|
Contributed by: phuochung |
Views: 9.639
Nguyễn Dư
Thuở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, được
học bài Hai bà Trưng:
Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
...
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp tan biên thành ...
Nghe thầy giảng lúc ra trận hai bà mặc hồng quần, nghĩa
là quần đỏ.
Cả lớp khoái chí, cười khúc khích.
Sau này đọc sách thấy nhiều học giả đồng ý với thầy.
Hồng quần: quần chính nghĩa là cái váy, cái xiêm, phụ
nữ xưa mặc quần đỏ. (Đinh Xuân Lâm và Chu Thiên , Đại
Nam quốc sử diễn ca, Văn Học, 1966, tr. 87 ).
Hồng quần: đàn bà (xưa mặc quần đỏ). (Hoàng Xuân Hãn,
tập 2, Giáo Dục, 1998, tr. 77).
Hồng quần: quần đỏ (tức con gái). (Đào Duy Anh, Hán
Việt từ điển).
Hình ảnh hai bà Trưng mặc quần đỏ dẹp giặc đẹp quá!
Đẹp quá hoá ra ... đáng ngờ!
Theo truyền thuyết thì thời Hùng Vương, đàn ông Việt
Nam đóng khố, đàn bà mặc váy kín (váy chui) hoặc váy
mở (váy quấn). (Thời đại Hùng Vương, Khoa Học Xã Hội,
1976, tr.177).
Sử nước ta lại cho biết thêm:
Năm 1414, nhà Minh cấm con trai con gái không được cắt
tóc; đàn bà con gái thì mặc áo ngắn quần dài, hoá theo
phong tục phương Bắc. (Đại Việt sử kí toàn thư).
Nhà Minh muốn đồng hóa dân ta, cấm đàn bà con gái
nước ta mặc váy, bắt phải mặc quần như người Tàu.
Năm 1428 Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh, giành lại
độc lập cho đất nước.
Sử không cho biết cách ăn mặc của dân ta dưới thời Lê
Thái Tổ và mấy triều vua kế tiếp.
Thời tự chủ, với ý quyết xoá bỏ hết tàn tích nô lệ
về y phục, vua Lê Thần Tông niên hiệu Thịnh Đức năm
đầu (1653) định phép ăn mặc cho quan dân. Vua Lê Huyền
Tông niên hiệu Cảnh Trị thứ ba (1665) cấm đàn bà con gái
không được mặc áo có thắt lưng và mặc quần có ống
chân (nghĩa là bắt buộc phải mặc váy). (Nhất Thanh,
Đất lề quê thói, Đại Nam, tr. 206).
Vào khoảng năm 1744 chúa Võ Vương ở phương nam bắt dân
gian cải cách y phục. Theo giáo sĩ Koffler thì chúa bắt bỏ
lối quần áo thô bỉ của người đường ngoài, mà châm
chước theo lối quần áo của người Tàu. (Đào Duy Anh,
Việt Nam văn hoá sử cương, Bốn Phương, 1961, tr. 173).
Chúa Võ Vương muốn "Triều đình riêng một góc trời,
gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà" (Kiều), độc lập
đối với vua Lê chúa Trịnh đàng ngoài nên ra lệnh bắt
đàn bà đàng trong phải ăn mặc như Tàu. Vì chúa muốn
"Thà làm tôi thằng hủi hơn chịu tủi anh em", mà các bà
đàng trong phải mặc quần.
Vua Minh Mạng đi xa thêm một bước nữa:
Tháng tám (có chỗ hát tháng chín) có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì bóc lột quần chồng sao đang.
Thật ra thì chưa chắc đã là tháng tám hay tháng chín vì
sử nhà Nguyễn chép: tháng 10 năm 1828, truyền đổi cách
ăn mặc từ sông Gianh trở ra Bắc. (Quốc triều chính
biên toát yếu, Thuận Hoá, 1998, tr. 188).
