|
Contributed by: phuochung |
Views: 21.501
Bs Nguyễn Ý Đức
Trong mấy chục năm gần đây, dân chúng ở các quốc gia
Âu Mỹ bắt đầu tiêu thụ một số lượng. rất lớn
đậu nành. Họ đã được các nhà nghiên cứu khoa học
thông báo nhiều ích lợi về dinh dưỡng cũng như trị
liệu của loại thực vật này. Đã có ít nhất là ba cuộc
hội thảo quốc tế về vai trò của đậu nành trong việc
phòng ngừa và trị các bệnh kinh niên. Truyền thông báo
chí cũng đăng tải nhiều nghiên cứu về công dụng của
đậu nành.
Và Cơ Quan Dược Phẩm và Thực Phẩm Hoa Kỳ đã chấp
thuận cho các nhà chế biến được giới thiệu là các
sản phẩm này có giá trị trong việc làm giảm nguy cơ gây
ra bệnh tim mạch và duy trì sức khỏe con người. Đây là
một việc làm hiếm có vì cơ quan trên thường rất dè
dặt trong các công nhận tương tự nhất là chỉ căn cứ
vào kinh nghiệm, quan sát.
Thực ra đậu nành, mà ta còn gọi là đỗ tương, đã
được các quốc gia Á Châu, trong đó có VN dùng làm thực
phẩm và thuốc từ nhiều ngàn năm về trước.
Nguồn gốc
Đậu nành xuất phát từ Trung Hoa vào thế kỷ thứ 11 rồi
lan ra các quốc gia khác ở Á Châu. Tây phương chỉ mới
biết tới đậu nành từ thế kỷ thứ 18. Đâu nành du
nhập Hoa Kỳ vào năm 1804. Hiện nay các quốc gia dọc theo
sông Mississipi có sản lượng rất cao về đậu nành trên
thế giới. Hoa Kỳ là quốc gia đứng đầu sản xuất đậu
nành, rồi đến Ba Tây, Trung Hoa, Á Căn Đình, Ấn Độ.
Bên Hoa Kỳ, phần lớn đậu nành được dùng để nuôi
súc vật và chỉ có khoảng 26 triệu người dùng làm thực
phẩm, trong khi đó ở Á Châu nó là nguồn dinh dưỡng quan
trọng.
Thành phần hóa học
Hạt đậu nành chứa 8% nước, 5% chất vô cơ, 15- 25%
glucose, 15-20% chất béo, 35- 45% chất đạm với đủ các
loại amino acid cần thiết và nhiều sinh tố, khoáng chất.
So với thịt động vật, đậu nành có nhiều chất dinh
dưỡng hơn: 100 gr đậu nành có 411 calo; 34 gr đạm; 18 gr
béo; 165mg calcium; 11mg sắt; trong khi đó thịt bò loại ngon
chỉ có 165 calo, 21gr đạm; 9gr béo; 10mg calcium và 2.7 mg
sắt.
Quan trọng hơn cả là trong đậu nành có một hóa chất
tương tự như kích thích tố nữ estrogen mà nhiều công
trình khoa học chứng minh là rất tốt trong việc trị và
ngừa một số bệnh. Đó là chất isoflavones.
Chất isoflavones
Trong số các loại đậu, đậu nành là loại đặc biệt có
hợp chất isoflavone với công thức hóa học gần giống
như kích thích tố nữ estrogen. Vì thế nó được mệnh
danh là estrogen thảo mộc ( phyto-estrogen ) và được nghiên
cứu về công dụng đối với cơ thể.
Estrogen là kích thích tố tự nhiên được noãn sào tiết
ra, rất cần thiết cho sự tăng trưởng của cơ quan sinh
dục chính (tử cung, ống dẫn trứng) và sự nẩy nở của
cơ quan sinh dục phụ như nhũ hoa, làm xương chậu có hình
bầu dục rộng hơn để sanh đẻ dễ dàng. Ngoài ra estrogen
còn cần để duy trì một sức khỏe tốt cho người nam
cũng như nữ, cho sự tân tạo và tu bổ xương, cho hệ
thống tim mạch, cho não bộ. Khi tới tuổi mãn kinh, người
nữ mất đi một khối lượng rất lớn estrogen nên họ
chịu đựng nhiều thay đổi.
Estrogen thực vật không có giá trị dinh dưỡng, không là
sinh tố hay khoáng chất. Nó có tác dụng tương tự như
estrogen thiên nhiên nhưng yếu hơn, và có nhiều nhất trong
đậu nành. Nó nằm ở phần dưới của tử diệp trong hạt
đậu và gồm bốn cấu tạo hóa học là aglycones, daidzein,
ghenistein và glycitein. Số lượng isoflavones nhiều ít tùy
theo giống đậu, điều kiện trồng trọt và mùa gặt hái.
