Viet Nam Network

Welcome to VN.NET
04/02/12

Về mùa lá đổ
  |      Contributed by: Admin  |  Views: 3.326
Nhật Thịnh

11.11.06 - Chỉ có những vùng trời quanh năm có trọn bốn mùa, ứng nghiệm với bốn giai đoạn của đời người, nói theo đạo Phật là Sinh, Lão, Bệnh, Tử, con người mới tận hưởng được hết những khác biệt của thời tiết, và cảm nhận thấy sự chuyển biến của cảnh vật. Mùa Thu đứng hàng đầu trong bốn mùa, được nhiều người yêu thương, như thương yêu một người tình, mướt mát làn da tươi hồng, và giọng nói êm dịu nhung gấm, bởi trời dịu mát và nhiều ngày dường như có sương mù bao phủ, lòng người bỗng thấy thấm đượm một nỗi buồn bâng khuâng, man mác, phải chăng bởi thế mà mùa Thu đã gợi cảm cho nhiều nhạc sĩ và thi nhân có những sáng tác tuyệt vời.

Đông Tây kim cổ coi mùa Thu là mùa gợi cảm, cảnh vật như vấn vương một cái gì khiến con người thấy như chôn sâu trong tiềm thức những ấn tượng mơ hồ, khó diễn tả. Jacques Prévert trong bài Les Feuilles Mortes (Lá Úùa) mang một tư tưởng, ngôn từ thật tuyệt vời:

Et la vie sépare ceux qui s' aiment

Tout doucement, sans fait de bruit

Et la mer efface sur le sable

Les pas des amants désunis

(Phỏng dịch: Cuộc sống nhẹ nhàng, lặng lẽ chia cách những ai thương yêu nhau. Và biển kia đã xóa sạch dấu chân những tình nhân in trên cát)

Nhạc sĩ Văn Cao nổi tiếng một thời với những nhạc phẩm như Thiên Thai, Suối Mơ, Trương Chi, Cung Đàn Xưa...trong bản Buồn Tàn Thu mang nhiều hình ảnh buồn man mác như sương Thu buông nhẹ:

Ai lướt đi ngoài sương gió

Không dừng chân đến em bẽ bàng

Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng

Từ từ xa đường vắng

Đêm mùa Thu chết

Nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng

Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng...

Bản thân ông tự tìm thấy những giai điệu đẹp đẽ, mãi mãi làm sững sờ mọi con tim, trí tuệ, nhiều màu sắc và niềm cảm xúc dạt dào, mênh mang.

Đúng như ý nghĩ của Trịnh Công Sơn: "Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng". Đúng vậy, nhạc của ông chứa chất nhiều ẩn dụ. Ai đi xa ngoài sương gióù cho dù trong hoàn cảnh nào đi nữa lại không khỏi mang trong tâm hồn mình một hình ảnh, một kỷ niệïm để đời.

Nên nếu Nguyễn Khuyến (1835-1909) nhìn Thu lãng đãng trở về, tâm hồn an nhiên tự tại của một ẩn sĩ, một tổng đốc đỗ tới tam nguyên năm 1871, cáo lão về hưu mở trường dạy học, trút bỏ mọi bon chen của đời ngươi, sống hòa mình cùng thiên nhiên, trông con thuyền câu trên nước ao thu cảm thấy thoải mái:

Ao Thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Ngược lại Tản Đà bút hiệu của Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939) đã tìm thấy nhân thế trong mùa lá rụng, kiếp nhân sinh tàn tạ, phỏng có khác chi chiếc lá úa kia:

Trận gió Thu phong rụng lá vàng

Lá rơi hàng xóm, lá bay sang

Vàng bay mấy lá năm già nữa

Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng

Thu về gieo trong lòng người tiếng than dài, nỗi nghẹn ngào, niềm khắc khoải, bâng khuâng. Lưu Trọng Lư trông Thu về cuốn theo bao hình ảnh. Con nai vàng ngơ ngác, đạp trên chiếc lá kêu xào xạc, người lữ thứ mênh mang niềm luyến tiếc:

Em không nghe mùa thu

Dưới trăng mờ thổn thức?

