|
Contributed by: phuochung |
Views: 5.478
Kỹ sư Sagant Phan
Ai ở gần quận 11 Phú Thọ, Saigon đều không biết nhiều
thì ít đến cư xá Lữ Gia Phú Thọ. Một khu vực gồm
nhiều cư xá rất đẹp, khang trang. Đa số đều dành cho
sĩ quan cao cấp Cộng Hòa ở. Chú tôi nhiều lần chỗ tôi
đi ngang qua đây, chú ghiền cá ngựa còn tôi thì không,
con nít mà, chú chở đi để canh dùm chiếc xe gắn máy
mới mua nhờ trúng cá... ngựa kỳ trước chớ có thương
yêu gì. Lần nào đi ngang qua cư xá Lữ Gia là tôi thích
lắm. Lúc đó chữ Lữ Gia tôi không hiểu là tên của ai.
Sau đó thì biết là tên của một Tể Tướng đời Triệu
Ai Vương.
Vào năm 113 trước Tây lịch, vua là Triệu Minh Vương mất,
thái tử Hưng lên ngôi, xưng là Triệu Ai Vương (cái tên
này nghe không hên rồi, Sầu Ai Khổ Ai là đúng rồi). Lên
ngôi được 1 năm thì vua nhà Hán sai tên Thiếu Quí sang
dụ Nam Việt về chầu phục nhà Hán. Thiếu Quí là một
kép hát hồ quảng (hát bội đó) nguyên là tình nhân của
mẹ vua Triệu Ai Vương là bà Cù Thị. Tỉ tê nói với mẹ
vua nên cho vua con thần phục nhà Hán thì tốt nhất. Cù
Thị chịu liền. Nhưng lúc đó có Tể tướng là Lữ Gia
biết chuyện thì ông liền động binh. Vào dinh vua mà
giết tên kép hát hồ quảng Thiếu Quí, bà Cù thị thấy
tình nhân bị giết nóng lòng liều mạng rồi bị Lữ Gia
giết luôn chẳng lẽ để con bình yên nên Lữ Gia sẵn
gươm làm thịt luôn vua trẻ mới 10 tuổi, lên ngôi chưa
đầy giáp năm.
Chuyện dừng tại nơi đây mà không nói lý do sâu xa của
Lữ Gia, mà sử Việt nói tiếp như sau:
Tể tướng Lữ Gia tôn con trai trưởng của vua tiền nhân
Triệu Minh Vương là công tử Kiến Đức lên ngôi. Tại sao
là công tử trong khi mình là con trai trưởng có nghĩa là
mình là Thái Tử sẽ nối ngôi vua mà? Thì ra ông vua già
ham chơi bời Triệu Minh Vương là Anh Tề lúc còn ở bên
Hán đi ăn chơi xóm bình khang quen được người con gái
đẹp làm nghề ca kỷ là Cù Thị rồi có con, trong khi ở
tại xứ cũ thì đã có vợ và con trai là Kiến Đức. Khi
về nước Việt chấp chánh thì tôn Cù Thị lên làm chánh
hậu rồi gần chết cho con trai tư sinh là Hưng lên ngôi.
Lữ Gia giết xong gia đình gánh hát Hồ Quảng thì tôn phò
trở lại công tử Kiến Đức lên làm vua nước Việt,
lấy tên là Triệu Dương Vương. Vua này lên ngôi cũng
chưa đầy giáp năm thì vua nhà Hán là Hán Võ Đế động
binh. Hán Võ Đế nỗi giận sai Phục Ba Đại tướng quân
đem toàn thể binh lực nhà Hán xuống miền Nam đánh vua
Nam Việt là Triệu Dương Vương cùng Lữ Giạ Năm Canh Ngọ
(111 trước Tây Lịch) thì vua và tôi bị bắt giết. Phục Ba
Đại Tướng Quân đổi tên nước Việt là Giao Chỉ, chia
nước Giao Chỉ làm 9 quận. Cử các quận trưởng là
người Hán sang cai trị ..Đây là nước Việt bị phương
Bắc đô hộ (nghĩa là vua Tàu cai trị gần một ngàn năm),
không cho làm chư hầu với quyền hạn tự trị rộng rãi
hơn. Từ đây trở thành kiếp nô lệ, mà người cai trị
là người Hán với tập tục, lời ăn tiếng nói khác
biệt với người bản xứ, họ bắt học chữ, học nói
tiếng Tàu cho người Việt. Sử Việt gọi là Bắc Thuộc
Thời Đại. Thời Đại này kể từ năm 111 trước tây lịch
đến năm 931 sau tây lịch.