Nó được chuyển hóa trong ruột, lưu hành trong huyết
tương và phế thải qua thận.
Trung bình mỗi ngày ta cần 50mg isoflavones. Số lượng này
thường thấy trong 30gr đậu nành rang, 1 ly sữa đậu
nành, 1/2 miếng đậu phụ, 1/2ly bột đậu. Hot dogs, burger,
cheese, yogurts làm bằng đậu nành cũng có một số lượng
nhỏ isoflavones còn dầu đậu nành thì hầu như không có.
Trong việc nấu nướng thường lệ, isoflavones không bị
tiêu hủy vì nó khá bền vững.
Giá trị trị liệu của Isoflavones đậu nành được biết
tới là do kết quả của quan sát.
Từ những năm của thập niên 1920, người ta đã nghi ngờ
là thảo mộc có một hóa chất có tác dụng giống như
kích thích tố nữ. Năm 1940, các mục đồng bên Úc Châu
nhận thấy khi ăn loại cỏ ba lá (clover), cừu cái giảm khả
năng sinh sản và có dấu hiệu của quá nhiều estrogen trong
cơ thể. Mấy chục năm sau, nhiều nghiên cứu kế tiếp
thấy rằng một số thảo mộc khác cũng có hóa chất
tương tự như estrogen. Các nhà y học nhận thấy tỷ lệ
người mắc bệnh ung thư nhũ hoa, nhiếp tuyến, tử cung,
các bệnh tim thường thấp ở phần lớn các quốc gia Âu
Châu ăn nhiều đậu nành. Ngay cả phụ nữ da trắng, tỷ
lệ này cũng thấp nếu họ ăn nhiều đậu nành.
Giá trị dinh dưỡng
Vì có nhiều đạm chất nên đậu nành đã được coi như
"thịt không xương" ở nhiều quốc gia Á Châu. Tại Nhật
bản, Trung Hoa 60% đạm tiêu thụ hàng ngày đều do đậu
nành cung ấp. Đạm này rất tốt để thay thế cho thịt
động vật vì có ít mỡ và cholesterol. Đậu nành có
nhiều đạm chất hơn thịt, nhiều calcium hơn sữa bò,
nhiều lecithin hơn trứng. Các amino acid cần thiết mà cơ
thể không tạo ra được thì đều có trong đậu nành.
Khi đậu nành ăn chung với một số ngũ cốc như ngô bắp
thì nó sẽ bổ sung một số amino acid mà ngô không có.
Với trẻ em, chất đạm của đậu nành là món ăn quý giá
cho các em bị dị ứng với sữa bò hoặc không tiêu thụ
được đường lactosẹ Đậu nành sẽ giúp các em tăng
trưởng tốt như khi dùng sữa bò.
Công dụng y học của đậu nành
Vai trò của isoflavones đậu nành được nhắc nhở tới và
nhiều nghiên cứu đã được tập trung vào nhất là trong
lãnh vực ung thư, bệnh tim, bệnh loãng xương, rối loạn
kinh nguyệt.
a-Đậu nành và bệnh tim-mạch
Ngay từ đầu thế kỷ 20, các nhà khoa học Nga Sô đã nhận
thấy rằng chất đạm của đậu nành làm hạ thấp
cholesterol ở súc vật. Rồi gần năm mươi năm sau, những
kết quả tương tự cũng thấy ở loài người. Cholesterol
cao trong máu là nguy cơ gây ra bệnh tim mạch.
Lames W. Anderson, một chuyên gia về bệnh nội tiết và dinh
dưỡng, thấy rằng một chế độ dinh dưỡng có nhiều
đậu nành sẽ làm cholesterol giảm 12%, LDL giảm 13%, HDL không
thay đổi mấy. Theo ông ta, chỉ cần ăn độ 30gr nành mỗi
ngày là có kết quả trên. Sở dĩ được như vậy là do
các tác dụng của các chất amino acid trong đậu nành, đặc
biệt hai chất glycine và arginine.
Ngoài ra, isoflavones cũng tác dụng như một chất chống oxy
hóa (antioxidant ) ngăn chặn không để các các gốc tự do
(free radical) tấn công LDL và làm tăng nguy cơ bệnh tim
mạch. Một nghiên cứu khác cho là đậu nành làm hạ
cholesterol bằng cách làm tăng sự phế thải và làm giảm
sự hấp thụ chất béo này.
So sánh chế độ dinh dưỡng và bệnh tim mạch ở Mỹ và
Nhật Bản cho thấy có sự khác biệt trong tỷ lệ người
bệnh và số tử vong. Số người chết vì bệnh này ở
Nhật thấp hơn ở Mỹ tới sáu lần. Người Nhật sống
ở Hawaii bị nhồi máu cơ tim cao hơn người Nhật sống ở
Mỹ và thấp hơn người Nhật sống trên đất Phù Tang.