Em không nghe rạo rực

Hình ảnh kẻ chinh phu

Trong Lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng thu,

Lá thu kêu xào xạc,

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khổ

Ông (1912-1991) sinh tại làng Hạ Trạch, tỉnh Quảng Bình là người đã hưởng ứng ngay phát súng đầu tiên của Phan Khôi, mở màn kỷ nguyên mới cho nền thi ca dân tộc, đóng góp một cách cụ thể trên báo Phụ Nữ Tân Văn hai bài thơ mới. Một bài mang tên Trên Đường Đời ký tên Lưu Trọng Lư và một bài ký bút hiệu Thanh Tâm dưới tựa đề Vắng Khách Thơ, sau đổi thành Xuân Về khi in trong tập Thi Nhân VN của Hoài Thanh và Hoài Chân. Ông viết nhiều bài báo bênh vực, cổ vũ cho thơ mới, đăng đàn diễn thuyết tại nhà Học Hội Quy Nhơn ngày 16.2.1934. Đã thế ông còn gửi hai lá thư về làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây là nơi sinh quán của Tản Đà, đề nghị nhà thơ này thảo luận về thơ mới. Thơ ông chất ngất những gì mờ ảo, nửa hư nửa thực, mung lung những tiếng than dài đứt đoạn, khắc khoải, cô đơn, tan vỡ, là những gì không rõ nét, chập chờn, mờ mờ ẩn hiện, làm người ta dường như muốn thoát trần, trạng thái tâm hồn chìm đắm trong thế giới mộng mơ, thương nhớ nơi cõi xa xăm:

Em chỉ là người em gái thôi,

Người em sầu mộng của muôn đời

Tình em như tuyết giăng đầu núi

Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời

Tình yêu không trọn vẹn, ông coi người em gái tựa một người yêu cho vợi nhẹ đi sự thương đau khi nàng đã xa rời, ngồi chờ mong hình bóng giai nhân, cõi lòng vắng lặng, nhớ tới ngày nào:

Nhớ hôm tiễn biệt buồn say đắm

Em vẫn đùa nô uống rượu say

Em có biết đâu trời vắng lạnh

Lạnh buồn như ngọn gió heo may

Người đi, người ở lại, bữa tiệc chia tay chiều lộng gió nọ, những hớp rượu, những lời tạ từ, không những không xoa dịu tâm tư cho vơi bớt khắc khỏai trông chờ, trái lại nó đã như những nét dao khắc sâu trên đá tảng, cuồn cuộn những nhớ thương dằn vặt. Người đi còn nhớ chăng, hay không hơn những ấn tượng phai mơ, những vương vấn chìm sâu, nổi trôi trở về. Xưa nay mùa lá đổ vẫn là mùa gợi nhiều thương nhớ, sầu đau, chan chứa cảm hoài. Trời ảm đạm mây mờ gieo vào tâm tư nỗi buồn thấm đượm, man mác. Nỗi niềm này được Xuân Diệu (1916-1985) diễn tả không chỉ khơi mở một nỗi buồn, nó còn cho thấy sự cần thiết của tình yêu, hễ thiếu vắng chỉ tạo thêm nhiều đớn đau, không thể đem những rộn ràng, quay cuồng của công việc làm để khỏa lấp, bởi con người không phải là loài thảo mộc vô tri vô giác, mà có tâm tư tình cảm:

Hôm nay trời nhẹ lên cao,

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

Hay:

Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,

Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn

Trong thời đại vàng son của thi ca mới, khoảng những năm 1938-1942, thơ Xuân Diệu chiếm một địa vị độc tôn, lai láng tuôn tràn luồng tư tưởng khoáng đạt, thổi một làn gió mới trong tâm hồn trẻ, giải thoát họ khỏi những câu thúc của nếp sống cổ xưa, đóng khung trong một thứ luân lý khắc khe, phải chăng bởi thế mà ông đã được coi nhừ nhà thơ đầu tiên đã đem thuyết hiện sinh (existentialism) áp dụng vào trong thi cạ Người đương thời đả kích ông không ít, gay gắt, chua cay, chê trách thơ đâu lại quái dị, lai căng Pháp vậy. Thu về nhiều thiếu nữ bước lên xe hoa, để vấn vương cho cho người ở lại:

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì

Thơ Xuân Diệu mướt mát tuôn trào, sau nhiều năm tháng chịu đựng thử thách, búa rìu dư luận vẫn tiến tới trào lưu nhịp sống, đem luồng sinh khí mới tạo cho những tâm hồn trầm lặng choàng bừng dậy, phóng khoáng cởi mở tâm tình mình.

Nói tới Xuân Diệu không thể bỏ qua Huy Cận (1919-2004(?) là một cặp bài trùng trong cuộc sống, trong thơ văn, có một sự liên hệ thật mật thiết. Nhận định về ông, Vũ Ngọc Phan trong bộ Nhà Văn Hiện Đại lập luận :

"Đứng trước thiên nhiên và nhân loại, ông là một họa sĩ giàu lòng tín ngưỡng và bình tĩnh cần cù, ngồi vẽ những nét diu dang, không quá bạo, để không phải tả riêng mình mà tả tất cả mọi người. Về tả tình cũng vậy. Huy Cận bình tĩnh vô cùng, nên dù khi ngậm ngùi, khi hối hận, cho đến lúc tự tình, lúc tiễn đưa, ông cũng giải tỏ tính tình bình thản như những lúc ông nhớ hờ thương hão". Khi diễn tả hai tâm hồn chìm đắm vào khúc nhạc ái ân, dường như họ đã tới với nhau từ nhiều thế kỷ trước, ông phác họa cô gái bằng những ẩn dụ, tượng hình lắng đọng và chìm sâu:

Ngực trắng giòn như một trái rừng

Mắt thì bằng rượu, tóc bằng hương

Miệng cười bừng nở hàm răng lựu

Sáng cả trời xanh mấy dặm trường

Đa tình là đa lụy, bởi vậy ông không tránh khỏi những phút giây đau khổ, phải nói là cái sầu của ông mới thấm đượm, mênh mang, bát ngát, đến một cách bất ngờ, bất cứ không gian, thời gian nào, dằng dặc không rời xa tâm hồn:

Bỗng dưng buồn bã không gian

Mây bay lũng thấp giăng màn âm u

Nai cao gót lẫn trong mù

Xuống rừng nẻo thuộc nhìn Thu mới về

Sắc trời trôi nhạt dưới khe,

Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh lùng.

Sầu Thu lên vút, song song

Với cây hiu quanh, với lòng quạnh hiu

Non xanh ngây cả buồn chiều

-Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia

Thu rừng, cảnh vật ảm đạm, tiêu điều, giăng mờ sương khói, suy nghiệm về nghĩa nhân sinh, tâm hồn ông cảm thấy buồn buồn, hệ lụy này Hằng Phương (1908-1983) không thoát khỏi. Bà tên thật Lê Hằng Phương, người Quảng Nam - Đà Nẵng là ái nữ ông Lê Dư, bút hiệu Sở Cuồng từng sống nhiều năm tại Trung Hoa và Nhật Bản. Bà gọi nhà văn Phan Khôi là cậu ruột, sau kết hôn với nhà văn Vũ Ngọc Phan năm 19 tuổi. Thơ bà mang nỗi niềm thương nhớ về quê mẹ, tương tự Ngân Giang mãi tương tư thôn Hướng Dương hay Vân Đài quyến luyến khi thấy trở lại đảo Cát Bà. Nó là thứ tâm tình không phai nhạt trong tâm hồn người đàn bà sinh nơi đồng ruộng, lớn lên trong nếp sống yên lành nơi đây, nhớ thương lúc phải từ biệt. Thu về, nhớ tới quê xưa, bà ngậm ngùi một nỗi nhớ:

Thu về, nhớ trái lòn bon

Nhớ ngày ăn quả, em còn ngây thơ

Mà nay muôn dặm đợi chờ

Thu tàn, quả rụng bao giờ không!

