|
Contributed by: phuochung |
Views: 3.728
Việt Hải
"Tôi viết lên đây với tất cả chân thành của lòng tôi
trao em.
Ngày nào đã quen nhau, vì chung hướng đời,
mình trót trao nhau nụ cười.
Và tình yêu đó, tôi đem ép trong tim,
Dù bụi thời gian có làm mờ đi kỷ niệm của hai chúng
mình.
Tôi cũng không bao giờ, không bao giờ quên em..."
* * *
Vâng, đó là chuyện tình của tôi và Thùy Dung rất đẹp
và lưu luyến như khúc hát "Không Bao Giờ Quên Em" của
nhạc sĩ Hoàng Trang. Chuyện bắt đầu khi chúng tôi chia
nhau mối tình hàng xóm trên con đường Phan Thanh Giản năm
xưa. Thùy Dung là cô láng giềng của tôi, nàng nhỏ hơn tôi
nhiều tuổi. Khi trước tôi quen với chị nàng, chị nàng
sang Pháp du học, theo thời gian qua tôi buồn bã, nàng thế
chị nàng trong sự trống vắng của tâm hồn tôi.
Ngày bi thảm 30-04 đến, gia đình hai chúng tôi đều chia
chung số phần hoạn nạn chia ly, đồng khổ như nhau. Cha
tôi đi tù ngoài bắc Việt. Cha nàng may mắn hơn thoát
thân ra xứ ngoài, chị nàng bảo lãnh sang Pháp. Mẹ tôi
thấy tình trạng Saigon khó sống nên bà quyết định dọn
về quê tôi, là Tây Ninh. Sau đó mẹ tôi rủ mẹ Thùy Dung
dọn theo về Tây Ninh dễ sinh sống hơn tại Saigon. Mặc dù
cha nàng khuyên đem gia dình về Long An. Mẹ nàng xem mẹ tôi
như người chị lớn của bà. Hai bà thật sự mến nhau, mẹ
Thùy Dung đưa gia đình bà theo.
Hiếu Thiện là một quận trong tỉnh Tây Ninh, nó còn có
tên là Gò Dầu Hạ, từ đây lên Gò Dầu Thượng không xa
lắm và sẽ sang biên giới xứ Chùa Tháp Cao Miên. Mẹ tôi
có ý định như vượt biên tìm tự do hay sao đó mà bà
muốn đem con cái về đây. Là con trai lớn tôi phụ mẹ
nhảy ra đi làm kiếm tiền lo cho gia đình. Tôi được
người chú bà con cho một chân giúp việc là thợ hàn gió
đá. Khi CS về người ta sử dụng xe đạp làm phương tiện
di chuyển nhiều hơn, chúng tôi hàn sườn xe đạp, xe
Lambretta chở hàng, xe đò là những mối hàng thường
xuyên. Về phần người bạn láng giềng của tôi thì Thùy
Dung về quê tôi thì mẹ nàng vốn khéo tay mở quán ăn tạm
thời sinh sống. Về sau này chị nàng từ Pháp gởi tiền
mẹ phụ giúp, nên mẹ nàng mở tiệm may vá. Rồi Thùy Dung
giúp mẹ công tác may vá ngoài giờ học rạ
Có những chiều chúng tôi hai đứa đạp xe đạp băng qua
cầu đúc sắt uy nghi ở khúc sông Vàm Cỏ Đông trên
tuyến đường lên Gò Dầu Thượng, hai bên bờ đê,
đồng cỏ xanh tươi, ruộng vườn bát ngát, sao mà quá thơ
mộng trong tôi! Chúng tôi thường ghé vào quán nước gần
bên bờ sông, mà tôi nhớ có hàng cây dừa bao quanh nó,
nên chủ quán cho luôn nó cái tên quán là "Cây Dừa", phía
sau quán là những bàn ghế cho khách ngồi ngắm cảnh bờ
sông thiên nhiên, phong cảnh xung quanh thật trữ tình, nó
lôi cuốn hấp dẫn những buổi hẹn hò trai gái như chúng
tôi. Chị chủ quán rât vui tính, rất văn nghệ cho chúng
tôi nghe lén "nhạc vàng" thõa thích khi quán vắng khách,
những bài nhạc mà các ca sĩ Thanh Tuyền, Phương Dung hay
Giao Linh được người dân hiền lành thôn quê yêu thích
lắm. Thùy Dung yêu âm nhạc, nàng thường yêu cầu ca hai
bài nhạc tủ của nàng là "Sao chưa thấy hồi âm" của nhạc
sĩ Châu Kỳ và bài "Không bao giờ quên anh" của nhạc sĩ
Hoàng Trang. Những chiều vắng bên kỷ niệm xưa ngồi cạnh
hàng dừa sát mé sông có gió thổi mát rượi tâm hồn.