Quần không đáy, "vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu,
bên ta thì có bên Tàu thì không", tức là cái váy. Minh
Mạng bắt cả đàn bà đàng ngoài mặc quần, cấm mặc
váy.
Trên lí thuyết thì từ năm 1828 đàn bà cả nước ta đều
phải mặc quần theo ý muốn của nhà vua.
Nhưng thực tế thì ra sao?
Thực tế thì "phép vua thua lệ làng". Đằng sau luỹ tre
xanh, mọi chuyện trong nhà ngoài xóm đều được dàn xếp
theo bộ luật bất thành văn "lệnh ông không bằng cồng
bà". Vua nói vua nghe, váy bà bà mặc. Minh Mạng làm sao mà
đụng được vào cái váy của các bà nhà quê đàng ngoài!
Trong lúc tỉnh thành xôn xao kháo nhau cởi váy mặc quần
thì thôn quê miền Bắc vẫn khư khư giữ cái váy. Cho mãi
đến những năm 1940 vẫn còn cảnh:
Quanh bếp ấm nồi bánh chưng sùng sục
Thằng cu con dụi mắt cố chờ ăn
Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen rức
Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm
(Anh Thơ, Đêm ba mươi tết, 1941)
Cái váy của ta cứ âm thầm "Khóc cười theo mệnh nước
nổi trôi"(Phạm Duy). Nhiều phen được vua yêu, lắm lúc
bị chúa ghét! Cái váy cứ nhẫn nhục bám lấy các bà mà
tồn tại.
Thế mà hai bà Trưng đã tung ra mốt mặc quần từ những
năm 40-43, nghĩa là gần 14 thế kỉ trước khi nhà Minh ra
lệnh bắt đàn bà nước ta mặc quần, gần 18 thế kỉ
trước khi vua Minh Mạng cấm mặc váy!
Đầu thế kỉ 20, đàn bà nước ta "quần phần nhiều mặc
quần sồi, lĩnh thâm, đôi khi cũng có người mặc quần
nhiễu đỏ; ở Nam kỳ và Trung kỳ thì người phong lưu mặc
quần nhiễu trắng, chốn quê mặc quần vải xanh". (Phan
Kế Bính, Việt Nam phong tục, Tổng hợp Đồng Tháp,1990,
tr. 330).
Đến khoảng 1938, dân ta "quần thì chỉ dùng sắc trắng và
nâu. Những người già cả mà giàu sang thì ngày hội hè
tết nhất mới dùng quần đỏ". (Đào Duy Anh, Việt Nam văn
hoá sử cương, sđd, tr. 173).
Hai bà Trưng nhìn xa, đi trước thiên hạ hay cái quần của
hai bà ... có vấn đề?
Bàn về quần, trước hết phải đặt câu hỏi quần là
cái gì? Chết thật! Ngần này tuổi đầu mà không biết
quần là cái gì à?
Quần (chữ hán, bộ y) được Huỳnh Tịnh Của và Đào Duy
Anh định nghĩa là đồ để che phần dưới thân thể.
Tự điển Génibrel dịch chữ quần là pantalon (quần dài),
culotte (quần đùi), jupe (váy đàn bà), vêtement descendant
depuis les reins jusqúaux pieds (đồ mặc che từ eo xuống
đến chân).
Quần được Thiều Chửu dịch là cái quần, cái xiêm.
Đang tìm hiểu cái quần lại bị vướng vào cái xiêm. Vậy
xiêm là cái gì?
Xiêm là áo choàng che trước ngực (Thiều Chửu), áo che
đàng trước (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển), cái váy
(Đào Duy Anh, Từ điển truyện Kiều), đồ bận dưới,
cái củn (củn là đồ bận trên), cái váy (Huỳnh Tịnh Của),
jupe (váy dài), jupon (váy ngắn), vêtement inférieur (đồ
mặc che phần dưới) (Génibrel), manteau (áo choàng) (Gustave
Hue).
