|
Contributed by: phuochung |
Views: 4.973
Tưởng Năng Tiến, Đàn Chim Việt
Chẳng hiểu em nói cái gì
nhìn môi một cụm xuân thì cũng thương
em xinh như đoá hướng dương
mọc hoang theo lối về buôn bản nghèo
"H ' Na Cô Gái Tây Nguyên"
Tác giả những câu thơ vừa dẫn, thi sĩ Phan Ni Tấn, là
một người vô cùng may mắn. Vô số kẻ đã đến miền
sơn cước nhưng có lẽ chỉ riêng mình ông ta có chuyện
tình duyên với một cô gái tây nguyên,"xinh như một đóa
hướng dương", dù rằng hai bên hoàn toàn bất đồng ngôn
ngữ.
Tôi biết một nhân vật khác, cũng đến miền cao nguyên,
và đến rất sớm nhưng không có cái may mắn tương tự.
Đó là nhạc sĩ Văn Trí, người viết bản Hoài Thu - vào
năm 1951. Đà Lạt (ở thời điểm này, theo như lời
đương sự mô tả) chỉ là một nơi "núi rừng thâm xuyên",
với những "bầy nai ngơ ngác", và "lá vàng rơi đầy miên
man..." - rồi chấm hết! Tuyệt nhiên, không hề thấy bóng
dáng bất cứ cô sơn nữ nào - kể cả những cô mà nhan
sắc chỉ ở mức trung bình (hoặc dưới trung bình, chút
đỉnh)!
Tôi sinh ra đời sau tác phẩm Hoài Thu, và dưới một ngôi
sao (vô cùng) xấu. Dù đã sống hết một phần đời của
mình ở miền cao, tôi chưa bao giờ được hân hạnh cầm
tay (chứ đừng nói chi đến chuyện tương tư) chị em cô
gái H' Na - như nhà thơ Phan Ni Tấn. Tôi cũng không được
cái vinh dự nhìn thấy nét hoang dại, trinh nguyên của một
vùng đất mới - như nhạc sĩ Văn Trí. Sự hoang dã của cao
nguyên Lâm Viên, với những kẻ sinh sau đẻ muộn như tôi,
chỉ còn là dư âm - qua những câu chuyện kể, từ những
người đến trước.
Tôi thích nhất là những chuyện về thú rừng, đại khái
như: "ngày xưa", ở Đà Lạt, nhiều hôm học sinh đương
lơn tơn đến trường thì "bỗng" thấy một "ông cọp"
đang ngồi phơi nắng. Thế là cả lũ vội vàng nín thở,
nhè nhẹ quay lưng, rón rén đi ... về. Khỏe thì thôi chứ!
Sự gần gũi (giữa cọp và người) như thế - tiếc thay -
không kéo dài luôn, và cũng không kéo dài lâu. Trong những
ngày thơ ấu, mỗi sáng đi học, tôi đều cầu nguyện và
van xin (Phật, Chúa,Thánh, Thần...các thứ) để cũng
được nhìn thấy vài con cọp bự - đang ngồi phơi nắng,
giữa đường, như thế. Dù tôi rất chí tình, sự khẩn
cầu này chưa bao giờ ứng nghiệm. Lòng tin của tôi vào
các đấng thiêng liêng giảm sút không ngừng, kể từ
thưở ấy.
Khi tôi được "bế" lên Đà Lạt, vào khoảng giữa thập
niên 1950, thành phố này đã bị đô thị hoá. Voi, cọp, heo
rừng, beo, gấu, khỉ, vượn, nhím, mển, gà rừng, công,
trĩ, hươu, nai, trăn, rắn, sóc, chồn ... không còn chung
sống với người. Người Thượng (nói chung) và những cô
sơn nữ (nói riêng) cũng không mấy khi xuất hiện trên
đường phố. Họ ở cách xa, nơi miền sơn cước.
Văn hoá miền núi, tất nhiên, có nhiều nét dị biệt với
miền xuôi; do đó, khi giao tiếp, đôi lúc, giữa người
Thượng và người Kinh đã có những hiểu lầm - vô cùng
đáng tiếc!
Tôi đã chứng kiến cảnh một chàng thanh niên từ miền
sơn cước xuống đồng bằng, và bị "tiếng xét ái tình"
với một cô gái nơi thành thị. Chàng đứng ngẩn ngơ,
chân không thể bước. Trước tình huống đó, có người
buột miệng nói đùa:
- Người Kinh không có "bắt chồng" như người Thượng
đâu. Muốn "bắt vợ" thì tuần trăng sau phải mang hai con
trâu tới đây mới được.