Từ nỗi nhớ nhà khi Thu về, nhìn trái lòn bon, khai hoa nở nhụy, hiện trở về những kỷ niệm xưa, thương tiếc, từ nghĩ suy riêng tư bà phóng cái nhin xa hơn, thương cảm cho cả khách đường xa:

Trời Thu nhuộm ánh tà dương

Gió Thu trong quãng canh trường nỉ non

Trăng Thu soi bóng cô thôn

Hỏi người lữ thứ mộng hồn về đâu?

Nhưng nỗi buồn sâu sa, thấm thía, khi ngọn gió heo may thổi rơi những chiếc lá vàng úa, không có ai khác hơn ngoài Tương Phố. Bà tên thật Đỗ Thị Đàm sinh năm 1900 tại đồn Đầm, tỉnh Bắc Giang, quê chính xã Bối Khê, tổng Cẩm Khê, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, chính thức bước chân vào thế giới thi ca năm 1928, viết trên báo Nam Phong của Phạm Quỳnh. Bà có chồng bác sĩ, sinh được một con trai thì chồng phải lên đường sang Pháp tòng chinh, nhưng chỉ mấy tháng sau bởi không chịu đựng nổi sự giá lạnh của thời tiết, ông mắc bệnh phổi, thổ huyết, phải trở về nước và trút hơi thở cuối cùng tại Huế ngày 25.7.1920, đúng 30 tuổi. Bà lấy chồng mùa Thu, xa chồng mùa Thu, và chồng mất cũng mùa Thu, thành thử mùa Thu đã ám ảnh bà suốt trọn cuộc đời. Bởi vậy trong tập Giọt Lệ Thu, được bà khởi viết năm 1923, đến mùa Thu năm 1928 bà cho in trên báo Nam Phong số 131, mang tâm trạng chán chường, đau khổ của người cô phụ khóc chồng, khóc cho bản thân mình, khóc cho cuộc đời trái ngang và khóc cảnh hương lửa đang độ mặn nồng bỗng tan rã lứa đôi:

Trời Thu ảm đạm một màu,

Gió Thu hiu hắt thêm rầu lòng em;

Trăng Thu bóng ngả bên thềm,

Tình Thu ai để duyên em bẽ bàng.

Nhà văn Bùi Xuân Uyên, chủ nhiệm tờ Thế Kỷ, tác giả tập trường thiên tiểu thuyết Luyện Máu, bút hiệu Hy Di, đã viết trong lời tựa của sách, được Nam Chi Tùng Thư tái bản năm 1967, phê bình: "Nhưng nỗi buồn nào cũng có thời gian, chứ mối thương tâm của người quả phụ là một nỗi buồn âm thầm trọn kiếp. Nên chi, khăn tang rồi đoạn mà chẳng đoạn nỗi lòng. Đường đời mấy khi lại để mình yên với cái tâm sự đã thôi đành chịu não nề. Ngày mà người quả phụ vì hoàn cảnh éo le phải cam lòng đổi áo thay khăn bước đi bước nữa, lại chỉ là thêm một ngày tang tóc, khiến giọt lệ xưa thành mưa thành gió. Gió mưa chẳng ngớt với tháng ngày. Than ôi, trên bến sông Tương hiu quạnh, người vợ trẻ mất chồng một buổi chiều Thu xưa, ngồi ngân đây tiếng khóc của mùa Thụ Đắng cay chua chát tình đời, giờ đây dưới bóng dương tà, đã nghiêng nghiêng nửa mái đầu hoa râm, mở mắt cho ta xem trang sử lệ của sông Tương. Chính là Mưa Gió Sông Tương đấy."