Tôi mượn anh chủ quán cây đàn guitar, tôi thường đàn ca
cho Thùy Dung nghẹ
"Theo năm tháng hoài mong
thư gởi đi mấy lần
đợi hồi âm chưa thấy
em ơi nhớ rằng đây
còn có anh đêm ngày
hằng thương nhớ vơi đầy
Ngày đi mình đã hứa
toàn những lời chan chứa
còn hơn gió hơn mây
mỗi tuần một lần thư
kể nghe chuyện sương gió
kể nghe niềm ước mơ
Nhưng anh vắng hồi thư
thế là em hững hờ
hoặc là em không nhớ
anh đâu khác người xưa
ngày lẫn đêm mong chờ
tình yêu nói sao vừa
Từ lâu đành xa vắng
đời trăm ngàn cay đắng
hỏi em có hay không
chỉ cần một hồi âm
là anh mừng vui lắm
cớ sao em phụ lòng..."
("Sao chưa thấy hồi âm", Châu Kỳ)
Thùy Dung chăm chú nhìn tôi mà nàng trông xao xuyến trong
nét xinh xắn của lứa tuổi vừa lớn. Ngày xưa tôi quen
với chị nàng, nàng còn bé lắm. Chị nàng xuất dương du
học có người khác rồi quên tôi. Tôi thất tình chị nàng
một thời gian dài. Có những chiều lúc trước 75, tôi
vác đàn ra trước hiên nhà ca như đi trên dòng sông
Tương, mà lòng tưởng nhớ đến người yêu cũ. Có lẽ
vì thấy tôi chung thủy với chị nàng nên nàng thương tôi
chăng ? Dù sao có Thùy Dung đã lấp cái khoảng trống hư
không trong tâm hồn tôi, nàng cho tôi quên bớt đời sống
cô đơn này, nhất là hoàn cảnh của xã hội mới xung quanh
tôi. Nàng cho tôi hình ảnh của chị nàng. Nàng giống chị
nàng trong gương mặt, đôi mắt, làn tóc và nụ cười.
Tôi nhủ thầm đó là tất cả những gì tôi cần nàng trong
tim tôi.
Đời sống ở quận lỵ nhỏ rất dễ thương vì mọi
người như quen biết nhau, thân nhau, tình cảm đậm đà
hơn, không như ở đô thị lớn vốn đông đúc, xô bồ.
Nhóm bạn chúng tôi vài đứa lui tới trao đổi tin tức
thân nhân nước ngoài mà mơ ước có dịp vượt biên tìm
tự dọ Một hôm anh Sơn, người anh bà con tôi câu được
mấy con cá lóc, anh cho nướng cá bao đất sét. Món cá
lóc nướng cuốn bánh tráng vẫn là món ngon đặc sản
đồng quê, khi mà bao thứ rau ghém xanh tươi được ăn
kèm. Thùy Dung và tôi đều mê món này, người thủ đô
hầu như xa lạ với món ăn bình dân như vậy. Lột bỏ
lớp đất sét nung ra là ta có thịt cá tươi nóng và thơm
ngọt. Ăn cá nướng hôm đó bọn chúng tôi bị Tào Tháo
đuổi vì chột bụng, có lẽ vì món mắm nêm hay sao đó.
Trực em trai anh Sơn kéo tôi, Thùy Dung và Thu Thủy, cô bạn
láng giềng của Trực, đèo nhau đạp xe xuống Xóm Đình đi
cầu cá. Thôn quê không đủ tiện nghi như thành phố, nên
người dân phải nhờ vã thiên nhiên, sống đâu thì quen
đó thôi. Nhìn hai dãy cầu tiêu lộ thiên tọa lạc chơi
vơi giữa bầu trời vùng quê thơ mộng, tâm hồn văn
nghệ tôi đâm ra dâng tràn. Đi càng sát lại cầu ao; Trời
ơi, những chú thím cá tra đang nhào lộn chụp banh thật
điêu luyện, thật nghệ thuật, trong sóng nước nhấp nhô
đó bầy cá chụp những quả bóng từ trên cao rơi xuống.
Tôi nhìn cái bụng trắng phếu, trắng nỏn nà, trắng rửng
mỡ, trắng béo ngậy vị giác của đàn cá tra, tôi chạnh
nhớ lại món cá nướng hồi nãy mà ai cũng dành ăn cái
bao tử cá, nơi được xem là nhất dương chỉ khi vừa
nhai, vừa thử dộ dòn kèm hương vị thơm thọ Tôi thoáng
nghĩ ai sẽ ăn bao tử của đám cá này nhỉ. Nhưng hẳn phải
có người ăn vì người ta nuôi bao năm nay rồi. Trực làm
đứt khỏang sự suy tư bâng quơ của tôi, nó kéo tay tôi
bước lên cầu thang đi trên cầu cá. Đường đi không
lớn lắm, lại ngập nghềnh, nếu đi không cẩn thận thì
có thể là đường đi không đến như chơi. Tôi nghe kể
thỉnh thoảng có người tuột cầu ao, nghiã là rơi tõm
xuống hồ cá tra này. Trực ra dấu bên cầu nữ cho Thủy
và Thùy Dung đi vào cầu, Thùy Dung chưa quen còn bỡ ngỡ
như tôi, tôi thấy Thủy đi trước kéo nàng theo. Bốn
đứa đã an vị. Cầu nam đối diện cầu nữ, khoảng cách
chừng mười thước, cửa khép kín lại thì chẳng ai còn
thấy ai, bây giờ là giờ phút thiêng liêng mà hồn ai
nấy giữ thôi, hoạ hoằng chỉ có đàn cá tra bên dưới
ngoi đầu đầu lên mặt nước ngoe nguẩy, vẫy đuôi như
van lơn chúng tôi hãy bắt đầu show hát. Cầu cá là sân
khấu có bầu trời lộ thiên quang đãng bên trên, bên
dưới có gió thổi vi vu mát cả một trời cùng với đám
khán giả ngoi đầu lượn trên mặt nước chầu chực chờ
đợi. Tôi nghĩ thầm thế là cá lóc nuôi cá tra vậy.