Chàng trai miền núi mừng rỡ gật đầu, hăm hở quay về.
Không hiểu phải qua bao nhiêu đường đất, và gặp bao
nhiêu khó khăn ở thôn bản của mình nhưng đúng hẹn chàng
trở lại. Nhác trông thấy người - dắt theo hai con trâu,
như giao ước - cô gái vội vàng bỏ trốn! Chờ hoài không
thấy cố nhân, chàng thẫn thờ mãi rồi lặng lẽ dắt
trâu đi.
Một chuyện tình buồn thảm thiết như vậy mà khi kể xong
vẫn có người cười. Nói thiệt, sao tôi cười ... không
nổi! Cách đùa cợt đó, ngay từ lúc ấu thơ, tôi đã
cảm thấy có cái gì rất là không ổn. Sau này, cũng đã
có lần tôi xuýt khóc khi tình cờ đọc một câu thơ trào
phúng như sau :
Xu hào rủng rỉnh Mán ngồi xe!
Tú Xương sinh năm 1870 và mất năm 1907. Bài thơ "Năm Mới"
có thể được viết từ cuối thế kỷ mười chín. Vào
thời điểm này, khi mà mọi phương tiện truyền thông và
giao thông đều vô cùng giới hạn nên cách nhìn lệch lạc
của thi sĩ về một người đồng bào miền núi - tôi cố
nghĩ - có thể thông cảm được.
Sang thế kỷ hai mươi mốt, tôi lại đọc được một
"chuyện cười" khác nữa - có liên quan đến những
người dân sơn cước:
"Khoảng năm 1977, một hoạ sĩ miền Nam là Đỗ Toàn, tên
thật là Đoàn Văn Toàn, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật
Huế, giáo sư hội hoạ trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng
trước năm 1975, trong chuyến viếng thăm Hà Hội, đã ghé
thăm Văn Cao. Theo Đỗ Toàn, nhà Văn Cao trống trơn, xơ
xác, ở giữa treo một người thượng du cỡi một con
ngựa chiến rất đẹp. Nhiều người Việt thường có
định kiến bất công là tỏ ra xem khinh người miền núi,
gọi họ là dân thiểu số hay dân "mọi". Rất thắc mắc
về một người "mọi" cỡi trên lưng một con ngựa cao
lớn oai phong, nên trong lần gặp gỡ thứ nhì, trong dịp ra
Hà Nội đó, Đỗ Toàn mới hỏi Văn Cao ý nghĩa thực sự
của bức tranh là gì? Văn Cao vừa cười vừa giải
thích:"Thì cái nước Việt Nam mình hiện nay vậy đó.
Một đất nước giàu có với một dân tộc anh hùng đang
bị mấy thằng 'mọi' đè đầu đè cổ." Hiểu được thâm
ý của Văn Cao, Đỗ Toàn đáp lại:"Anh vẽ thế không
sợ..."Mới ngang đây, Văn Cao ngắt lời:"Tôi chỉ nghĩ
trong đầu thôi chứ có phổ biến thành bài viết giấy
tờ gì đâu mà sợ?" Đỗ Toàn sửa lại:"Không, ý tôi
muốn nói là anh không sợ người 'mọi' họ kiện anh hay sao
khi so sánh họ với đám lãnh đạo?" (Trần Gia Phụng, "Di
Ngôn Của Một Nghệ Sĩ Đa Dạng," Thế Kỷ 21, Nov.2000:91).
Cũng theo lời chú thích của giáo sư Trần Gia Phụng, câu
chuyện vừa dẫn được viết lại theo lời kể của hoạ
sĩ Đỗ Toàn. Cả Văn Cao và Đỗ Toàn đều không còn
nữa. Tôi không dám làm phiền đến sự an nghỉ của những
người đã khuất, cũng không hề có ý nghi ngại sự khả
tín và khả xác về tư liệu được cung cấp bởi giáo sư
Trần Gia Phụng - một người viết sử cẩn thận và chu
đáo. Tôi chỉ thầm mong đây là một thứ giai thoại,
tương tự bao nhiêu giai thoại khác, chung quanh một nghệ
sĩ đa tài - như Văn Cao, thế thôi.
