|
Contributed by: phuochung |
Views: 2.388
Hồng Ngọc
Ông cụ họ Phùng người Quảng Bình có một con trai tên là
Tương Như. Hai bố con cùng là Chư sinh. Ông Phùng tuổi
gần sáu mươi, tính ương ngạnh, nhà lại thiếu thốn. Chỉ
trong vài năm, vợ và con dâu lại cùng mất cả, việc cơm
nước đều phải tự làm lấy.
Một đêm, Tương Như ngồi dưới bóng trăng, chợt thấy
người con gái láng giềng từ bên kia tường nhìn sang.
Chàng nhìn thấy đẹp đến gần, nàng hé cười, lấy tay
vẫy, nhưng không đến cũng không đi. Chàng cố nài mãi
nàng mới trèo thang sang. Họ ăn nằm với nhau. Khi hỏi họ
tên, cô gái nói:
- Thiếp là con gái nhà láng giềng, tên là Hồng Ngọc.
Chàng rất yêu, xin cùng nàng tính chuyện lâu dài. Cô gái
nhận lời. Từ đấy, đêm đêm thường đi lại, được
độ nửa năm. Một đêm, ông Phùng thức dậy, nghe có
tiếng con gái cười nói, nhòm vào gian nhà của con thì
nhìn thấy cô gái. Giận lắm, gọi chàng ra mắng:
- Đồ súc sinh, làm cái trò gì thế? Cửa nhà sa sút như
thế, còn không biết chịu khó gìn giữ, lại còn học thói
đàng điếm ư ? Người ta biết ra thì phẩm hạnh của mày
còn ra gì nữa! Dẫu người ta không biết thì tuổi thọ
của mày cũng giảm.
Chàng quỳ xuống nhận lỗi, khóc xin hối cải. Ông cụ
mắng cô gái:
- Con gái không biết giữ phép buồng khuê, đã nhuốc mình
lại làm nhuốc cả người. Nếu việc vỡ lở ra, hẳn
không chỉ một mình nhà này xấu hổ.
Mắng xong, ông bực tức trở về nhà ngủ. Cô gái chảy
nước mắt nói:
- Lời bố quở trách thật là thẹn nhục! Duyên phận hai ta
thôi thế là hết.
Chàng nói:
- Còn cha, con không được tự quyết định. Nếu nàng còn
có tình, thời nên cố gắng ngậm tủi làm lành.
Cô gái muốn quyết tuyệt. Chàng nghe, sa nước mắt. Cô
gái lại khuyên giải, nói:
- Thiếp với chàng không có lời của mối lái, không có
lệnh của cha mẹ, chỉ là trèo tường chui gạch mà theo nhau,
thì sao có thể cùng nhau đầu bạc được? Vùng này có
một người tốt đôi với chàng, có thể hỏi làm vợ.
Chàng than rằng nhà nghèo, cô gái nói:
- Tối mai xin đợi, thiếp sẽ mưu tính cho.
Đêm hôm sau, cô gái quả nhiên đến, bỏ bốn mươi lạng
bạc ra tặng chàng, nói rằng:
- Cách đây sáu mươi dặm, ở thôn Ngô có người con gái
họ Vệ, tuổi đã mười tám, còn cao giá nên chưa ai lấy;
chàng đưa nhiều tiền thì ắt phải xong việc.
Nói xong, từ biệt mà đi. Chàng lựa lúc thuận tiện,
thưa với bố, muốn xin đi xem mặt, nhưng câu chuyện số
tiền thì giấu đi, không dám nói cho bố biết. Ông Phùng
tự lượng nhà nghèo, lấy cớ đó gạt đi. Chàng lại tìm
lời ôn tồn nói với bố cứ thử đến xem cho biết
thôi. Ông cụ gật đầu.
Chàng bàn thuê đầy tớ và người ngựa đi đến nhà họ
Vệ. Vệ vốn là người làm ruộng. Chàng gọi ra ngoài nói
chuyện riêng. Vệ biết chàng là con nhà dòng, lại thấy
dáng vẻ đàng hoàng, trong bụng đã bằng lòng, nhưng còn
ngại chàng kỳ kèo tiền nong chăng.
Chàng nghe ông cụ nói ngập ngừng, đã biết, bèn dốc
tiền trong túi ra, bày trên bàn. Vệ mừng, nhờ người
học trò bên láng giềng đứng giữa, viết tờ giấy đỏ
mà giao ước với nhau. Chàng vào nhà chào lạy cụ, thấy
nhà cũng chật hẹp, cô gái đứng nấp sau mẹ. Chàng đưa
mắt nhìn, tuy ăn mặc xuềnh xoàng mà thần sắc tinh anh
rực rỡ, bụng mừng thầm. Vệ mượn tạm nhà bên để
tiếp đãi chàng rể và nói:
- Công tử không cần đón dâu, đợi tôi may được ít
quần áo sẽ đưa đến tận nơi.
