|
Contributed by: phuochung |
Views: 7.076
Thiền Gia Thích Trí Châu
Hôm nay tôi xin trích dịch một số dữ kiện được ký
giả Joel Stein viết về Thiền trong báo Time số ra ngày 4
tháng 8 năm 2003, rồi từ đó giới thiệu sơ lược về
Thiền Tông của Phật giáo.
Joel Stein viết, các nhà khoa học nghiên cứu thiền, các
bác sĩ khuyên nên thực tập thiền, hàng triệu người Mỹ
thực hành thiền. Tại sao thế? Vì thiền đem lại nhiều
lợi ích. Không những nhiều nghiên cứu cho thấy rằng
thiền làm cho hệ thống miễn nhiễm hoạt động mạnh hơn,
mà kết quả phân hình não bộ còn cho thấy thiền có khả
năng nối lại các đường giây thần kinh để làm giảm đi
sự căng thẳng. Bây giờ có cả hàng chục triệu người
Mỹ nói rằng họ đang thực tập một phương pháp thiền
nào đó. Ngày nay người ta không còn phải vào trong rừng
kiếm mấy ông thầy guru râu ria xồm xoàm để học thiền
vì thiền đã được dậy trong các trường học, nhà
thương, các văn phòng luật, trong các cơ quan chính quyền,
các hãng xưởng và ngay cả trong nhà tù.
Đức Đạt Lai Lạt Ma trong cuộc đàm luận với các nhà
khoa học nghiên cứu về thần kinh có nói: "Thật thích thú
được biết những nghiên cứu mới đây cho thấy thiền
có khả năng điều hòa tâm trí và tái cấu trúc bộ não."
Những thử nghiệm mới với các máy phân hình tân kỳ cho
thấy thiền có thể chỉnh lại bộ óc, làm cho nó hết
tắc nghẽn và lưu thông trở lại. Và điều đáng nói là
ngồi thiền thì an toàn và ít tốn kém hơn nhiều so với
việc giải phẫu.
Bill Ford, giám đốc hãng xe hơi Ford của Mỹ, tu tập thiền.
Cựu giám đốc mật vụ Anh quốc MI-5, cựu phu nhân tổng
thống Mỹ Hillary Clinton, vợ chồng cựu phó tổng thống
Mỹ Al Gore cũng tu tập thiền. Gore nói: "Chúng tôi đều
hằng ngày cầu nguyện, nhưng với thiền, thật cá biệt,
tôi đặc biệt đề nghị tu tập."
Càng ngày càng nhiều bác sĩ y khoa đề nghị giải pháp
thực hành thiền để phòng ngừa, làm chậm lại hay ít ra
là có thể kềm chế được các cơn đau do các bệnh mãn
tính, như bệnh tim, aids, ung thư và chữa bệnh hiếm
muộn. Thiền cũng đem lại sự quân bình cho các bệnh căng
thẳng, trầm cảm, bệnh hiếu động và bệnh lãng trí.
Có một đời sống hài hòa và thoải mái thì thật thú vị
nhưng thêm vào đó với thiền ta sẽ sống lâu hơn, ít
bệnh tật hơn và đỡ tốn kém tiền thuốc men rất
nhiều, nhất là bây giờ với sự cắt giảm quỹ tài trợ
tiền thuốc men cho người già.
Thiền trong các tôn giáo khác phần nhiều đều có mục
đích tiếp cận được với các thần linh ở cõi vô
hình, họ mơ ước được chứng kiến một sự mặc khải,
họ tu cho cái tiểu ngã được nhập về với cái đại
ngã, hoặc được tiếp cận với thượng đế của tôn
giáo họ. Phật giáo không có mục đích hội nhập vào bất
cứ vị thần linh hay thượng đế nào mà là vượt trên
mọi cảnh giới để thực chứng rằng mọi hiện tướng
chỉ là tùy duyên hiện khởi, chuyển biến liên tục, không
có cái gì có cái ngã tướng chân thật và do đó sẽ
không khởi ra một ước nguyện mong cầu, nên đạt được
cái cảnh giới tịch tĩnh tạm gọi là Niết Bàn, để từ
đó đạt tới được cái chân thật nơi tâm thức gọi là
Chân Tâm hay là Phật Tánh.
Đối với Phật giáo, tất cả mọi cảnh giới trên cái
thế giới này đều bị chi phối bởi luật nhân quả, lý
nhân duyên. Đã là chúng sanh, là phải có sanh, già, bệnh
và chết tức là Sanh, Lão, Bệnh và Tử. Các quốc độ
hay là thế giới và vũ trụ thì có Thành, Trụ, Hoại và
Không. Tất cả những tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm, vui,
buồn, nhớ mong, khổ đau hay sung sướng cũng phải trải qua
các thời kỳ Sanh, Trụ, Dị và Diệt tức là sanh khởi,
tăng trưởng, biến đổi và diệt tịch. Tất cả đều
chuyển biến, tùy theo các nghiệp đã tạo tác trong quá
khứ mà ta lúc thì hưởng được nhiều may mắn, lúc gặp
vận xui xẻo, có lúc làm ăn phát đạt có một đời sống
tốt đẹp, có khi thất bại sống trong nghèo khó và khổ
đau, có khi khoẻ mạnh và vui vẻ, có lúc bệnh tật và chán
chường.