Tâm trạng đớn đau của bà mới năm nào mất mẹ, khăn tang còn đó, chưa hàn kín vết thương lòng, đầu Thu này chít thêm vành khăn trắng, vết thương rỉ máu vỡ toang, bà khóc thương, oán trách số phận hẩm hiu, lỡ làng:

Thu về đẹp lứa duyên Ngâu,

Năm năm ô thước bắc cầu Ngân Giang;

Đôi ta ân ái lỡ làng,

Giữa đường sinh tử đoạn trường chia hai;

Anh vui non nước tuyền đài,

Cõi trần hương lửa riêng ai lạnh lùng,

Nhân gian khuất nẻo non Bồng,

Trăm năm não thiếp tấm lòng bơ vợ

Hay:

Sầu thu nặng, lệ thu đầy

Vi lau san sát, hơi may lạnh lùng,

Ngổn ngang trăm mối bên lòng

Ai đem thu cảnh họa cùng thu tâm

Mùa Thu gieo trong tâm thức bà nhiều ấn tượng kinh hoàng, bởi thế trong tập Mưa Gió Sông Tương do nhà Bốn Phương xuất bản tại Sài Gòn năm 1960, bà đã tập trung hầu hết những thi bản viết trong khoảng các năm 1915-1949, đề cập đến đời một quả phụ từ khi tuổi còn xuân đến khi bạc đầu, nỗi buồn của người con sống dưới mái gia đình thanh bạch, mối thương tâm của người vợ trẻ mất chồng sống âm thầm, lẻ loi tháng ngày qua, nỗi lo âu của người mẹ góa áo cơm đèn sách, niềm hy vọng trông chờ ở đứa con côi cút....Trọn đời bà có thể coi như nằm ở đây. Bà phơi trải hết nỗi quặn đau trong vòng sinh hóa, giông tố chập chùng. Bà làm thơ không phải muốn trở thành một thi sĩ để đời biết tới, như có người mới chập chững sánh duyên cùng nàng Ly Tao đã muốn trở thành thi bá, cũng không phải thợ thơ, thơ chất thành núi trong các thi tập, dày ngang quyển tự điển, trái lại bà làm thơ để giãi bầy tâm sự đớn đau hầu vơi bớt những nhớ thương dằng vặt. Tâm trạng bà tương tự Hồ Xuân Hương sống khoảng đời Lê mạt Nguyễn sơ, con của ông Hồ Phi Diễn, quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, duyên phận long đong, sau lấy lẽ một ông thủ khoa làm tri phủ Vĩnh Tường, được ít lâu ông mất, bà tái giá với một cai tổng tục danh Cóc, nửa chừng chồng chết, ngậm ngùi số kiếp long đong của mình:

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con

Thơ Thu lãng đãng như trời Thu chập chùng, giăng mắc, không nhà thơ nào không có thơ Thu, mỗi đối tượng ký thác một tâm sự riêng, bát ngát, thoáng đãng như những ruộng ngô đồng. Đinh Hùng ((1920-1967) sinh trong một gia đình trung lưu, có hẳn một trang trại lớn ở ngoại thành Hà Nội, ngay kế cận tòa Khâm Thiên Giám cũ, với những dãy nhà ngói dọc ngang, những hàng cây ăn trái mùa nào thứ đó. Ôâng bà Phán sinh hai trai và bốn gái, gốc làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông, nhưng đã từ lâu ra Hà Nội lập nghiệp. Đinh Hùng con út, Đinh Lân trưởng huynh, và các chị Đinh Thục Loan, Đinh Thục Yến, Đinh Tuyết Hồng và Đinh Thục Oanh sinh tại Manille, sau lấy nhà thơ Vũ Hoàng Chương có một trai.