Tự thâm tâm tôi không tin rằng tác giả của Suối Mơ,
Bến Xuân, Mùa Xuân Đầu Tiên ... là người có nét ranh
mãnh - như đã được mô tả qua mẫu đối thoại của câu
chuyện vừa rồi:"Thì cái nước Việt Nam mình hiện tại
là vậy đó. Một đất nước giầu có với một dân tộc
anh hùng đang bị mấy thằng " mọi. đè đầu đè cổ."
Đó không phải là ngôn ngữ của Văn Cao - theo như tôi
biết về ông, với ít nhiều chủ quan, qua tác phẩm.
Mang so sánh một nhóm người cần cù, hiền hoà, chất
phác, lương thiện...như những nguời dân sơn cước ở
Việt Nam với những kẻ đã mất hết lòng nhân (hiện
đang nắm giữ quyền thống trị nơi đó) - dù chỉ với
mục đích giễu cợt - là một sự xúc phạm và miệt thị
nặng nề."Định kiến bất công tỏ ra xem khinh người
miền núi" như thế - theo như nhận xét, đã dẫn, của
giáo sư Trần Gia Phụng - không chỉ giới hạn trong vấn
đề danh xưng, và người Thượng cũng không phải là nhóm
người thiểu số duy nhất bị "xem khinh" bởi người Kinh.
Hiện tại ở Việt Nam có đến hai triệu người gốc Hoa,
năm trăm ngàn người Việt gốc Miên, năm chục ngàn
người Chàm, và năm mươi nhóm người dân miền núi khác
nhau ... Tổng cộng họ chiếm chín phần trăm dân số, theo
như ghi nhận (rất khái quát) của Microsoft Encarta Online
Encyclopedia 2000. Những sắc dân miền núi bao gồm người
Lô Lô, Mèo, Mán, Mường, Nhắng, Nùng, Thổ, Thái - ở
thượng du Bắc Việt; và Vân Kiều, Kha Tu, Hré, Sédang,
Bahnar, Djarai, Roglai, Rhadé, Koho, Mnong, Stiêng - ở cao nguyên
Trung Việt [Cửu-Long- Giang Toan Ánh, Người Việt Đất
Việt , 1967 (DaiNamCo in lại tại Hoa Kỳ, và đã bỏ tên nhà
xuất bản), 42 - 55] .
Ngoại trừ người Việt gốc Hoa, tất cả những nhóm dân
còn lại đã có mặt ở Việt Nam tự ngàn xưa. Họ đều
góp phần máu xương, công sức và chia sẻ tận tình mọi
thăng trầm với vận mệnh của xứ sở này. Tuy vậy, họ
đã không được người Việt - nhóm người chiếm tỉ lệ
đa số - kính trọng và đối đãi một cách bình đẳng.
Ngay cả với người Hoa - nhóm nguời mới nhất, bị nhiều
thành kiến và tai tiếng nhất (vì thái độ bị coi là "ký
sinh" của họ trong lãnh vực kinh tế) - chưa chắn phần
lớn người Việt đã có sự hiểu biết đúng đắn và
rõ ràng về họ. Xin đơn cử một thí dụ, về cộng đồng
người Hoa ở Quảng Nam: "Nhóm người thứ ba đến Quảng
Nam là con cháu của những người Trung Hoa buôn bán bằng
đường biển, đến Quảng Nam lập nghiệp và nhất là
những thần dân nhà Minh vượt biên, bỏ nước ra đi vì
người Kim từ miền Bắc xuống lật đổ nhà Minh năm
1644, lập vương triều Mãn Thanh. Nhóm người Trung Hoa can
đảm không kém những lưu dân Việt. Họ là những tinh hoa
ái quốc Trung Hoa thuộc tầng lớp sĩ phu hay kinh doanh giàu
có, rất nhiều kinh nghiệm tổ chức và làm ăn. Họ đến
Quảng Nam và chọn nơi này làm quê hương với tinh thần
xây dựng quê hương mới, chứ không phải là nguời khách
trú buôn bán kiếm lời rồi bỏ đị Họ đã đóng góp
không ít cho sự thịnh vượng Việt Nam nói chung và Quảng
Nam nói riêng. Lúc đầu họ tập họp thành những làng Minh
Hương, rồi dần về sau hoàn toàn hoà nhập vào xã hội
Việt Nam." [Trần Gia Phụng, Quảng Nam Trong Lịch Sử (Toronto:
Non Nước, 2000), 68].