Tại sao Lữ Gia động binh giết vua mà không nghĩ gì đến
sức mạnh của nhà Hán mà lúc đó Hán Võ Đế là một ông
vua khoái đánh giặc nhất, đánh đâu thắng đó? Cái thua
trận với 5 lộ quân do Phục Ba tướng quân làm cho nước
Việt bị xáp nhập vào nhà Hán luôn. Nếu không giết Cù
Thị thì có thể nước Việt vẫn là chư hầu nhà Hán,
còn nay là bị xáp nhập luôn. Sử Việt không luận đến
chuyện hay dở của Lư Gia này.
Nhưng điều này gây thắc mắc cho những người ham nghiên
cứu sử Việt thời cổ đại. Câu chuyện Lữ Gia / Cù Thị
thì sử Việt có ghi tới, còn trước đó thì không. Nhưng
sử Việt lại ghi quá ít, hầu như ai muốn hiểu sao thì
hiểu. Hiểu nghĩa là Nam Việt trước đó là người Tàu
thuộc nhóm dân tộc thiểu số miền sơn cước, hiểu
nghĩa là trước đó dân Việt đã là dân Việt rồi, bị
nhà Hán xua quân cai trị. Cho tới một lúc nào đó thì
chuyện bí mật này được khui ra.
Việt là tiếng chỉ chung cho những cư dân thuộc tộc
Việt ở rãi rác những vùng thuộc duyên hải phía Đông
Nam của Trung Quốc. Thời kỳ Tần Thủy Hoàng thì không có
nhóm này, vì vua Tần đao xóa sạch Lục Quốc (nghĩa là 6
nước lớn nhất thời bấy giờ), nước lớn không có
thì nước nhỏ làm sao có được. Rồi khi nhà Tần suy vong
thì những nước này rục rịch ngóc đầu lên. Rồi trong
thời kỳ Hán Võ Đế thì nhóm này được sử sách lúc
đó chia ra làm 3 phần mạnh nhất miền Nam, họ thuộc
giống dân thiểu số. Ba nhóm đó là: Đông Âu, Mân Việt
và chót là Nam Việt. Riêng 2 nhóm trên thì triều đình
nhà Hán không chú ý lắm vì họ dễ dạy, riêng nhóm Nam
Việt thì họ xem... khó dạy nhất. Đông Âu và Mân Việt
là hậu duệ của Việt Vương Câu Tiễn. Nhóm này có
người con gái đẹp ngàn năm là Tây Thi gái nước Việt.