Phía trước mắt tôi là cánh cửa thô sơ có ghi dấu kỷ
niệm của hai ông họa sĩ Bảy Hớn và thi sĩ Ba Bầu nào
đó, họa sĩ vẽ hình gương mặt người con gái tóc xõa và
dòng chữ graffiti là:
"Thu Loan, giờ này em ở đâu?
Ghét người phụ rẫy
Hận kẻ bạc tình
Bảy Hớn"
Bên dưới là thơ graffiti của ông thi sĩ lạc quan hơn trong
tình trường, không như ông họa sĩ:
"Nhớ người em gái Minh Phương,
Gái một con trông mòn con mắt
Trai một con lắt nhắt yêu hoài"
Í chà, tôi trộm nghĩ "lắt nhắt" yêu nhau như vậy thì
"người em gái" có thể không còn trông mòn con mắt nữa
đâu. Tay tôi cầm mấy tấm giấy báo cũ mà Trực chia cho
công tác vệ sinh. Chàng không quên dặn dò trước khi dùng
là phải vò cho giấy nhàu ra, cho thật mềm thì khi xử
dụng mới êm êm, mới phê được. Tôi chú ý những mảnh
báo cũ màu vàng vọt này, có lẽ nó được in từ thời
nào đó, lâu lắm rồi, và thôi có còn hơn không, tôi nghe
nói người ta đi rừng thì toàn xài lá cây thiên nhiên cho
công tác vệ sinh thôi. Tôi đọc mẫu báo trên tay tôi
đăng phóng sự con ma cầu cá tra, nó hấp dẫn óc hiếu
kỳ của tôi. Tôi nghe như luồng gió mát len lỏi vào tâm
tự Thật vậy tôi linh cảm thấy phần dưới của mình
được quạt mát lạnh như mặt nước hồ lấp lánh cả
một khung trời huyền bí của thiên đàng cá trạ Đọc
truyện thì tác giả nhắn coi chừng đừng quên khi đi cầu
cá mà thả hồn theo sóng nước thì ma gia dưới hồ sẽ
kéo chân. Tôi rùng mình khi tưởng tượng ra cái vòi bạch
tuột bên dưới kéo mình đầm người xuống làn nước
kiạ Chắc là hằng trăm con cá sẽ cắn mình khắp nơi
đến nhột nín thở. Nơi nào nhậy cảm nhất chắc sẽ
nhột nhất. Bọn thanh niên chỉ sợ nhất là mất của gia
bảo ngàn vàng mà trời ban, không thể đánh mất tại cầu
cá Xóm Đình này. Trăm lần không, vạn lần không... trong
sự suy nghĩ của tôi.
Mọi người xong xuôi chờ tôi. Trực hối thúc dục tôi vì
trời về chiều, màu nắng đã nhạt dần rồi. Tôi đành
giã từ đàn cá luyến lưu và hẹn chúng khi khác.
Rồi một ngày kia nàng cho tôi biết gia đình nàng sắp
được sang Pháp đoàn tụ với cha và chị nàng. Chúng tôi
trò chuyện lâu trong quán Cây Dừa. Nàng hứa trấn an tôi
là khi nàng sang Pháp nàng tìm cách mang tôi ra xứ ngoài.
Tôi nói tôi rất sợ sự lập lại của quá khứ như chị
nàng đã làm với tôi. Nàng khóc bên cánh tay tôi và hứa
là nàng không phải là chị nàng. Tôi xoay sang ôm đàn, cất
khúc ca "Chia Ly" trong nỗi buồn tan tác:
"Em,
Phút giây cuối cùng
Mình còn lại gì?
Em, hãy nói đi em
Dẫu chỉ một lần
Không bằng ngấn lệ tràn
Ánh mắt long lanh
Tim giăng sầu thương
Anh,
Đây câu cuối cùng
Quyến luyến chia tay
Môi hôn ân tình
Xa nhau không đành
Dù ngày mai hai ngã
Vấn vương còn nhiều
Xót xa còn nhiều
Khi vẫy tay giã từ
Khói sương mịt mờ
Tình sầu lãng đãng
Ngân khúc hát yêu thương
Ái ân nhạt nhòa
Dư âm đậm đà
Đường trần chia hai ngã
Khiến mỗi ngày một xa
Đường chia hai hướng...
("Chia Ly", Hàn Sĩ Nguyên)
Hôm gia đình nàng ra đi, mẹ tôi và tôi xuống sân bay Tân
Sơn Nhất tiễn biệt gia đình nàng. Hai bà mẹ ôm nhau khóc
và an ủi chúc cho nhau may mắn, trong khi tôi bịn rịn cố
ngăn lệ lòng khi nhìn nàng khóc ngấn lệ đầy vơi. Mẹ
nàng rất thương mẹ tôi trong tình chị em như đã nói. Bà
thường cho quà cáp, thuốc men cho mẹ tôi đi thăm nuôi cha
tôi. Tình cảm bạn bè của những ngày sau 75 như vầy rất
hiếm có sự mặn nồng vì thời thế. Người ta lo âu vì
cuộc sống khó khăn, nên người ta có khuynh hướng thủ
đắc cho riêng mình hơn là cho rạ Ngược lại mẹ tôi cũng
thường giúp đỡ mẹ nàng từ trước và cũng như sau này.
