gây nên những tiếng
động nho nhỏ và thì thầm với nhau "vào nhà bắt con vợ
thằng nầy" vì "con ấy có tên trong gí" (giấy). Chị vợ
tưởng là "ma đậu" đến bắt mình thật, hoảng quá, chạy
trốn vào buồng, nằm chung với chồng. Chưa đầy một
năm sau chị vợ sinh một đứa con.
|
|