Đúc kết các định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng xiêm
là cái áo choàng, áo mặc ngoài. Xiêm ngắn, chỉ che phần
trên thân thể, thì chỉ có một tên gọi là xiêm. Xiêm dài
(che cả phần dưới thân thể) thì ngoài tên xiêm, còn
được gọi là quần, hay váy.
Quần là chữ dùng để chỉ đồ mặc che phần dưới thân
thể. Quần được dùng cho cả đàn ông và đàn bà. Quần
có thể là cái sa rông của người Miên, cái kilt của
người Ecosse ... Đàn ông và đàn bà Tàu đều mặc quần
hai ống, cho nên quần đàn ông hay quần đàn bà Tàu đều
là ... quần (như cách hiểu ngày nay).
Chỉ có cái quần đàn bà Việt Nam mới lận đận, rắc
rối.
Ngày xưa (tạm cho là trước thời thuộc Minh) đàn bà
nước ta không mặc quần. Thế à? Các bà không mặc quần
hai ống như ngày nay mà chỉ mặc váy thôi.
Chữ quần (hán), chỉ đồ mặc để che phần dưới thân
thể của đàn bà Việt Nam ngày xưa, phải được hiểu và
phải được dịch nôm là cái váy để khỏi nhầm lẫn với
cái quần đàn ông.
Điều này đã được tranh dân gian Oger (1909) chứng minh
rõ ràng hơn qua một tấm vẽ đàn bà mặc váy. Tranh
được ghi chú bằng chữ hán nôm "dã phụ y thử quần,
tục danh quần đùm" (váy của đàn bà nhà quê, tục gọi là
váy đùm). Người đàn bà trong tranh mặc váy, do đó chữ
quần (hán) phải được dịch (nôm) là váy. Váy đùm là
váy buộc túm cạp lại.
Dường như chỉ có văn học mới dùng hồng quần hay quần
hồng để chỉ cái váy.
Bốn cột lang, nha cắm để chồng
Ả thì đánh cái, ả còn ngong
Tế hậu thổ khom khom cật,
Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng
Tám bức quần hồng bay phới phới,
Hai hàng chân ngọc đứng song song.
Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy,
Cột nhổ đem về để lỗ không.
(Cây đánh đu, Hồng Đức quốc âm thi tập)
Hai cô gái đánh đu, khoe "tám bức quần hồng". Vậy là
mỗi cô có "bốn bức quần hồng". Hồ Xuân Hương cũng
đưa ra "bốn mảnh quần hồng" trong bài Đánh đu:
( ...)
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng cong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song ...
Bốn bức hay bốn mảnh quần hồng ở đây là cái gì?
Nếu chỉ là cái quần hai ống thì mỗi ống phải xẻ hai.
Ta không có kiểu quần tân kì như thế. Cũng không phải
là một mình cái váy vì không có váy nào lại xẻ tư như
vậy. Chỉ còn cái áo tứ thân (áo tứ thân có 2 vạt
đằng trước, 1 vạt đằng sau) cộng với cái váy mới
hợp thành bốn mảnh quần hồng. Cái áo tứ thân (cái
xiêm của ta) đã được các tác giả gọi là cái quần.
Chúng ta hiểu vì sao Thiều Chửu đã định nghĩa quần là
cái xiêm, và Huỳnh Tịnh Của lại định nghĩa cái xiêm là
đồ bận dưới, tức là cái quần.
Trong bài Chỗ lội làng Ngang Nguyễn Khuyến có nói đến
cái quần đàn bà:
Đầu làng Ngang có một chỗ lội
Có đền ông Cuội cao vòi vọi
Đàn bà đến đấy vén quần lên
Chỗ thì đến háng chỗ đến gối
Ông Cuội ngồi trên mỉm mép cười
Cái gì trăng trắng như con cúi
Đàn bà khép nép đứng liền thưa
Con trót hớ hênh ông xá tội ...
Đàn bà vén quần, hớ hênh, để lộ cả cái gì trăng
trắng như con cúi. Các nhà quan sát có thẩm quyền kết
luận rằng người đàn bà trong câu chuyện mặc váy.