Do đó mẹ Thùy Dung mặc nhiên xem tôi là người con rể
của bà, một phần chính vì cái thâm tình đó với mẹ tôi
và có lẽ cũng vì một phần bà hiểu tình cảnh mà tôi
mang trong lòng vì "Tình chị Duyên em".
Thật vậy, khi nàng sang Pháp nàng đi làm dành dụm tiền
và đã "hồi tiền chui" về cho tôi tìm đường ra đi. Anh
Sơn quen một người bạn Miên, người này hứa mang tôi
sang Thái Lan giá là 3 cây vàng. Nhìn số vàng Thùy Dung cho
tôi, tôi lưỡng lự. Vì muốn mẹ tôi có vốn làm ăn nuôi
cha tôi. Nhưng mẹ tôi khuyên tôi nên ra đi, mẹ tôi lo cho
cha tôi được. Vã lại cha tôi nhắn rằng tôi hãy ra đi,
sống dưới chế độ mới không có tương lai, một khi
hồ sơ bị vết tích ghi "con ngụy", tôi không thể ngốc
đầu lên được tại nơi gọi là quê hương tôi.
Thạch Sung, người trung gian đưa tôi sang Miên, rồi từ
đó người ta đưa tôi sang đất Thái, ông khuyên tôi nên
ngâm nắng cho sạm da, càng đen càng tốt vì tôi sẽ đóng
vai thương buôn. Sáng sớm 5 giờ tinh sương Thạch Sung chở
tôi và 2 cô gái người Việt gốc Hoa kiều Chợ Lớn từ
Saigon lên đây, chúng tôi sẽ cùng vượt biên giới sang
tỉnh Svay Rieng của Miên, chúng tôi nghỉ ngơi, hôm sau hừng
đông sang Prey Veng rồi tới thủ đô Phnom Penh. Tại đây
Thạch Sung dặn tôi và hai chị em Hồng Anh và Lan Anh là
không nên ra ngoài, mà hãy lại ở trong khách sạn. Vì giấy
tờ đi đường anh Thạch Sung nhờ người ở Nam Vang lo
trong hệ thống ăn chịu buôn người. Từ đây người
hướng dẫn viên mới là a Beng, người Miên gốc Tiều
nói rành tiếng Miên, Triều Châu, y lại thông thạo tiếng
Thái, và biết tiếng Việt đủ để hiểu.
Thông thường y
nói chuyện với 2 chị em cô Tàu bằng tiếng Tiều thì tôi
mù tịt thôi. Chúng tôi đi lên Kompong Chnang và trực chỉ
hướng tây bắc về Pursat, rồi rẽ vào ranh giới tỉnh
Battambang. Battambang là đô thị lớn, nơi mà một phần
đời sống kinh tế phát đạt sầm uất do trao đổi hàng
hóa giữa Thái Miên như tỉnh Tây Ninh hay Châu Đốc của VN.
Chiều Battambang chúng tôi được chở ra phố, hai cô gái
được vấn sà rong, mang nét trắng trẻo tiểu thư của
vùng Chợ Lớn hay Hoa kiều tại Nam Vang. Còn tôi trong bộ
đồ bà ba thương buôn, quần đen áo trắng ngã màu ngà
của a Beng trao cho tại nhà a Pánh lo giấy tờ đi đường
tại Nam Vang, một người bạn thân trong nhóm làm ăn chui
của a Beng. Hai cô gái và a Beng trao đổi tiếng Tiều, tôi
đoán họ nói hãy cẩn thận khi ra phố vì người Miên
vốn không có thiện cảm với người Việt. Hồng Anh hỏi
tôi biết họ bàn gì không, tôi lắc đầu. Hồng Anh dặn
tôi càng ít nói tiếng Việt càng tốt. Tôi gật đầu
hiểu ý. Chúng tôi ăn cơm tại quán của người chủ gốc
Tiều quen a Beng. Tôi thấy bộ độ CSVN đi phố.