Không hiểu nhóm Nam Việt có ảnh hưởng di truyền cái
đẹp của Tây Thi này không? Riêng tôi tin là... có phải
không? Lúc đời Tần thì nhóm này bị lập ra quận Mân
Trung. Cuối Tần thì những nhóm này rục rịch khởi nghĩa
chống Tần, do sự thống lãnh của 2 người cách mạng là
Vô Chư và Dao Toàn cháu đích tôn của Việt Vương Câu
Tiễn, toàn thể 3 nhóm này theo cuộc khởi loạn của Ngô
Nhuế mà chống Tần. Nhà Hán do Hán Cao Tổ (Lưu Bang)
thành lập phong cho Vô Chư làm Mân Việt Vương, coi đất
Mân Trung, lập đô thị tại Trị Trung (nay là quận Hiếu
Quan, tỉnh Phúc Kiến bên Tàu), phong Dao Toàn làm Đông Hải
Vương, đóng đô tại Đông Âu. Nên sử gọi là Đông Âu
Vương. Đời vua Hán Cảnh Đế, Ngô Vương Lưu Tỵ gây loạn
"7 Nước" lúc đó Đông Âu tham dự chuyện này chống Hán
Cảnh Đế, rồi Lưu Tỵ bị thua chạy đến Đông Âu để
ẩn nấp thì bị vua này trở mặt, giết chết. Dâng thủ
cấp Lưu Tỵ cho Hán Cảnh Đế để mà xóa công chuộc
tội, vua Hán tha cho vua Âu Việt. Còn con trai Lưu Tỵ chạy
đến Mân Việt xin trả thù cho cha mà đánh vua Âu. Mân
Việt động binh đánh Âu Việt. Vua Âu Việt bị thua chạy
đến nhà Hán xin cầu cứu. Lúc đó vua Võ Đế còn nhỏ
tuổi 8 tuổi liền hỏi cậu là Võ An hầu Điền Phần. Võ
An Hầu tâu rằng: "Người Việt đánh nhau là chuyện rất
thường tình như cơm bữa, bệ hạ không cần nhọc binh
ngày kia thiên hạ sẽ về bệ hạ hết. Người Việt đánh
nhau hoài thì mình càng lợi". NHưng Võ Đế là vị vua có
tài, ông ta ra lệnh cho Thái Thú quận Cối Kê (nơi phát
tích nước Việt) đem quân đánh Mân Việt. Quân chưa tới
thì Mân Việt xin đầu hàng. Quân nhà Hán rút về, rồi 6
năm sau Mân Việt động binh đánh thị oai xứ Nam Việt. Nam
Việt cầu cứu nhà Hán. Võ Đế sai hai đạo quân đến
đánh. Quân Hán chưa tới thì nước Mân Việt có đảo
chánh giết vuạ Võ Đế lập cháu Vô Gia là Dao Quân làm
Việt Dao Vương, lập Dư Thiện làm Đông Việt Vương. Như
vậy từ đó nước Mân Việt bị chia làm hai, kể luôn Nam
Việt là 3 nhóm. Vua Võ Đế xuống lệnh cho Nam Việt phải
tuân phục nhà Hán.
(Đây là phần nhập đề của sử Việt nước ta là Lữ
Gia giết Cù Thị / Ai Vương mà chống lại Võ Đế).
Sách Tàu nói về nước Nam Việt như sau :
...Nam Việt là một vùng đất phì nhiêu hướng Nam, gần
biển giáp với 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay.
Lúc Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ đã lập tại
đây 3 quận: Quận Quế Lâm, quận Nam Hải và Tượng
Quận. Vua Tần cho những người Trung Quốc phần Mông Cổ
xuống sinh sống tại khu vực này. Đây cũng là một phần
chứng minh là họ Trần của chúng ta phát xuất từ Mông
Cổ bên Tàu (xin xem lại toàn tập dã sử của Trần đại
sĩ, hiện xuất bản khá rộng rãi tại Hoa Kỳ. Toàn bộ
trường thiên dã sử dầy trên dưới 6000 trang, chia là 8
bộ. Chính vị Bác sĩ Trần đại sĩ này có duyên đến
tận nước Tàu, nghiên cứu vừa công vừa tư tại đây
trên 5,6 năm trường. Ông biết đọc và viết chữ Hán
thuộc loại cổ. Chính ông xác nhận tổ nhà Trần nhánh
lớn của ông có liên quan đến Trần Hưng Đạo đều có