Chàng liền hẹn ngày rồi về, nói dối với bố rằng:
- Họ Vệ mến nhà ta dòng dõi thanh bạch nên không đòi
tiền.
Ông cụ cũng mừng.
Đến ngày hẹn, Vệ quả đưa cô gái đến. Cô gái siêng
năng dè sẻn, lại thuần tục nết na, tình nghĩa vợ chồng
thật là thắm thiết. Hơn hai năm sau, sinh được một con
trai, đặt tên là Phúc Nhi.
Nhân ngày tết Thanh Minh, bố con đi thăm mộ, gặp kẻ thân
hào trong huyện họ Tống. Tống nguyên làm quan Ngự Sử
trong triều, phạm tội tham tàng, phải cách chức về làng,
những vẫn giương oai hà hiếp người. Hôm đó cũng đi
thăm mộ về, thấy cô gái cho là đẹp, hỏi người trong
thôn biết là vợ chàng. Nghĩ Phùng là học trò nghèo, đem
nhiều của ra dụ dỗ, có thể làm cho đổi lòng. Liền sai
người bắn tin cho chàng. Chàng nghe thấy, nét giận hiện
ra mặt, rồi lại nghĩ thế không địch nổi với Tống,
bèn nén giận làm vẻ tươi cười, về nói với bố.
Ông
Phùng giận lắm, chạy ra trước mặt người nhà họ Tống,
trỏ trời vạch đất mắng nhiếc tàn tệ. Tên người nhà
ôm đầu lũi đi mất. Họ Tống cũng tức giận, sai mấy
đứa xông vào nhà chàng, đánh cả bố lẫn con, làm sôi
sùng sục. Cô gái nghe thấy, bỏ con xuống giường, xoã tóc
chạy ra kêu cứu. Chúng bèn cướp lấy, khiêng lên rồi
ầm ầm kéo đi. Hai bố con bị đánh sụm, rên rĩ; đứa bé
khóc oe oe trong nhà. Hàng xóm láng giềng cùng thương hại,
xóc đỡ đặt lên giường. Qua ngày sau, chàng chống gậy
mới đứng lên được, còn ông cụ thì tức giận không
ăn rồi thổ huyết mà chết.
Chàng lăn khóc, ẵm con đi kiện Đốc Phủ. Kiện hầu
khắp mọi nơi, rút cục vẫn không thắng, sau lại nghe nói
vợ không chịu khuất phục mà chết, lại càng đau xót. Khí
oan đầy bụng, không lối nào giải bày được. Thường
nghĩ muốn đón đường đâm Tống chết, nhưng lo sợ
đầy tớ nó đông, con nhỏ, lại không gửi được. Ngày
đêm buồn bã nghĩ ngợi, hai mắt không chớp nổi.
Chợt có một người đàn ông đến viếng nhà, râu quăn,
hàm bạnh, xưa nay chưa từng quen. Chàng mời ngồi, toan hỏi
họ tên quê quán, khách đã vội nói trước:
- Ông có cái thù người ta giết mất bố, cướp mất vợ
mà không báo ư?
Chàng ngỡ là người của Tống sai đến dò hỏi, nên chỉ
trả lời ậm ừ cho xong. Khách giận, mắt trợn tròn muốn
rách khóe, liền bước ra nói:
- Tôi tưởng anh là người, nay mới biết anh là thằng
hèn không đáng đếm xỉa.
Chàng xét thấy có cái gì là lạ, liền quỳ xuống, kéo áo
khóc nói rằng:
- Thực ra vì sợ là người nhà họ Tống đến dò la, nay
tôi xin giải bày hết tâm can. Cái điều nằm gai nắm mật
của tôi, kể đã nhiều ngày rồi; chỉ thương hòn máu
trong bọc này, sợ rồi tuyệt tự mất. Ngài là bậc nghĩa
sĩ, liệu có thể vì tôi mà làm chàng Chữ Cu được
chăng?
Khách nói:
- Đó là việc của đàn bà con gái, tôi không làm được.
Cái việc ông muốn nhờ người, xin hãy tự làm lấy, còn
cái việc ông muốn tự làm thì tôi xin làm thay cho.
Chàng nghe nói, đập đầu xuống đất. Khách chẳng thèm
ngoái lại, bỏ đi ra. Chàng chạy theo hỏi họ tên, đáp
rằng:
- Việc không xong, không oán; việc xong không nhận ơn.
Rồi đi liền.
Chàng sợ vạ đến mình, ẵm con đi trốn.