Thời
điểm 82 là chế độ Heng Samrin được Hà Nội dựng lên
làm bù nhìn, trong khi đó phe đối kháng là 3 phe của Khmer
đỏ của Pol Pot, Khmer xanh của Son San và phe tự do của cựu
Hoàng Norodom Sihanouk. Tối đến chúng tôi lên đường chủ
đích là tiến sát vào biên giới Thái, từ đó có người
ra dẫn sang bên đất Thái theo dự tính. Nhưng không xong
rồi... Chúng tôi bị tốp người mặt đồ bà ba đen
quấn khăn rằn ngang cổ trang bị súng ống chận đường
khi vào thị trấn Pailin. Tôi nghe nói nơi đây các phe phái
Khmer đỏ, xanh hay phe Ông Hoàng thường va chạm kình chống
nhau để tranh giành ảnh hưởng lên nhau. Chúng tôi bị đưa
vào căn nhà vắng nằm sâu trong rừng. Sau đó chúng thả
viên tài xế a Beng và giữ ba chúng tôi lại. Tối hôm đó
có bốn người đàn ông đen đúa khác đến căn nhà chúng
giam lỏng bọn tôi, có một người nói được cả tiếng
Tiều và tiếng Việt, dù là hơi lớ giọng, nhưng đủ cho
chúng tôi hiểu ý bọn chúng. Chúng xưng là người của
"chính phủ" Pol Pot và hỏi cung chúng tôi, sau đó họ bắt
đầu lục xét trên thân thể từng người. Một tên bỗng
giở trò bỉ ổi chĩa súng lột quần áo của 2 chị em Hồng
Anh và nhăn răng cười trông thật đểu giả. Hai tên đệ
tử giữ tay chân tay Lan Anh cười thật nham nhỡ, tên
đầu đảng cởi bỏ xiêm y của y, ngực trần của y xâm
hình chiếc đầu lâu và kế đó là hình đầu rắn hổ
mang khè lửa đỏ, y lườm Lan Anh như chuẩn bị trò tồi
bại, tên thứ 4 cầm cây AK-47 canh chừng tôi. Lan Anh khóc
la dử dội, trong khi Hồng Anh ôm mặt khóc xoay hướng
khác. Trong cơn vui say bọn chúng xao lãng tôi, tôi chụp nhanh
lấy cái ghế gỗ bên cạnh giáng vào đầu tên lính canh
tôi, y xiểng niểng, tôi chụp giật lấy khẩu súng vật
lộn với hắn, hai tên cận vệ còn lại ôm súng lại nện
vào người tôi túi bụi đến khi tôi ngất xỉu. Thế là
chúng thoã mãn khi hiếp hai chị em Hồng Anh, xong chúng bỏ
đi.
Tôi chồm dậy ngó ra ngoài cửa trời vẫn còn tối, phòng
lờ mờ nhờ ánh trăng soi nên tôi cố gượng đứng dậy.
Mò lần ra cửa sau, thấy lu nước tôi bụm nước rửa
mặt. Tôi linh cảm mặt mình sưng nhiều và máu rỉ ra đau
thốn, sống lưng, bả vai nhức nhối. Theo ánh trăng tối
nhớ hướng sau nhà là hướng tây khi xe chạy theo bản đồ
a Beng chỉ chúng tôi trong phố. Tôi trở vào tìm chị em
Hồng Anh, hai chị em nằm sóng soài trên mặt đất gần
cửa trước, tôi lay họ dậy và thúc hối hai cô cần ra
khỏi nơi đây trước khi bình minh, vì nếu đám Khmer đỏ
trở lại thì nguy to. Chúng tôi mon men theo hướng bắc đi
đường vòng trong rừng né bọn du kích Pol Pot canh gác, vì
hướng tây có trục lộ giao thông lớn quân Heng Samrin hay
Pol Pot kiểm soát canh gác. Đi được khoảng ba tiếng
đồng hồ thì Lan Anh té ngã, Hồng Anh cho biết Lan Anh bị
ra máu nhiều không thể đi tiếp. Chúng tôi phải đành
dừng lại. Hai chị em cô ôm nhau khóc thút thít. Tôi tội
nghiệp họ, nhưng lòng lo lắng bọn du kích đuổi theo. Tôi
gượng người cố xé một cánh tay áo của mình đưa cho
Hồng Anh lau máu cho em cộ Hồng Anh sợ em mình chết hay
bị tôi bỏ lại, nàng khóc van tôi.
Tôi ôm vai Hồng Anh an
ủi và nói khẽ đã đến đây rồi thì tất cả nếu chết
cùng chết, tôi không nỡ bỏ hai cô ở khu rừng lạ hoắt
này. Nàng tuôn trào nước mắt, gật đầu như cám ơn
tôi. Bỗng tôi nghe tiếng gà gáy và chó sủa tôi hy vọng
rồi lại lo âu. Tôi đi tới phía trước quan sát sau rặng
tre trước mặt thì thấy một khu làng có nhiều nhà tranh.
Tôi vái thầm ơn trên giúp tôi qua cơn khốn khổ này. Thú
thật tôi đã mệt lã rồi. Tôi thấy một cặp người
Miên chạy gắn máy rời hướng làng, tôi vẫy tay cầu
cứu vì quá mệt và Lan Anh đi không nổi nữa. Thôi thì
năm bảy cũng liều đến đâu thì đến. Cặp người Miên
này đến xem mặt mũi tôi, thấy mặt tôi bị sưng bầm họ
biết tôi bị nạn, tôi dẫn họ lại nơi hai cô gái ngồi,
họ bảo Lan Anh lên xe ngồi giữa, vợ chồng họ chở cô
vào làng trước, tôi và Hồng Anh theo hướng vào làng
gặp họ. Tôi dìu Hồng Anh đi, tôi biết cô này vừa mệt
vừa đau như em cô thôi, đi gần đến cửa làng Hồng Anh
ôm chầm lấy tôi òa khóc và cám ơn tôi không bỏ chị em
cộ Cô nàng cầu mong tôi tiếp tục lo cho hai chị em cô
đến nơi bình an gặp lại mẹ cộ Tôi gật đầu giơ ngón
tay trỏ móc nghéo tay nàng. Cô nói khi đến trại tị nạn cô
sẽ liên lạc với mẹ cô bảo lãnh tôi sang Mỹ như là
người ơn. Tôi nói chỉ có cách tôi là chồng cô trên
giấy tờ thì may ra thôi, vì tôi không có thân nhân ở Mỹ
và tôi muốn sang Mỹ nhất. Nàng gật đầu.