gốc phát ra từ Mông Cổ. Hiện nay ông hành nghề tại
Paris/France). Đến cuối đời Tần, quận trưởng Nam Hải
tên là Nhâm Ngao lâm bệnh, trước khi mất ông truyền
chức cho Triệu Đà (lúc đó Triệu Đà đang làm huyện
trưởng huyện Long Xuyên, thuộc quận Nam Hải). Triệu Đà
gốc người Chân Định (nay thuộc tỉnh Hà Bắc gần Hồ
Động Đình bên Tàu). Sau khi nước Tần mất, lợi dụng
thời cơ T.Đà liền đem quân đánh lấy luôn quận Quế
Lâm và Tượng Quận, nghĩa là thôn tính hết toàn thể
giống dân Việt đang cư ngụ tại 3 xứ đó. Triệu Đà tự
xưng là Nam Việt Võ Vương. Nhà Hán mới thành hình, không
muốn đánh giặc nữa, nên sai Lục Giã người tài giỏi
biện thuyết thì Triệu Đà chịu thần phục nhà Hán. Sau
đó Lữ Hậu vợ vua Cao Tổ giết hại Hàn Tín và tỏ ra
hống hách chuyên quyền thì Triệu Đà động binh không
muốn thần phục nhà Hán mà muốn đánh luôn triều đình
nhà Hán. Khi vua Hán Văn đế lên ngôi thì lại phái Lục
Giã đi thương thuyết một lần nữa và ban cho Triệu đà
nhiều quyền rộng rãi hơn lúc trước, dĩ nhiên Triệu
Đà đồng ý lần nữa. Sau này Triệu Đà về già nhường
ngôi cho con là Triệu Hồ. Lúc này nhà Hán rất mạnh và
họ có một chiến thuật mới là không muốn cho các chư
hầu có dịp phản loạn nên họ dùng chính sách giữ con tin
của các chư hầu. Nước Nam Việt không thoát khỏi vụ đó.
Sứ giả nhà Hán đến nước Việt khuyên Triệu Hồ cho con
trai trưởng là Triệu Anh Tề sang nhà Hán mà học tập
phong tục cùng nền văn minh. Đó là năm 135 trước tây
lịch, Thái tử Anh Tề từ một nước nhỏ cực nam Trung
quốc, đến thành đô phố hội thì chuyện học đầu tiên
là ăn chơi nhảy đầm (y hệt như chuyện vua Bảo Đại lúc
qua Pháp du học vậy). Rồi Thái tử Anh Tề quen được cô
gái... điếm tên là Hàm Đăng Cù Thị (ta gọi là Cù Thị),
rồi Anh Tề ăn ở với cô gái phong trần này có đứa con
tên là Hưng. Khi nghe tin vua cha là Triệu Hồ chết thì vua
Hán Võ Đế cho thái tử về cố quận mà nối ngôi cha,
nhớ nàng kỷ nữ bên nước Hán, vua Việt trẻ tuổi bèn
gọi Cù Thị về nước phong làm Hoàng hậu (đây là một
phần sai lạc với cổ sử nước Việt ta là thái tử Anh
tề trước khi qua nhà Hán thì đã có vợ và con tại nhà
rồi, sau đó vua mệ.. gái điếm bên Tàu là Cù Thị rồi
có con). Vua ăn chơi Anh Tề bệnh chết, chắc trúng gió
quá, thì con là Hưng lên nối ngôi vua trẻ phong mẹ mình
làm Hoàng Thái hậu.
Kẹt một điều là lúc này triều đình Nam Việt quyền
hành năm bởi tay Tể Tướng sắt máu Lữ Giạ Tể tướng
Lữ Gia rất ghét bà mẹ vua gốc người ca kỷ Cù Thị này
nhưng chưa có dịp xuống tay. Trở lại triều đình Hán Võ
đế, sau khi ký hòa ước bất động binh với Hung Nô,
muốn gỡ thể diện với bá quan thì Võ đế nghĩ một
cách là thị uy với chư hầu. Võ Đế liền thị uy với Nam
Việt trước vì nước này đang có ấu chúa khù khờ. Vua
bèn phái An Quốc Thiếu Quý cùng đoàn tùy tòng xuống
phương Nam, để ngừa chuyện hậu sự vua ra lệnh luôn
Phục Ba Đại tướng quân là Vệ U¨y Lộ Bác Đức chuyển
đại binh từ Cối Kê xuống Quế Dương chờ lệnh.