Quần hai ống vén đến gối hay đến háng thì vẫn còn
kín đáo, chưa để lộ bí mật.
Nguyễn Khuyến đã dùng chữ quần theo nghĩa chữ hán,
để chỉ cái váy của các bà.
Hình ảnh vén váy để hở cả cơ đồ còn được thấy qua
tấm tranh dân gian Hứng dừa dí dỏm.
Qua vài thí dụ kể trên thì thấy rằng từ thế kỉ 15
(Hồng Đức quốc âm thi tập) đến đầu thế kỉ 20
(Nguyễn Khuyến) chữ quần đã được văn học Việt Nam
dùng theo nghĩa của chữ hán, để chỉ đồ che nửa dưới
thân thể. Quần của đàn bà (miền Bắc) Việt Nam ngày
xưa là cái váy, cái áo dài (xiêm), chứ chưa phải là cái
quần hai ống ngày nay.
Hồng quần của hai bà Trưng phải được hiểu là cái váy
màu đỏ.
Từ ngày người Pháp cai trị nước ta thì các bà nhà quê
miền Bắc mới dần dần mặc quần hai ống như các ông.
Một số bà tân thời ở tỉnh thành mặc màu trắng. Dân
quê chỉ dùng màu đen hay màu nâu. Ngày nay, cả hai phái
nước ta, phái mạnh và phái đè đầu phái mạnh, đều
mặc quần hai ống, nhiều màu sắc, kể cả màu hồng, màu
đỏ.
Cái váy, cái quần không những đã ám ảnh vua chúa mà còn
đè nặng lên đời sống của đám dân đen.
Người xưa có phương thuật "chữa mắt hột bằng gấu
quần đàn bà".
Quần nào chả là quần, tại sao không dùng quần đàn ông
mà phải dùng quần đàn bà? Chẳng nam nữ bình quyền tí
nào cả! Nam nhi thua thiệt quá!
Thật ra thì phương thuật dùng gấu váy, sau này váy
hiếm, khó kiếm người ta mới thay váy bằng quần, dĩ
nhiên phải là quần đàn bà.
Chữ váy, ngoài nghĩa thông dụng là cái váy đàn bà, còn
có nghĩa khác là nạo vét, lau chùi (curer, nettoyer, tự
điển Génibrel). Váy là dùng vật gì mà vặn xáy (xoáy)
hoặc móc rạ Váy tai nghĩa là móc cứt ráy trong lỗ tai (
Huỳnh Tịnh Của).
Váy (đồ mặc) đồng âm với váy (lau chùi, xoáy móc). Do
đó, giới bình dân đã dùng cái váy để tượng trưng cho
động tác lau chùi. Ai bị đau mắt hột thì lật mí mắt
lên, lấy gấu váy dí nhẹ vào mí là tất cả các hột sẽ
được đánh sạch.
Từ ngày các bà không mặc váy nữa thì người ta dùng
gấu quần. Đứng về mặt chữ nghĩa thì cái quần không
giải thích được ý nghĩa của phương thuật. Phải thông
qua cái váy mới rõ nghĩa.
Quần đàn ông không dính dáng gì đến váy cho nên không
chữa được mắt hột! Quần của các ông thua quần các
bà chứ không phải các bà kì thị các ông!
Xưa kia, "thợ may và thợ giặt không nhận may váy, giặt
váy cho các bà". Pierre Huard và Maurice Durand (Connaissance du
Vietnam, EFEO, Paris, 1954, tr. 178) cho rằng ta bắt chước tục
Tàu. Người Tàu kiêng để lẫn lộn quần áo vợ chồng
còn trẻ, dưới 70 tuổi.
Thuyết âm dương của Tàu e rằng cao siêu quá, vượt quá
xa cái triết lí bình dân của cái váy của ta:
Sáng trăng em tưởng tối trời
Em ngồi em để sự đời em ra
Sự đời bằng cái lá đa
Đen như mõm chó, chém cha sự đời.