Chúng tôi vào đến làng, làng cho người nói tiếng Hoa và
Việt ra nói chuyện. Tôi hỏi Lan Anh ở đâu, họ dẫn tôi
vào gặp "Ông lớn", tôi chắc là ông xếp lớn ở đây.
Chúng tôi đến một căn nhà ngói, bước vào thấy một
người đàn ông trạc trên năm mươi, y đen đúa nhoẽn
miệng tươi cười nói vài câu tiếng Việt bập bẹ hỏi
han, y nói tiếng Tiều khá hơn. Hồng Anh được y đưa vào
gặp em mình, một phụ nữ Miên đang nhúng nước lau rửa
giúp Lan Anh. Người đàn ông này tự giới thiệu y tên là
Rin và vợ y là Neary đang giúp Lan Anh, y chỉ hình trên
tường hình hai đứa con trai cầm súng AK-47 tên là Tholla
và Botra, và ông là làng trưởng. Ông cho biết ông theo phe
chính phủ liên hiệp kháng chiến, y thuộc phe Son San,
được Thái Lan và Mỹ giúp đỡ. Tôi nói tôi có cha bị
người CS cầm tù. Ông gật đầu tỏ ý ông hiểu tôi. Tôi
nhìn gương mặt dử dằn của ông, nhưng ít ra ông đối
đãi mình nhân hậu ngay giây phút đầu này.
Thỉnh thoảng
ông cười nhe hàm răng hô phì phà điếu thuốc rê vấn,
khói thuốc nồng xông mùi hăng hắt khó chịu. Răng ông
đóng bợn vàng như bơ, kiểu này chắc ông bị mấy nha sĩ
chê ngay, dù có tẩy (deep clean) đến thế mấy đi nữa.
Ông hỏi sự liên hệ giữa tôi và hai cô gái, tôi nói tôi
là chồng của Hồng Anh, nếu ông chịu giúp đỡ cho tôi
gặp người Mỹ hay nhân viên Liên Hiệp Quốc thì sau này
sang Mỹ chúng tôi hứa sẽ hậu tạ đền ơn ông. Ông nói
ông rất thích người Mỹ và ghét CS. Ông nói xứ ông bị
người VN xâm chiếm đất đai. Ông kể lịch sử xưa kể
là người Việt rất tàn ác khi cướp đất người Miên,
quân lính Việt xâm lăng chôn sống đàn ông Miên và hãm
hiếp phụ nữ Miên. Bỗng Hồng Anh khóc thút thít tức
tưởi khi dịch ra Việt ngữ cho tôi nghe, tôi bảo chiến
tranh là tàn bạo, là gây hận thù và hai cô gái Việt của
tôi là nạn nhân của người Miên của ông. Sau đó ông Rin
đưa tôi và Hồng Anh sang nơi trú ngụ ở căn nhà tranh
gần đó. Tôi thấy trong nhà có 4 người cư ngụ, ông cho
biết cặp vợ chồng người Lào Hmong này chạy trốn
người Việt xâm lăng sang đây tá túc làng của ông.
Người đàn ông Hmong tên Shou Nouyang, bà vợ tên Luba chào
chúng tôi niềm nở, hai cô con gái là Liang và Mayan đều
trên 18 tuổi. Họ được phân công vào việc sản xuất khô
trạ Chúng tôi sẽ chia phân nữa căn nhà này với họ tạm
tá túc đến khi chúng tôi có dịp vượt sang Thái gặp
phái đoàn Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, ông Rin dặn mọi
người. Bà Luba dẫn Hồng Anh vào lấy phòng nhỏ bên cạnh
có chiếc giường tre của hai cô con gái ông bà, bây giờ
nhường lại cho chúng tôi. Tôi xoay sang nói nhỏ với Hồng
Anh chúng tôi có chổ nghỉ ngơi tạm quá tốt cho kế hoạch
tìm gặp người Mỹ hay Cao Ủy rồi và tôi sẽ tìm cách cho
nàng gởi thơ cho mẹ nàng hay. Tôi và ông Rin cùng ông Shou
ra thăm cầu cá, tôi dặn Hồng Anh qua rước em cô về
phòng nghỉ dưỡng bệnh.
Tôi ngắm nhìn cái hồ cá tra nhân tạo, nghe nói người
dân làng này đào từ thời chính phủ Lon Nol trước 75.
Hồ rộng có một dãy nhà cầu gồm mười hai cầu, tám
cho người lớn, và bốn cho trẻ em. Cầu nối hai bên bờ
đệ Khu cầu dành cho trẻ em tọa lạc gần bờ. Ở giữa
hồ nghe nói sâu dưới hai thước. Tôi nghe ông Rin thuật
lại lịch sử và sinh hoạt hồ qua viên thông ngôn nói
tiếng Việt của ông. Ông hỏi tôi thích ăn cá tra không,
tôi nói chưa từng ăn qua, nhưng Cao Miên là xứ nổi danh
món khô tra, ông cười gật đầu thích chí câu tôi nói.