Trở lại chuyện Thiếu Quý là cái gì trong đoàn sứ giã
rần rộ này về phương Nam. Anh ta là một tên kép hát
đẹp trai tại thành đô, là người tình cũ của Cù Thị lúc
còn trong phấn trang lầu hồng kỷ viện, anh ta rất đẹp
trai chuyên sống sau gấu quần đàn bà, có nghĩa anh này
là một loại Casanova tương tự như điếm đực vậy.
Đoàn xuống phương nam Nam Việt thì được Cù Thị chờ
đó nhiều ngày rồi. Tình xưa trở lại, chàng Thiếu Quý
liền trổ tài riêng Casanova của mình cho nàng Cù Thị xem
còn nhớ nghề xưa chăng? Chuyện này làm nực... lồng
ngực của lão tướng già khó tánh Lữ Giạ Tối ngày cứ
thấy cặp điếm đàng ẹo tới ẹo luôn trong sân rồng
rồi sau hậu cung nữa thì Lữ Gia điên tiết. Rồi đến
một ngày sau khi nghe vua nhỏ Triệu Việt Vương định dâng
nước Việt cho nhà Hán rồi bỏ tên Nam Việt luôn. Nên
Lữ Gia liền động binh Thảo Căn Trảm Xà. Lữ Gia truyển
hịch kể tội dâm loàn của Cù Thị cùng hành động bán
nước của vua nhỏ. Đoàn sứ giả vua Tàu liền đem dũng sĩ
định bắt Lữ Gia, Lữ Gia ra tay trước, rồi giết luôn
cặp điếm đàng Cù Thị và Thiếu Quý đang ngủ say trong
cung điện. Lữ Gia diệt sạch dòng họ điếm đàng rồi
tôn con trai trưởng của vua trước lên ngôi. Lữ Gia đánh
bại một đạo quân tiền sát nhà Hán. Lúc này Hán Võ đế
tức giận ra lệnh thêm 4 cánh quân nữa cùng một cánh
quân sẵn của Phục Ba Tướng Quân, tổng cộng là 5 đạo
quân. Đạo quân thứ nhất là của Phục Ba Tướng Quân đang
đóng từ Quế Dương, đạo quân thứ nhì là Dương Bộc
từ Dự Chương xuống Kinh Thủy, đạo thứ ba do Nghiêm Đạo
từ Linh lăng xuống Ly Thủy, đạo thứ tư do hạ lại Giáp
dùng bộ binh rồi thêm thủy quân xuống sông Tường Kha
Giang chờ lệnh.
Có nghĩa là dụng binh đa số là thủy binh, tại sao vậy?
Tại vì Nam Việt có Hồ Động Đình bát ngát muôn dặm,
giỏi thủy chiến. Năm đạo quân hướng về thủ đô của Nam
Việt là Phiên Ngung (tôi còn nhớ ngày xưa rất thích đọc
truyện Lửa Cháy Thành Phiên Ngung, rồi sau đó hình như
gánh hát Hoa Sen hay Đoàn hát Dạ Lý Hương gì đó đóng
trọn vở tuồng Lửa Cháy Thành Phiên Ngung. Lúc nhỏ tôi
rất thích tuồng này, tôi cũng tưởng là tuồng tích của
Tàu y như tuồng Tôn Tẩn giả điên hay là Triệu Khuông
Dẫn dát thượng tướng. Nào dè chuyện tuồng tích Lửa
cháy thành Phiên Ngung là chuyện của dân Việt, có nghĩa
là dân của tôi cơ đấy... nhưng trận chiến thì nằm ở
chỗ nào mà tôi coi bản đồ nước VN từ Hải Phòng xuống
Cà Mau thì không tìm thấy thành Phiên Ngung, tên thành nghe
như thuộc dân Hồ tộc vậy. Vì chữ Phiên hay chữ Hồ
Chiêu quân cống Hồ. Nay gần 45 năm trôi qua thì nước
Việt ta lại có tên mới là thành Hồ, lấy ra từ chữ
Saigon hay gọi văn chương là thành phố Hồ hay Hồ thành
cũng vậy. Đúng là lịch sử lập lại cùng một tên.)