Trong cái thế giới hiện tượng mà chúng ta đang sống
đây, không có gì có cái tánh chất riêng biệt, độc
lập, thường còn và bất biến tức là không có cái gì
có cái tự tánh chân thật, cố định, thường còn, không
thay đổi như trong kinh Phật thường nói, tất cả các
pháp đều Không Tánh.
Mọi cảnh giới, mọi tư tưởng, mọi sự việc đều nương
vào những cái khác để thành lập. Tôi không thể hiện
hữu một mình nếu không có anh, không có thế giới, vũ
trụ và tất cả các sinh vật xung quanh. Tôi cũng không có
cái tánh chất riêng biệt cố định mà là do sự hòa hợp
của ngũ uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc
lại gồm có đất, nước, gió lửa tạo nên cái thân tứ
đại. Thọ, tưởng, hành và thức tạo nên cái tâm thức
với những cảm thọ vui buồn, khổ đau và sung sướng;
với những vận hành suy nghĩ, nhớ tưởng và quyết
định. Tất cả những thứ đó cũng không thể hiện hữu
nếu không có hư không. Tôi thật sự chẳng có cái gì là
đặc thể, ngã thể^? riêng mà là do tất cả những cái
không phải là tôi chuyển biến tương quan, tương tức,
tương tục nên nói tôi là Vô Thường và tôi là Vô Ngã.
Tương tự như thế mọi sự mọi vật đều Vô Ngã và Vô
Thường.
Khoa học hiện đại chứng minh rằng thế giới, vũ trụ và
muôn loài được bắt đầu bằng một Đại Bùng Nổ Big
Bang, trong đó hư không được nở rộng ra, vô lượng các
hạt bụi lượng tử được phóng ra, cấu kết lại và
chuyển động không ngưng nghỉ tạo thành các giải ngân hà,
những hành tinh, định tinh mà ta thường gọi là vũ trụ và
tinh cầu, rồi từ đó phát sinh ra các nguyên tố hêli
(helium) và khinh khí hydrô (hydrogen) nhờ đó có sự hình
thành của biển cả, sông hồ, núi rừng và muôn loài chúng
sanh. Tất cả sự hiện hữu đó đều do sự cấu kết của
các vi trần, là những lượng tử thật nhỏ nhiệm luôn
luôn chuyển động chớp nhoáng, bành trướng rồi lại co
rút lại, khi bành trướng thì tỏa ra như những làn sóng,
khi co rút lại thì như một vi trần tức là như một hạt
bụi thật nhỏ nhiệm. Vi trần ví như hình ảnh một hòn
sỏi, làn sóng vi ba ví như những vòng tròn sóng tỏa ra
trên mặt hồ khi ném hòn sỏi xuống hồ. Khi co rút như
hạt bụi thì là sắc, khi tỏa ra thì là những làn sóng vi
ba không hình tướng. Cả sắc và không đó cứ chuyển
biến liên tục không thể tách rời nhau ra được.
Không biết tôi có làm sáng tỏ điều mà đức Phật nói
là sắc bất dị không, không bất dị sắc hay là sắc tức
thị không, không tức thị sắc trong Bát Nhã Tâm Kinh không?
Hay là tôi lại làm hỏa mù lên cái thật đơn giản là
không có cái không thì làm sao ta biết được cái có
(sắc) và không có cái có (sắc) làm sao ta nhận biết
được cái không. Cái không thì hiển bày ra cái sắc, cái
sắc thì hiển bầy được cái không. Không có khổ đau
thì làm sao ta biết được giá trị của hạnh phúc, không
kinh qua những giây phút tuyệt vời làm sao ta thật sự
cảm giác cái đau khổ thấm thía và sự tiếc nuối triền
miên khi bị mất mát. Tất cả sắc và không dù có thấy
rõ ràng, những đau khổ xẩy đến và những hạnh phúc
được hưởng dù có sâu xa và tuyệt vời đến chừng
nào thì cũng chỉ là giả thôi. Thiên đường, phạm thiên
hay cực lạc chẳng qua đều là vọng tưởng, chỉ là dùng
thuốc mê để chữa bệnh huyễn khổ nơi trần gian. Tất
cả chỉ là như huyễn. Đã là như huyễn thì ai thèm nắm
bắt làm gì, và nếu không thèm nắm bắt thì làm gì có
sự đố kỵ, tranh giành, làm gì có chiến tranh. Thấu rõ
được như vậy thì ở đâu cũng hài hòa, thông cảm và
thương yêu. Ngay giây phút này thì đây là cực lạc, đây
là niết bàn và đây là thế giới của an vui và giải
thoát.