Ông được biết đến nhiều với thế giới tiền sử hoang sơ, man dã, đôi khi phảng phất thế giới thơ của nhà thơ Pháp Leconte de Listẹ Tới khi bỏ thế giới hoang tưởng, mộng ảo trở về đời sống thực tại, ông đã chịu đựng nhiều cái tang đớn đau. Khoảng năm 1931 chị Tuyết Hồng nổi tiếng hoa khôi của nhiều cuộc chợ phiên, được nhiều vương tôn công tử rắp ranh bắn sẻ, thế mà năm đó mới 18 tuổi đã không biết vì hờn giận với tình duyên ra sao, chị đã mượn làn nước biếc của hồ Trúc Bạch trầm mình, rũ sạch nợ trần gian. Mấy tháng sau ông Phán buồn chán đau nặng qua đời, tuổi chưa đến 50, và ba năm sau đến lượt chị Thục Loan ra đi tuy đã lập gia đình, nhưng còn trẻ lắm. Ông đắm mình trong những yêu đương cuồng nhiệt, khát vọng ái tình cho vơi đi những sầu đau. Nhưng ông đã không tìm được hình bóng chân thật của tình yêu trong các cuộc tạm gọi là truy hoan. Cuối cùng ông đành quay trở về dĩ vãng, bởi chỉ trong thế giới siêu tưởng, họa chăng ông mới ký thác được chút nào khổ đau. Nhìn Thu về ông tìm quên lãng trong bóng ma:

Trời cuối thu rồi - Em ở đâu!

Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?

Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,

Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.

Âu ông đã quá nặng về tình yêu trong vũ trụ siêu tưởng, coi tâm linh là bất diệt, nên ông cần tìm hình ảnh để gửi gấm tâm hồn, biến thế giới hiện hữu thành thế giới yêu đương:

Tôi nghe em nói bằng yên lặng

Bằng dáng nghiêng nghiêng động nét mày;

Bằng cả mênh mang chiều lắng đọng

Nụ cười em gửi gió thu bay.

Không phải chỉ khi đã lăn lóc trong đời, đã chán chường, thất vọng trước biết bao mối tình của nhiều cô gái đã đến đã đi, nằm rải rác trong thơ ông, ông mới tìm thấy một cảm hứng nào trong hơi Thu lành lạnh, có gió heo may xào xạc thổi về sực nức hương cốm, những hạt ngọc trời xanh biêng biếc, mà ngay từ khi còn ngày hai buổi cắp sách tới trường ông đã cực cảm thấy:

Ôi khoái lạc của những giờ trốn học

Những bình minh xuân đẹp, những chiều thu!

Bao cảnh nước mây đằm thắm hẹn hò,

Khi biếng gặp, nhớ nhung pha màu áo.

Không phải ông đạp trên sách vở, bỏ giờ trốn học, lui tới vườn Bách Thảo, hay dạo dưới những đường hoàng lan đọng nắng Thu vàng, mà độn sổ đứng chót lớp, trái lại ông đã rất xuất sắc trong việc học. Ngược lại, ông đã thi đỗ bằng Cao đẳng Tiểu học (Diplôme d' Eùtudes Primaires Supérieures) hạng bình thứ (mention assez bien), được toàn học bổng theo học ban chuyên khoa tại trường Bảo Hộ (Lycée du Protectorat) tục danh là trường Bưởi, tốt nghiệp Tú tài bản xứ. Tâm hồn lãng mạn của ông đã nương theo cõi huyền hoặc sưởi ấm linh hồn ma ở bên kia bờ xa thẳm:

Ta gửi bài thơ anh linh

Hỡi người dưới mộ có rùng mình?

Nắm xương khô lạnh còn ân ái?

Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?

Hỡi người tuyết trinh!

Hỡi người tuyết trinh

Mê em, ta thoát thân hình,

Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm...

Nói tới thế giới dường như huyền bí, vô hình của Đinh Hùng, trở lại với mùa Thu nhân gian, không mấy ai không một lần cảm thấy thương xót cho số phận bẽ bàng, thầm lặng của người đàn bà hẩm hiu nào đó mang tên T.T.Kh:

Từ đấy thu rồi, thu lại thu

Lòng tôi còn giá đến bao giờ?

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ...

Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi

Mà từng thu chết, từng thu chết

Vẫn dẫu trong tim bóng một người

Đây có thể coi như một hiện tượng gây nhiều ngạc nhiên trong giới văn học, đến nay còn lắm nghi vấn, tranh cãi, chưa biết đích xác ai là tác giả tác phẩm nọ. Nhưng phải nhận rằng ít ai chỉ sáng tác có ba bài thơ tình trữ tình lai láng như thế lại được đời biết tới, ngoại trừ một Vũ Đình Liên (1913-1996) sáng tác không bao nhiêu, chỉ với bài Ông Đồ Giàø mà đến nay cứ mỗi lần Tết đến, người ta lại nhắc nhở tới, tương tự bản nhạc Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương, tức ca sĩ Hoài Bắc trong Ban Thăng Long. Dư luận cho rằng tác giả là một thiếu nữ đa tình, lãng mạn, đau khổ vì duyên phận long đong đã sáng tác rạ Nàng cố tình đào sâu chôn chặt mối tình đau xót, có một người yêu bị ngăn cấm không lấy được, buộc phải kết hôn với một ông chồng nghiêm khắc, hơn mình nhiều tuổi, luôn hành hạ nàng chỉ bởi biết vợ mình đã nặng mang trong tâm hồn hình bóng một người đàn ông khác.

Thu về gợi nhiều nhung nhớ, cảnh tượng mờ ảo khơi gợi cho người nghệ sĩ nhiều cảm hứng, tác động họ tạo dựng nên những vần thơ, những điệu nhạc đẹp óng ả mượt mà. Nhạc sĩ Cung Tiến lang thang trên đường vắng nhìn lá vàng rơi, xào xạc bay theo gió cuốn, lòng bâng khuâng, man mác:

"Chiều hôm qua lang thang trên đường, hoàng hôn xuống chìm đắm muôn phương. Chiều hôm nay mình tôi bâng khuâng. Lòng xa xôi và sầu mênh mông...có nghe lá vàng não nề rơi không? Mùa thu vàng tới là mùa lá vàng rơi và lá vàng rơi khi tình thu vừa khơi, nhặt lá vàng rơi xem màu lá còn tươi nghe chừng như đây màu tê tái" (Thu Vàng)... Hồn Thu xem chừng không dứt, còn mãi tản mạn trong tâm hồn ông dường như ngấn nước ao Thu tỏa rộng, vang đọng một hình ảnh dấu yêu xưa:

"Một mùa Thu xa vắng như mơ hồ về trong đêm tối, cố nhân xa rồi có ai về lối xưa...Chờ nhau hoài cố nhân ơi, sương buồn che kín muôn đời"... (Hoài Cảm). Chưa dứt ý Thu, dòng tâm tư ông còn như vương vấn niềm thương nhớ không nguôi, dạt dào dấy lên từ hình ảnh một chiều nắng tơ vàng, con đò bến cũ, và bóng đa quán nước...

"Người ơi, chiều nay có nắng tơ vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi. Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi, tình có ghi lên đôi môi, sầu có phai nhòa cuộc đời, người có thương yêu loài người và yên vui sống cuộc sống vui, đời êm như tiếng hát của lứa đôi"... (Hương Xưa)

Mùa Thu trông nhìn cảnh vật rầu rĩ : "Người lên ngựa, kẻ chia bào - Rừng phong Thu đã nhuốm màu quan san" (Nguyễn Du), con người tự dưng đã cảm thấy buồn, một cái gì vô hình len lén trong tâm tư vốn sẵn đã buồn, nếu có một tâm trạng thật buồn, buồn não nùng, nó sẽ lây lan, thấm đượm như hơi men đêm hợp cẩn. Thu về đã buồn vậy mà hồi tưởng dĩ vãng, người ta không khỏi nuối tiếc khi mường tưởng tới hình bóng một số những vì sao rụng trong mùa lá úa này.