Nghĩa là nhà Hán dùng Thủy binh mà đánh thủ đô Nam Việt
là Phiên Ngung. Như vậy thành phố này xung quanh là có
sông lớn bao quanh, điều này cũng chứng tỏ là Hai bà
Trưng cũng có trận chiến kinh hồn đẫm máu trên sông
nước. Bà thua nên nhảy xuống sông tự vận. Lật lại bản
đồ nước trung Hoa thời đó hay hôm nay, hồ Động Đình
là có đủ khả năng địch thủ dùng thủy quân mà đánh.
Trở lại phần trên nhà Hán dùng 5 lộ quân, mà 4 lộ quân
đều là thủy quân, nghĩa là họ dùng 4 đường sông nước
mà chuyển quân. Sông phải lớn rộng hơn sông Hồng của
Hà Nội nữa nên quân mới đủ chỗ chèo chống mà tiến
quân. Bốn lộ thủy quân cùng về Phiên Ngung. Đêm đó
lửa cháy rần trời, thuyền đánh nhau bằng tên lửa, nỏ
tên v.v... kéo dài đến khuya thì thành Phiên Ngung bị thất
thủ. Tể tướng Lữ Gia liền phò vua Nam Việt Triệu kiến
Đức chạy trốn. Nhưng bị đạo quân bộ binh thứ năm đang
rình sẵn của Phục Ba tướng quân bắt sống. Nhà Hán
diệt nước Việt, chia nước Việt ra làm 9 quận. Đồng
thời nước Đông Việt lợi dụng thời cơ tiếp tay nhà
Hán mà đánh Nam Việt, thấy binh sĩ nhà Hán mệt mỏi thì
vua nước Đông Việt Dư Thiện định phản Hán mà chiếm
luôn đất Nam Việt. Quân sĩ Hán sau một thời gia thua
chạy, thì trong triều dình nước Đông Việt có cách mạng
lật đổ nhà vua mà thần phục nhà Hán. Hán Võ Đế ra
lệnh chiếm luôn nước Mân Việt. Như vậy vào năm niên
hiệu Nguyên Phong (109 trước Tây Lịch) nhà Hán xóa sổ
danh từ 3 nước, mà sử sách gọi là Tam Việt (Mân Việt,
Đông Việt, Nam Việt). Vua Võ Đế ra lệnh lưu đày tất
cả những thành phần trai tráng từ 16 đến 35 tuổi vào
đất Giang Hoài. Rồi cho quân lính nhà Hán được quyền
tự do lấy gái Việt, sanh con đẻ cái càng nhiều càng
tốt. Phong tục, ngôn ngữ giao thiệp, thư từ công văn,
mở trường dạy học do các thầy giáo từ nhà Hán gởi
xuống.
Một điều nên nhớ lại danh từ Nam Việt vẫn còn dược
dùng cho đến đời vua Gia Long gần đây, vua Gia Long sau khi
thống nhất sơn hà từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, thì
vua xin nhà Thanh phong chức vương (thua chữ Hoàng Đế một
bực) tên nước là Nam Việt. Sau một thời gian dài suy
nghĩ vua nhà Thanh hơi ớn chữ Nam Việt vì từ đó đến
giờ dân xứ này (Nam Việt) đều dạy một bài học cho vua
Tàu hết. Đời vua nào cũng đều học bài học của dân
nước Nam Việt. Suy nghĩ như vậy nên vua nhà Thanh cho sửa
chữ Nam Việt thành VN.
Từ đó đến giờ, từ vua Gia Long thì dân Việt mới sử
dụng chữ VN. Trở lại trong giấy tờ nhà nước gởi đến
vua Thanh Càn Long thời vua Tây Sơn Nguyễn Huệ, đều dùng
chữ Nam Việt mà vua Thanh Càn Long không thấy có gì trở
ngại, đồng ý cho xài chữ Nam Việt tiếp.
Ngày hôm nay chúng ta thấy hai cụm từ Nam Việt và VN không
có gì khó chịu phải không? Nhưng nếu rành về chữ Hán
Nôm thì hai cụm từ này rất xa nhau một trời một vực.