Tôi tin rằng một nhóm người "Ba Tầu" khác, theo chân họ
Mạc đến Hà Tiên, vào cùng thời điểm trên, cũng có
đầy đủ những đức tính đáng qúi và "đã đóng góp
không ít cho sự thịnh vượng Việt Nam" - không khác gì
những người Minh Hương ở Quảng Nam.
Rồi trong cơn quốc biến, tai họa đã là "cơ hội đồng
đều" cho mọi người dân sống ở Việt Nam - không phân
biệt tuổi tác, phái tính, tôn giáo, hay sắc tộc...
Người Việt gốc Hoa đã bị đối xử tàn tệ ra sao là
chuyện mà cả thế giới đã có lúc phải chau mày. Giả sử
họ chỉ là khách trú chăng nữa, người Việt vẫn có lỗi
như thường khi đã để cho họ bị cướp bóc trắng trợn
và xua đuổi ngay tại nhà mình.
"Mùa hè năm 1978, công an biên phòng của Việt cộng cho
thiết lập những trạm dọc theo những tỉnh bờ biển miền
Nam để đóng tầu và đẩy người Hoa ra biển, sau khi thu
lệ phí cắt cổ bằng những cây vàng, trong đó cũng có
nhiều người Việt giả dạng Hoa Kiều tìm cách vượt
biên. Với tiến trình hai năm trời như thế, người ta ghi
nhận ít nhất có 250, 000 người bị Cộng Sản Việt Nam
tống ra biển, trong số này ít nhất có từ 30 đến 40,000
người chết mất xác ngoài biển khơi" [Nayan Chanda,
Brothers Enemỵ Trans. Phạm Quốc Bảo - Huynh Đệ Tương Tàn
(California: Thế Giới, 1991), 195-196].
Dù vậy, nghĩ cho cùng, những người Việt gốc Hoa vẫn
còn có thể được coi là... may mắn! Họ còn có phương
tiện và có chỗ để đị Những những sắc dân khác,
phần lớn, không có cái may mắn tối thiểu như thế -
nhất là những kẻ nơi miền sơn cước. Họ ở quá xa bờ
biển, và quá nghèo để lo liệu được cho một chuyến
đi - đắt giá. Và cho dù có cơ hội chăng nữa, chưa
chắc những người miền núi đã lựa chọn chuyện từ bỏ
quê hương - một cách dễ dàng - như những kẻ ở miền
xuôi!
Trong số những người đã ra đi, mấy ai còn bận tâm
đến số phận của kẻ còn ở lại - trên những bản làng
heo hút - nơi chốn cũ? Nhiều lắm thiên hạ cũng chỉ
"ráng" nhớ đến Huế, đến Sài Gòn, Hà Nội, Quảng Nam,
Nha Trang hay Biên Hoà gì đó ... là cùng.
Vì sinh trưởng ở cao nguyên nên dù "chưa" có tình ý gì
với chị em cô gái H' Na, đôi lúc, tôi cũng thoáng bâng
khuâng khi chợt nhớ đến những cô gái Tây Nguyên? Không
biết chuyện đời sống, chồng con, và nhan sắc của "cố
nhân" bây giờ ra sao - há?
" Tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng và bệnh tật ở các
tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoàng Liên sơn, Gia Lai - Kômtum, Đắc
Lắc, Lâm Đồng và Sông Bé thì vô cùng báo động, nhất
là các trẻ em sắc tộc miền núi. Riêng tại tỉnh Đắc
Lắc, hơn 54% trẻ em bị suy dinh dưỡng, trong đó 32% suy dinh
dưỡng nặng. Trẻ em các sắc tộc thiểu số cao nguyên
miền Bắc thỉnh thoảng có nhận đồ cứu trợ từ chính
quyền nhưng phần lớn nặng về phô trương hơn là cụ
thể (...). Khi hết lương thực, các em nhỏ sắc tộc phải
cùng cha mẹ đào củ rừng mà ăn cầm đói, phần lớn
không sống hết tuổi vị thành niên vì thiếu ăn và bệnh
tật. Nhiều bộ lạc đang có nguy cơ diệt chủng nếu tình
trạng thiếu đói cứ kéo dài, tương lai của họ rất bấp
bênh. (Nguyễn Văn Huy, "Nhân Ngày Quốc Tế Thiếu Nhi:
Viết Về Trẻ Em Bất Hạnh", Thông Luận số tháng 8 năm
94).