Nhạc sĩ Lê Thành Trí trứ danh là tay đàn Tám Trí trong thế giới cải lương đã qua đời ngày 18.9.2002 tại Canada, thọ 78 tuổi. Mấy ngày sau nữ nghệ sĩ Nguyễn Ngọc Nuôi tức Ngọc Nuôi mất ngày 23.9.2002 tại Los Angeles, California, thọ 72 tuổi. Bà là hiền thê của nghệ sĩ Nguyễn Hữu Hùng tức Việt Hùng, vội theo gót chân chồng khi ông cất bước ra đi chưa tròn một năm, phải chăng bởi thương nhợ Tới ngày 1.11.2002 đến lượt nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết bị bạo bệnh mất tại Sài Gòn lúc 20 giờ 20 để lại cho đời 200 nhạc phẩm tình tự quê hương, mà không ai ở miền Nam trước năm 1975 không biết tới đôi song ca Ngọc Cầm - Nguyễn Hữu Thiết được mến mộ trong các bản Gạo Trắng Trăng Thanh, Trăng Rụng Xuống Cầu của cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thợ Nguyễn Hữu Thiết sinh ngày 16.6.1928 theo học tại cố đô Huế, thụ huấn âm nhạc một giáo sư Pháp. Tuy nhiên những nhạc phẩm của ông vẫn đậm đà sắc nét quê hương. Bản nhạc đầu tay Đợi Con Về ông trình làng năm 1946, những nhạc phẩm nối tiếp, người ta thấy đượm âm hưởng dân ca Trung bộ như: Chàng Là Ai, Ai Đi Ngoài Sương Gió, Tình Trao Xuân Nữ...Hãng phim Phương Nam đã thu CD Gửi Người Tôi Yêu gồm 14 bản tâm đắc của ông, trong đó có những bài Giọt Mưa Chiều (Nước Mắt Em), Lời Nguyền Cho Một Tình Yêu, Cánh Hoa Xuân, Mưa Chiều Nhớ Nhau, Hoa Nhớ Thương Ai...Hai cô gái rượu của ông là Hồng Danh và Hồng Hạnh đã nối bước chân cha.

Mùa Thu trở về CSVN lại đưa các văn công sang Úc Châu biểu diễn, nhắm thực thi chính sách văn hóa vận được quy định rõ rệt trong Nghị Quyết 36. Đối với CS tất cả những gì nằm ngoài quỹ đạo thống trị của họ đều là phản động, bị lên án. Bởi vậy sau năm 1975, họ đã tịch thu, bắt giử những người lưu hành sách báo cũ, truy tố theo Điều 82 "Tội tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa" của bộ Luật hình sự, giam giữ 163 văn nghệ sĩ miền Nam trong các trại tù. Đồng thời họ xây dựng và phát triển nền văn học nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa thấm nhuần sâu sắc tính đảng CS. Nay họ âm mưu gieo rắc trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Trước cao trào bảo tồn và phát huy nền văn hóa truyền thống bao hàm tính nhân bản, dân tộc, đại chúng, khai phóng, giao lưu (không phải giao lưu văn hóa kiểu CS mà là hội nhập những tinh hoa văn hóa của những nước không CS) quyết định bản mệnh sự trường tồn của giống nòi, chống đối nền văn học Mác-xít. Từ năm 1978 đến nay cục tình báo văn nghệ gián điệp và phản gián do Trần Bạch Đằng chỉ huy, tìm cách đưa ra hải ngoại các cán bộ nằm vùng, trường kỳ mai phục, chủ trương tuyên vận, và âm mưu lũng đoạn hàng ngũ giới văn nghệ sĩ bằng mọi hình thức, mọi phương tiện hầu tạo dựng cơ sở, và phá hoại người Việt hải ngoại bằng nhiều phương thức xảo quyệt thâm độc. Bởi vậy vấn đề chống đối ở đây là chống đối chủ trương, đường lối văn hóa hiện thực xã hội chủ nghĩa, phi nhân bản của CS.

oOo

Truyện-VănChương

Story Options