Điều đó chứng tỏ ngoài nguyên nhân di truyền, bệnh tim
còn chịu ảnh hưởng của môi trướng với chế độ ăn
uống và nếp sống. Người Nhật sống tại quê hương
tiêu thụ rất nhiều đạm chất do đậu nành cung cấp.
b-Đậu nành và ung thư.
Ung thư là mối đe dọa lớn của nhân loại mà nguyên nhân
vẫn chưa được hoàn toàn sáng tỏ. Chế độ dinh dưỡng
cũng có dự phần và đậu nành được nhiều nghiên cứu
cho là có khả năng làm giảm nguy cơ gây vài loại ung thư
có liên hệ tới kích thích tố như ung thư vú, tử cung,
nhiếp tuyến.
Trong bệnh ung thư, tế bào bất thường tăng trưởng và
sanh đẻ vô tội vạ, xâm lấn, tiêu hủy tế bào lành rồi
cùng nhau lan ra khắp cơ thể. Các tế bào này xuất hiện
dưới tác dụng của những tác nhân gây ung thư mà thực
phẩm là một trong những nguồn cung cấp. Chất nitrites
trong chế biến thịt, aflatoxin trong đậu phọng, vài hóa
chất trong thuốc trừ sâu bọ, mỡ béo, saccharin, chất cà
phệ Nhưng thực phẩm cũng chứa nhiều chất chống ung
thư mà đậu nành nằm trong nhóm này. Đó là nhờ estrogen
thực vật, choán chỗ không cho estrogen thường trong máu
bám vào các tế bào của nhũ hoa, tử cung để gây ung
thư...
c-Đậu nành và bệnh thận
Trái thận tốt rất cần thiết để làm một số nhiệm
vụ phế thải: phế thải chất bã do chuyển hóa của đạm,
phế thải nước, sinh tố, khoáng chất dư trong cơ thể,
phế thải độc chất trong thực phẩm.
Người mắc bệnh thận, các chức năng trên suy yếu.
Tiết giảm đạm chất ăn vào là một phương thức trị
liệu để bớt nặng nhọc cho thận. Nhưng khi đạm động
vật được thay thế bằng đạm thực vật như đậu nành
thì số lượng protein trong nước tiểu giảm, chứng tỏ
thận bớt phải làm việc quá sức. Đạm đậu nành cũng
làm giảm nguy cơ bệnh sạn thận bằng cách không để
calcium thất thoát qua nước tiểu.
Isoflavones đậu nành còn làm bớt cảm giác nóng bừng mặt
trong thời kỳ mãn kinh của nữ giới, làm tăng tính miễn
dịch, làm giảm các triệu chứng của tiểu đường, bớt
sạn túi mật.
Các vị lang y ta cũng đã dùng chế biến từ đậu nành
làm thức ăn cho người bị bệnh thấp khớp, bệnh thống
phong (gout), người mới ốm cần bình phục, người làm
việc lao động quá sức, làm sữa uống cho trẻ sơ sinh.
Kỹ nghệ Âu dược dùng amino acid từ đậu nành để chế
biến kích thích tố progesteron.
Những thức ăn đậu nành
Ngày nay nhiều người đã ý thức rằng đậu nành có tỷ
lệ chất đạm rất cao, có nhiều sinh tố, khoáng chất,
chất xơ và isoflavones hữu ích. Đạm của đậu nành không
những có giá trị dinh dưỡng như đạm động vật, mà lại
dễ tiêu hơn, ít chất béo bão hòa có hại. Họ đã ăn các
món ăn chế biến từ loại đậu này.
Để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu dân chúng, nhiều món ăn
có căn bản đậu nành đã được bầy bán. Kỹ nghệ chế
biến thực phẩm này hiện rất bành trướng và phát
triển .
Ngoài các món cổ điển như sữa đậu nành, đậu phụ
để trong bao ta còn thấy bacon đậu nành, hot dogs đậu
nành, tofu cheese, yogurt đậu nành, veggie burger, hoặc giả
thịt gà, thị bò bằng đậu nành.
Vào các tiệm ăn Á Đông khách còn có thể ăn những món
như:
Tempêh: là món ăn của người Indonesia, làm toàn bằng
đậu nành để lên men với nấm Rhizopus oligosporus, đổ
khuôn thành từng bánh. Khi ăn, cắt từng miếng rồi chiên
hoặc bỏ lò.
Miso: Đây là món ăn của người Nhật. Miso có nguồn gốc
bên Trung Hoa, được một nhà truyền giáo Nhật qua đó
thấy ngon, bắt chước rồi mang về nước mình phổ
biến.
Miso chỉ là cơm lên men trộn lẫn với bột đậu nành pha
muối nấu chín. Tiếp tục để lên men khoảng một tuần
nữa rồi nghiền nát thành bột nhão. Miso được ăn chung
với soup, rau, phết lên dưa gang hoặc ăn với mì thay cho
nước xốt thịt.