Và đây là báo cáo mới nhất về đời sống của những
người dân sơn cước ở Việt Nam, từ một người ngoại
quốc :"Lợi tức bình quân của một người Thượng là 150
Francs (23 USD) một năm, trong khi đó giá một kí lô gạo là
1,5 Franc (...). Hiếm thấy một người thượng nào mà
không mắc những chứng bệnh nhiệt đới: sốt rét, ho
lao, hay phong cùi. Cũng hiếm thấy trẻ em Thượng nào đến
trường học. Nạn mù chữ chiếm 80 % dân số Thượng trong
khi tỉ lệ mù chữ trên toàn quốc là 15% (Michel Tauriac,
"Ces Mois qụ on assassine," Paris Match, 17-Feb. 2000).
Riêng trong lãnh vực giáo dục, báo Nhân Dân (số ra ngày 9
tháng 12 năm 2000) đã tổng kết và ghi lại vài dữ kiện
vô cùng... thê thảm - về số lượng học sinh dân tộc
thiểu số được tuyển chọn vào đại học trong năm :" Các
dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Đăng,
Thổ Chỉ có từ hai đến ba học sinh đạt tiêu chuẩn.
Đáng chú ý, mỗi dân tộc: Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho,
Lào, La Chí chỉ có một học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển
vào học các trường đại học, cao đẳng." Tôi hy vọng báo
Nhân Dân in lộn. Nếu những con số vừa nêu là số
lượng những đại biểu quốc hội của đồng bào sắc
tộc thì đỡ thảm thiết hơn nhiều!
Dù mỗi người chỉ được sống với hai Mỹ Kim một
tháng, và mỗi sắc dân chỉ có một học sinh (đại diện)
vào đại học, "nguy cơ diệt chủng" của những bộ lạc ở
Việt Nam (chắc chắn) sẽ đến sau sự cáo chung của chủ
nghĩa cộng sản ở xứ này. Và đó là điều may mắn an
ủi duy nhất mà dân tộc Việt còn có được, khi nhìn về
tương lai.
Mai hậu, hy vọng người Việt (thuộc mọi thành phần dân
tộc) sẽ biết cách thu xếp để sống với nhau một cách
ổn thoả hơn và tử tế hơn. Nếu không, mọi cố gắng
để hủy bỏ chế độ hiện hành đều vô ích và vô
nghĩa.
Tôi tin rằng rất ít người Việt phủ nhận chủ nghĩa
cộng sản chỉ vì họ ... "thuộc phe quốc gia" hay vì những
lý do hời hợt tương tự. Sở dĩ chủ nghĩa này phải bị
gạt bỏ vì nó là nguyên nhân của lầm than, dốt nát, kỳ
thị, bất công, dối trá, khủng bố, áp bức...Khi nó đã
bị loại trừ thì tất cả những thuộc tính bệnh hoạn
vừa nêu cũng không có lý do gì để tồn tại nữa.
" Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979,
một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở
vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho
ngoại bang. Đó chính là hậu quả của chính sách sai lầm
trong lãnh vực sắc tộc [Lý Hồng Xuân, Nhận Diện Chân
Dung NhàVăn, (California:Văn Nghệ 2000),177]. Chắc chắn
không ai " làm tay sai cho ngoại bang" nếu được đối xử
một cách bình đẳng, và không bị coi thường như "những
công dân hạng bét" trên quê hương của chính mình.
Họa cộng sản sẽ và sắp đi vào dĩ vãng. Một trong những
điều phải bận tâm trong những ngày tháng tới của dân
tộc Việt là "tình hữu nghị" với những lân bang. Ngoài
bờ biển ra, phần biên giới còn lại của Việt Nam đều
là nơi cư ngụ của những dân tộc thiểu số - tự ngàn
xưa. Như thế, tương nhượng và tương kính không phải
chỉ là một quan niệm sống nhân bản mà còn là một thái
độ khôn ngoan (tối thiểu) để sinh tồn.
Sự tương nhượng và tương kính này cũng không chỉ cần
thiết trong tương giao giữa "kinh và thượng" mà còn trong
quan hệ giữa "miền này với miền nọ", "đạo này với
đạo kia" nữa. Thế giới hôm nay không còn đất sống cho
những dân tộc có đầu óc hẹp hòi. Bỏ những thành kiến
mẹ ruợt đó đi, mấy Tám!
K' Tien
oOo
|
|