Tôi nhìn hàm răng bơ Bretel vàng vọt của ông mà tự hỏi
bao nhiêu ký khô tra mà ông đã ăn trong đời. Tôi biết
khô tra béo ngậy màu vàng có bán ở chợ Trời Gò Dầu
Thượng.
Sáng sáng Hồng Anh và Lan Anh theo mẹ con bà Luba đi xẻ cá
chúng tôi vớt lên. Tôi và ông Shou cạo nhớt, rửa sạch
cá ném sang bên hàng xẻ cá, các bà xẻ đôi cá lật
ngược sống lưng cá cho bề dẹp sát vào tấm mành tre
phơi nắng, ruồi nhặng bu nhiều, chúng tôi dùng quạt xua
chúng đị Do đó tôi và ông Shou trở thành đôi bạn bạn
thân. Nói chung những người Lào và Miên ở đây vốn
hiền hòa, họ sống dưới kỷ luật của ông Rin. Tôi còn
nhớ những kỷ niệm cũ khi nằm sát phòng vợ chồng ông,
bà cất tiếng Hmong đi ra sau bếp pha nước trà cho ông,
trong khi ông phì phà thuốc lào với chiếc dọc tẩu nghe
âm thanh thật phệ Hồng Anh nằm giữa ngủ áp mặt vào
cánh tay của tôi, em nàng xoay vào vách. Nàng hay than phiền
về mùi thuốc xông lên hôi quá. Tôi cười và nói là may
lắm tôi không là người thích hút thuốc. Nàng hôn cánh
tay tôi, cắn nhẹ. Tôi thương Hồng Anh trong cái dầy vò
khó chịu vì tôi vẫn nhớ đến người tình Thùy Dung.
Trong chuyến vượt biên này tôi nguyện lòng giúp chị em
Hồng Anh mà thôi. Tôi sang Mỹ sẽ làm sáng tỏ vấn đề và
sẽ mang Thùy Dung sang Mỹ sau, vì tôi không thể phản bội
người tiếp tế tiền nuôi sống gia đình tôi và cho tôi
có cơ hội vượt biên tạo tương lai cho cuộc sống mới.
Tôi gỡ nhẹ tay Hồng Anh ra khỏi ngực tôi. Hôn nhẹ lên
tóc nàng và khẽ nói:
- "Anh phải ra cầu sáng hôm nay cho cá ăn"
Nàng giả vờ mắt nhắm như muốn ngủ nướng, nàng hỏi:
- "Anh đi cầu sớm vậy ? Anh đau bụng hả?"
- Tôi đáp: "Ông Shou dặn anh theo ông ra hồ cho cá ăn để
vớt cá xẻ thịt, xế trưa thì thiên hạ đông khó làm
việc lắm."
Tôi lấy tay chào ông Shou và ra dấu tôi chuẩn bị đi với
ông, làm vệ sinh mặt mũi đầu ngày xong, tôi chờ ông ở
sân trước. Ông khệ nệ kéo thùng phân người tôi chẳng
hiểu ông "lạc quyên" ở đâu, nó được dấu gần bụi tre
già. Tôi đến giúp ông một tay, tay kia tôi cầm cái thau
nhôm dưng cá. Như tôi tay kia của ông Shou cầm cái vợt
lưới cá. Chúng tôi ra bờ hồ. Sáng sớm tinh sương, hồ
vắng tĩnh mịch, khách hàng hãy còn ngủ. Ông Shou ném mồi
phế thải xuống hồ, bỗng mặt hồ lên cơn dậy sóng,
đàn cá tra nhào lộn thưởng thức màn điểm tâm lót dạ.
Những chú thím cá có làn da đen ngâm hơn cá tra ở hồ
cá Xóm Đình quê hương hay là cá Miên phải da sạm, cá
Việt bụng trắng tinh vì người màu sao thì cá màu vậy.
Ông Shou vớt mỗi lần được 4, 5 chú thím cá, xong ông
gạn lọc chỉ lựa lại. Cá "đô con" thì lấy, cá nhỏ để
nuôi tiếp. Có lần ông Rin nói với tôi là khô tại đây
mang sang Thái Lan đổi gạo và các nhu yếu phẩm khác. Làng
cũng có trồng rau, đậu, quả, gà, vịt, nhưng vẫn phải
trao đổi thêm vào sinh hoạt kinh tế ở đây. Nhìn đám cá
bắt lên, tôi nghĩ trong bụng về thuyết chu kỳ sinh tồn
là: "Người ăn vô cho ra, xong cá ăn vô khôn lớn đủ đô
lại nộp mạng cho người", định luật cứ thế mà xoay
vần. Ít ra cuộc sống tạm dung tại mảnh đất này quả
thật đầy ích lợi. Tôi thầm nghĩ mình có đóng góp vào
sinh hoạt kinh tế là cho cá ăn hai kiểu, kiểu thiên nhiên,
kiểu ông Shoụ Cá chúng tôi nuôi đem bán sang đất Thái.