Natto: là hạt đậu nành nấu chín rồi để lên men với
nấm Bacillus Nattọ Natto ăn chung với soyce sauce và mustard.
Sữa đậu nành: là món ăn lỏng rất phổ biến ở VN,
Trung Hoạ Ngày nay sữa đậu nành được dùng làm thực
phẩm cho trẻ em trên khắp thế giới.
Với người Việt chúng ta thì các món ăn từ đậu nành
kể ra sợ không bao giờ hết. Có người nói là ta có
đến ba trăm loại thức ăn chế từ đậu nành.
Chỉ với những miếng đậu phụ, chúng ta đã có những
món ăn chay hấp dẫn như đậu hũ cuốn bắp, đậu hũ
hấp chao, đậu hũ kho gừng, đậu hũ hấp, đậu hũ
nướng chao, đậu hũ kho trần bì, đậu hũ chiên sả,
chưng chiên, nấu củ năng, nấu chao.
Quý vị muốn ăn mặn thì ta có đậu hũ xào giá thịt,
nhồi thịt rán, kho thịt, hấp trứng, hấp thịt; canh đậu
hũ thịt cà chua.
Nhậu lai rai ta làm vài bìa đậu phụ luộc chấm mắm tôm
chanh; gỏi đậu phụ với hoa chuối thái mỏng, muối vừng
kèm thêm thìa mắm tôm loãng.
Người Mỹ gọi đậu phụ ta là soybean cheesẹ Làm đậu cũng
giản dị. Ngâm đậu cho mềm, nghiền nhỏ thành sữa, nấu
chín để chất đạm đặc lại rồi ép cho ráo nước. Thế
là có bìa đậu phụ. Nếu muốn có món Sufu hoặc Chinese
cheese thì để đậu phụ lên men ít ngày.
Ta cũng không quên món tương.
Vâng " anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống, nhớ cà
dầm tương". Tương được làm ở mọi nơi trên quê hương
nhưng nếu lại là tương từ làng Bần thì hết chỗ nói.
Tương là một thứ nước chấm làm từ đậu nành, nếp,
muối, ủ theo quy cách nhất định. Đây là món ăn do tác
dụng của vi sinh vật, rất giầu đạm chất thực vật nên
vừa bổ vừa dễ tiêu.
Còn Bần là làng Bần Yên Nhân, thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh
Hưng Yên, cách thủ đô Hà Nội khoảng 12 cây số. Dân làng
Bần có truyền thống nhiều đời làm tương vào tháng
năm tháng sáu khi có nắng, rất cần để phơi tương cho
mau lên men và ủ cho khỏi mốc. Qua một thủ tục chế biến
phức tạp nhưng quen rồi, khoảng ba tháng sau là họ đã có
những hũ tương ngon tuyệt cú mèo để bán cho khách hàng
tứ xứ.
Tương là món ăn quá thông dụng với dân tộc ta, từ vua
chúa, trưởng giả tới thứ dân qua nhiều ngàn năm lịch
sử. Mỗi gia đình thường làm hoặc mua một hũ tương
để dùng quanh năm. Và ngay khi sống xa quê hương, chúng ta
cũng có tương làm tại đây hoặc nhập từ VN tạ Thực là
người Việt mình đi đến đâu thì văn hóa của ta cũng
lan tràn tới đó.
Không cầu kỳ, ta chỉ việc dùng tương như món chấm: rau
muống chấm tương, đậu phụ rán chấm tương, bánh đúc
chấm tương, bê thui chấm tương gừng, nem nướng chấm
tương.
Nấu nướng lách cách ta có cá kho tương cà, tương hột
kho nước dừa, tương xí muội. Hoặc giản dị như những
bác thợ cầy, cô thợ cấy, ta chỉ cần bát cơm nóng
rưới vài thìa tương là đã xong một bữa ăn có đủ
dưỡng chất. Sang hơn nữa là bữa cơm với ít ngọn rau
muống luộc xanh rờn trong lửa to, mấy miếng đậu rán
vàng, vài quả cà dầm tương đỏ, giòn, thơm và ngọt.
Ôi một phần quê hương ta đấy! Gói ghém trong những món
ăn giản dị nhưng mà giầu dân tộc tính.
Kết luận
Với sự tăng gia dân số trên thế giới, con người đang
lo ngại thiếu thực phẩm nhất là protein động vật và
đang tìm cách chế biến thực phẩm từ hóa chất. Chắc
họ cũng không quên " vua trong các loại đậu " là đậu
tương, đậu nành một thực vật dễ trồng lại có giá
trị cao về chất đạm và nhiều phần tử dinh dưỡng
khác.
Texas 3-04
|