Câu hỏi được đặt ra là thế thì ai sinh ra cái hiện
tượng Big Bang đó? Ai sanh ra các bụi lượng tử đó? Câu
hỏi đó là câu hỏi từ thời xa xưa muôn thuở, tương tự
như câu hỏi ta từ đâu đến và ta sẽ đi về đâu? Chắc
chắn là ta không phải tự nhiên đến vì ta phải do sự
cấu kết giữa tinh trùng của cha ta và thai noãn của mẹ ta
mà có sự sanh thành, hoặc là như khoa học hiện đại, ta
phải hội đủ các yếu tố sinh lý và hóa học để được
hình thành trong tiến trình tạo sanh vô tánh.
Ta không phải tự nhiên mà có, không phải tự nhiên mà
hiện hữu như các hình tượng do các ảo thuật gia làm
huyễn thuật, nhưng ta cũng không phải do một vị thần linh
nào đó tạo ra vì nếu vậy nhà sinh học tạo sanh vô tánh
là vị thần linh đó sao?
Đức Phật là vị đã giác ngộ, đã nói đến cái thế
giới trùng trùng duyên khởi, trong đó mọi hiện tượng
và đời sống đều liên quan đến nhau, đức Phật đã
nói đến những thế giới khác nhau với những sinh vật
khác nhau hiện hữu trong vô số các cõi được gọi là Tam
Thiên Đại Thiên Thế Giới mà ngày nay các nhà khoa học
càng ngày càng tiến đến một một hiểu biết tương
tự.
Chỉ có sự tin tưởng và tu trì theo đường lối Giới
Định Huệ mà ta có thể đưa Tâm Thức đến một cảnh
giới Vô Thượng, nơi đó đó ta sẽ thâm nhập vào cái
cảnh giới bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn của
Phật. Chỉ người nào đạt được đến cái cảnh giới
đó mới hiểu thôi. Nhà thiền nói đó là cái cảnh giới
vô cảnh giới, không thể nói và không thể giải thích, tỷ
như ai uống nước thì người ấy biết nóng lạnh hay là
ngọt đắng ra sao.
Tất cả kinh điển của Phật là tạo cho ta niềm tin rồi
gia công tinh tấn giữ giới và tu thiền. Sự thực tập
thiền phải do sự học hỏi nơi các vị chân truyền, có
phương pháp được truyền thừa từ các vị tổ sư mới
tránh được những sai lầm, lẫn lộn giữa pháp môn của
Phật và các pháp môn khác.
Trong lịch sử Phật giáo, sự trao truyền từ đức Phật
tới các vị tổ sư, tổ tổ tương truyền được bắt
đầu tại hội Linh Sơn nơi đảnh núi Linh Thứu, được
nói trong tích Niêm Hoa Vi Tiếu. Các tích truyện về thiền
tông gọi là công án. Trong công án này Phật cầm cành hoa
sen đưa lên mà không nói môt lời gì, cả hội trường
đều im lặng, riêng mình trưởng lão Ca Diếp mỉm miệng
cười. Phật bảo ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn
diệu tâm, nay trao cho Ca Diếp sau này sẽ thay ta truyền bá
chánh pháp chớ để cho thất truyền, hãy giữ y bát này
để làm bằng, sau này sẽ tiếp tục trao truyền cho A Nan.
Sau khi Phật nhập diệt, Ma Ha Ca Diếp trở thành vị Tổ
Sư thiền đầu tiên của Phật giáo. Sau khi Ca Diếp tịch A
Nan được trao truyền y bát và là vị Tổ thứ hai của
thiền tông. Tiếp tục cứ tổ tổ tương truyền, sau này
đến thế kỷ thứ 6, Bồ Đề Đạt Ma là vị tổ thứ 28
bên Ấn Độ. Ngài sang Trung Hoa truyền pháp thiền và trở
thành vị Tổ Sư thiền đầu tiên ở Trung Hoa, trao truyền
giáo pháp biệt truyền của Phật, vượt trên các giáo lý,
chỉ thẳng chân tâm, thấy tánh thành Phật:
Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ chân
tâm, Kiến tánh thành Phật
Xin chép một đoạn trong bài Thiền Ca của Bạch Ẩn Thiền
Sư:
Pháp môn Tọa Thiền của Đại Thừa
Thật không đủ lời để tán thán
Những pháp hạnh cao quý đều bắt nguồn ở Tọa Thiền
Cho dù chỉ một lần tọa thiền
Cũng đủ tiêu trừ mọi ác nghiệp
Nào thấy đâu hắc đạo nữa
Vì Quốc Độ Thanh Tịnh ở nơi đây.
|
|