Bọn thợ may, thợ giặt sợ cái váy có lẽ chỉ vì họ tin
rằng váy có ma thuật nạo vét của cải, làm hao tài, sạt
nghiệp mà thôi.
Giới trí thức cũng bị váy, quần làm cho vướng mắc
lùng bùng ...
Ngày xưa, "thư sinh, nhà nho kiêng không sờ vào váy, vào
quần đàn bà giữa ban ngày".
Không biết cụ Khổng lúc bé có phải giặt giũ, phơi quần
áo giúp mẹ không?
Nhiều người cho rằng vì váy, quần đàn bà là vật ô
uế nên nhà nho không đụng đến. Giải thích như vậy nghe
không ổn. Cho dù váy, quần của các bà có ô uế thật đi
nữa thì cũng chỉ ô uế vài ngày lúc các bà có tháng
thôi. Còn những ngày bình thường thì quần đàn ông hay
váy đàn bà đã chắc gì cái nào sạch hơn cái nào? Không
riêng gì nhà nho, đến người mù chữ cũng chẳng ai muốn
đụng đến những đồ ô uế.
Nhà nho là người dùi mài kinh sử chuyên nghiệp. Ông nào
cũng đầy một bụng chữ thánh hiền. Ban ngày ban mặt,
nhỡ mà đụng vào cái váy hấp dẫn kia thì còn đâu là
chữ nghĩa nữa! Cái váy sẽ cạo vét, lau chùi sạch sành
sanh cái bụng chữ thì làm sao mà mở mày mở mặt với
thiên hạ được! Có muốn sờ thì chờ lúc nhá nhem hãy
sờ."Tối lửa tắt đèn, nhà ngói cũng như nhà tranh", mèo
nào cũng xám như nhau. Tranh tối tranh sáng thì ... có mắt
cũng như không, còn thấy đường nào mà cạo với vét!
Dân gian có một giai thoại về cái váy.
Chuyện kể rằng ông lí làng kia mới tậu được cái ô
đen. Ông rất hãnh diện, đi đâu cũng che ô để khoe với
dân làng. Một hôm ông vênh vang đi qua chỗ có mấy cô
gái đang làm cỏ ruộng. Một cô hát:
Hôm qua tôi mất xống thâm
Hôm nay tôi gặp người cầm ô đen.
Một cô phụ hoạ thêm:
-Nói thế thì ra người ta ăn cắp cái xống thâm, cái váy
đen của chị về may ô à? Em nhớ là xống thâm của chị
tươi đẹp hơn ô đen kia cơ mà. Để em lên mượn, chúng
mình xem cho kĩ nhé.
Ông lí bầm gan tím ruột định mắng mấy con "vén váy
không nên" kia, nhưng ông chợt nghĩ nhỡ đụng phải bọn
"xắn váy quai cồng" thì thật là nan giải. Nghĩ vậy, ông
lí vội cụp ô, chuồn cho nhanh.
Hải Phòng cũng có một giai thoại tương tự.
Trong một cuộc hát đúm, cô gái tấn công trước:
Hôm qua em mất cái váy thâm
Hôm nay em thấy anh cầm một chiếc ô đen.
Cô gái chanh chua vừa dứt lời, liền được chàng trai
nhã nhặn đáp lễ:
Em nói thế là em cũng nhầm
Hôm qua anh thấy ông đội khăn thâm ra đình
Trong lúc các bà nhà quê phải mất nhiều năm mới bỏ
được cái váy sồi, váy đùm, váy đụp, thì mấy cô ở
thành thị lại hớn hở tung hô cái váy xoè, váy chẽn, váy
cụt của phương Tây.
Thú phô trương ao ước bấy lâu nay! Giờ mới được mân
mê cái váy hiện đại, hiện sinh ... hiện hình!
Khách bên đường sững sờ liếc trộm cái của lạ muôn
màu, muôn vẻ ... Muôn năm!
Thấy mà chóng cả mặt, chỉ ... muốn nằm!
Lyon, 8/2003
oOo
|