Người Thái ăn khen cá ngon, cá béo ngậy, cá đô con
nhiều mỡ và sẽ có ngày người Thái sẽ cho tôi đất
mới để tạm dung. Tôi an phận trong ý nghĩ của mình.
Năm 1982 khi liên minh quân Heng Samrin và CSVN tấn công căn
cứ Pailin, họ hành quân nã phi pháo, làng cá chúng tôi
chạy trối chết, ông Rin cầm đầu đoàn người tị nạn
chạy băng sang đất Thái. Quân Thái Lan tước vũ khí chúng
tôi và phân loại ra cho vào trại tị nạn biên thùy tân lập
NW82, sau khi trại NW9 tràn đầy người tị nạn. Chúng tôi
là đợt đầu được đổ bộ vào đây. Khi phái đoàn Cao
Ủy Tị Nạn đến ba người chúng tôi là Hồng Anh, Lan Anh
và tôi vì biết Anh ngữ nên được ông trại trưởng
người Thái tuyển dụng làm liên lạc viên cho làng Cầu cá
Rinsons, tôi bảo ông Rin rằng mọi người sẽ hãnh diện vì
cái tên tây phương mang tên ông mà tôi ghép khi đề cập
với phái đoàn Cao Ủy Tị Nạn và rằng đồng bào ông là
người trong làng như "sons" mà ông đã từng lo lắng cho
họ, và theo tiếng Mỹ nó lại là những người con trai.
Ông
Rin khoái chí cười khoe cả một bầu trời bơ vơ vàng vọt
màu vanilla sáng trưng cuộc đời. Tôi xin phái đoàn Cao Ủy
ưu tiên cho 4 người trong gia đình ông Rin, 4 người trong
gia đình ông Shou và "vợ chồng" chúng tôi ra đi theo diện
"ghép form" cùng Lan Anh cứu xét đơn chúng tôi xin đi Mỹ.
Trong số 150 của làng Rinsons phái đoàn Cao Ủy Tị Nạn sẽ
thanh lọc lại. Ông Rin được nhận vì ông là đại úy cưu
sĩ quan nhảy dù thời chính phủ Lon Nol vốn thân với chính
sách Mỹ tại Đông Dương, và ông Shou có quá trình hoạt
động trong toán thám báo của đạo quân của tướng Vang
Pao hợp tác với quân đội Hoa Kỳ. Tôi có cha đi tù CSVN
tại bắc Viêt. Hai chị em Hồng Anh có mẹ tại Mỹ, nên "rể
tôi" thêm credit ké nhập cảnh Mỹ như ý mong muốn. Chúng
tôi đậu phỏng vấn dễ dàng. Bước ra khỏi phòng phỏng
vấn thì Hồng Anh ôm tôi mừng rỡ.
Ngày bay sang Mỹ, cả nhóm chúng tôi 11 người đi chung trên
chuyến phi cơ về hướng San Francisco, nơi có mẹ Hồng Anh
cư ngụ. Gia đình ông Shou được Hội Cứu Trợ Người
Hmong bảo trợ về Fresno, gia đình ông Rin được Hội Thân
Hữu Người Cao Miên bảo trợ về Stockton. Nghiã là chúng
tôi sẽ định cư tại những vùng đất không xa nhau theo
phạm vi thật bao la của xứ Hoa Kỳ.
Mẹ Hồng Anh đón chúng tôi tại phi trường, bà cám ơn
tôi. Bà vốn biết tôi mang hai con bà sang đây rồi sẽ làm
bảo lãnh Thùy Dung sang Mỹ sau này. Bà rất vui vẽ và cũng
đã chuẩn bị lo lắng cho tương lai những người con mới
sang của bà.
Chuyện hồ cá năm xưa bắt nguồn từ Xóm Đình VN rồi
sang hồ cá Pailin, cũng như mùa Xuân năm nào tôi bắt
đầu với Thùy Dung và thời thế đẩy tôi sang Cao Miên
để chung sống với Hồng Anh, nàng xinh đẹp và dễ
thương, nhưng tôi cám ơn cái chân tình nàng dành cho tôi
trong những ngày tháng tị nạn tại đất Chùa Tháp Cao Miên
và Thái Lan. Giờ đây, giây phút này tôi phải trở lại
với Thùy Dung đang chờ đợi tôi mỏi mòn, người bạn gái
có ân tình đậm đà với tôi. Nàng gởi tôi bao nhiêu
bức tình thư thăm hỏi, lo lắng khi chúng tôi xa nhau. Tôi
bỗng nhớ bài nhạc năm xưa tại quán Cây Dừa quê hương:
"Theo năm tháng hoài mong
thư gởi đi mấy lần
đợi hồi âm chưa thấy
anh ơi nhớ rằng đây
còn có em đêm ngày
hằng thương nhớ vơi đầy..."
Tôi nguyện lòng khi đến đất Mỹ thì điều đầu tiên
tôi muốn làm là hồi âm cho người tôi yêu vô vàn, Thùy
Dung, vì:
"Em mơ ước làm sao
cho trọn mối duyên đầu
đẹp lòng anh yêu dấu
xưa Chức Nữ chàng Ngưu
từng đắng cay dãi dầu
chờ Ô Thước bắt cầu..."
Los Angeles
(Cho ngày 30-04-2005)
|
|