Danh từ riêng Nam Việt Vương nghe mạnh hơn nhiều nó có
nghĩa là một Vì Vương ở phương Nam, còn phương Bắc
thì thuộc vua khác, còn phương Nam phải là ta đây. Nghe
như vậy có oai không? Nó có nghĩa là phương Trời nào
cũng có một vị anh hùng đang chống gươm chờ bạn hiền
đến chơi. Phương Bắc thuộc vua Tàu thắt tóc bím, chạy
lạch xạch như con vịt Tàu vậy, còn phương Nam ta có voi đi
rung rinh cả Trời Đất không oai sao. Vua Tàu cưỡi ngựa
xích thố chạy ngàn dặm nhanh như cơn lốc nhưng gặp voi
của ta thì khớp vó, hất chủ té xuống đất cái đụi,
rồi bị trói luôn. Voi trận cao gần bằng nhà hai tầng,
tiếng hét của voi nghe rùng rợn lắm. Hiện giờ có nhiều
người, kể luôn tác giả, vào sở thú chỉ nhìn voi chớ
chưa dám ôm voi mà chụp hình, nó to con quá. Xứ Việt ta
có voi rất nhiều, chỉ thua xứ Ai Lao Vạn Tượng mà thôi,
nhưng chúng ta dạy được voi ra trận mà đánh giặc rất
giỏi. Còn bên Ai Lao ông tổ dạy voi ra trận chính là
Thượng tướng Phạm ngũ Lão. Tướng Phạm ngũ Lão dạy
đàn voi cho vua Ai Lao đánh giặc, dạy voi nghe tiếng AiLao
những chữ Ai Lao là quẹo trái, quẹo phãi, tiến lên, nhào
tới... nhưng có một chữ Việt là tướng Phạm ngũ Lão
không chịu dạy quân sĩ Ai Lao. Tiếng đó là QUỲ XUỐNG.
Thành thử ngày kia Phạm ngũ Lão về nước, rồi ngày kia
quân sĩ Ai Lao xua quân tiến đánh nước Việt, thế mạnh
như chẻ tre, khi Thượng tướng Phạm ngũ Laõ ra trận, ông
chỉ hét một tiếng trước ngàn voi Vạn Tượng hai chữ
QUỲ XUỐNG thì ngàn voi lật đật quỳ xuống hết, hất cả
chủ lẫn thợ nài voi xuống đất cái ịch, quân ta tà tà
tiến lên trói cả chủ lẫn thợ lại. Thế là xong. Trở
lại tiếp phần trên, danh từ Nam Việt nghe oai hơn, còn
danh từ VN do vua nhà Thanh phong cho nghe yếu đi một chút,
nó có nghĩa là người Việt ở phương Nam. Chính vua Gia
Long xin Hoàng đế nhà Thanh sắc phong cho chữ Nam Việt,
Hoàng Đế nhà Thanh không thuận, mà ban cho chữ ngược
lại là VN.
Bảo đảm là vua Gia Long bực mình lắm, nhưng làm gì hơn
khi mình xin xỏ người ta mà?
Phần câu chuyện Lửa cháy Thành Phiên Ngung thì lịch sử
ta không nhắc đến, nhưng trong tuồng cải lương tại Saigon
thì có nhắc đến. Cho dù các vua Tàu đều không trọng
dân mình, họ xem mình như phiên di ngoại quốc, văn hóa còn
thua kém họ, hàng năm phải triều cống họ. Nhưng người
Việt chúng ta có một loại Gen DNA là sắc đẹp. Gene DNA
này khắp nơi trên thế giới, cùng lịch sử trên thế
giới cũng công nhận. Đó là Tây Thi gái nước Việt mà.
Thử nhìn một cô gái Việt thướt tha trong tà áo dài
trước gió Xuân hay gió Thu, đẹp hơn người con gái Tàu
yểu điệu trong tà áo Sườn Xám đưa hai cái giò ra làm
chi vậy?
oOo
|
|