Đến đêm, cả nhà họ Tống đang ngủ, có người vượt qua
mấy lần tường, giết ba cha con nhà Ngự Sử với một
thị tì, một con dâu. Nhà họ Tống làm tờ trạng cáo quan,
quan rất kinh hãi. Tống cố vu cho Tương Như. Vì thế quan
cho lính đi bắt chàng. Chàng trốn không ai biết là đi
đâu, vì thế càng cho là thật. Đầy tớ nhà họ Tống
cùng với nhà quan đi lùng khắp nơi, đêm đến núi Nam
Sơn, nghe có tiếng trẻ khóc, lần tìm ra được, liền
trói mang về. Đứa bé càng khóc dữ, chúng liền giật
lấy vứt đi. Chàng oan ức muốn chết. Khi gặp quan lệnh
ở huyện, quan hỏi tại sao giết người? Chàng thưa:
- Thực là oan! Nhà họ Tống chết về đêm, tôi ra đi từ
ban ngày; vả lại ẵm đứa nhỏ khóc oe oe như vậy thì leo
tường giết người sao được?
Quan lệnh nói:
- Không giết người sao lại đào tẩu?
Chàng đuối lý, không biện bạch được nữa, liền bị
giam vào ngục. Chàng khóc nói rằng:
- Tôi chết cũng không tiếc nhưng đứa bé mồ côi kia có
tội tình gì?
Quan lệnh nói:
- Mày giết con người ta đã nhiều, thì con mày bị giết
còn oán gì nữa?
Chàng bị lột áo mũ nho sinh lại bị cùm kẹp, đánh đập
khổ sở nhưng cũng không xưng nhận điều gì.
Quan lệnh đêm hôm ấy nằm ngủ bỗng nghe có vật gì cắm
phập vào giường, kêu bần bật thành tiếng, sợ quá kêu
lên. Cả nhà giật mình thức dậy, xúm lại đốt đuốc
soi, thấy một con dao ngắn lưỡi sắc nhọn sáng loáng,
găm vào giường, sâu xuống gỗ đến hơn một tấc, chặt
cứng không thể rút ra được. Quan lệnh trông thấy, sợ
hết hồn vía, cho người cầm giáo đi lùng khắp nơi cũng
không thấy tung tích gì cả. Bụng cũng nản, lại nghĩ:
người nhà họ Tống đã chết rồi, không có gì phải
kiềng họ nữa, bàn trình bẩm lên quan trên để giải oan
cho chàng rồi tha về.
Chàng về đến nhà, trong hũ không còn một đấu gạo,
một mình một bóng ngồi trông bốn bức tường mà thôi.
May được nhà hàng xóm thương xót cho ăn uống, tạm bợ
sống qua ngày. Nghĩ đến cái thù lớn đã trả được thì
mừng đến tươi tỉnh lại; nhưng nghĩ đến cái hoạ thảm
khốc, suýt chết cả nhà thì nước mắt lại đầm đìa sa
xuống; lại nghĩ nửa đời nghèo xác dòng dõi không ai
nối, bỗng chàng khóc rống lên, khản cả tiếng không tự
nén giữ được.
Như thế chừng nửa năm, việc bắt bớ cũng nhạt dần,
chàng bèn kêu xin với quan huyện được mang hài cốt họ
Vệ về. Chôn cất xong, đau xót muốn chết. Một mình
trằn trọc trên giường, nghĩ không còn cách gì để
sống.
Bỗng có người gõ cửa, chàng chăm chú lắng nghe, thấy
ngoài cửa có tiếng một người đang nói chuyện với trẻ
con. Chàng vội bật dậy, dòm xem thì hình như một người
con gái. Cánh cửa vừa mở, giọng người con gái liền
hỏi:
- Cái oan lớn đã được rửa, may không việc gì chứ?
Tiếng nói nghe quen lắm, mà trong lúc thảng thốt không
thể nhớ được. Đánh lửa soi thì ra Hồng Ngọc, dắt
một đứa nhỏ cười đùa ở dưới đầu gối. Chàng
chẳng kịp hỏi, ôm lấy cô gái mà khóc oà. Cô gái cũng
thảm hại lắm. Rồi nàng đẩy đứa bé mà nói:
- Mày quên bố mày rồi ư?
Đứa bé nắm lấy áo cô gái, mắt chòng chọc nhìn chàng.
Chàng nhìn kỹ thì ra Phúc Nhị Giật mình kinh hãi, khóc mà
nói rằng:
- Sao con lại về đây được?
Cô gái nói:
- Nói thực với chàng, trước kia thiếp nói là con gái
bên láng giềng là nói dối đấy, thiếp thực là hồ.
Nhân đi đêm thấy tiếng trẻ khóc trong hang, liền bế về
nuôi ở Tần. Nghe nạn lớn đã yên nên đem con về cùng
chàng đoàn tụ.
Chàng gạt nước mắt lạy tạ. Đứa bé ngồi trong lòng cô
gái y như nương tựa vào mẹ đẻ, thật không nhận ra bố
nữa. Trời chưa sáng, cô gái đã trở dậy nói:
- Kẻ hèn mọn này muốn đi đây.
Chàng chưa mặc áo, quỳ ở đầu giường, khóc không
ngẩng mặt lên được nữa. Cô gái cười nói rằng:
- Thiếp nói dối chàng đấy. Nay nhà đương gây dựng
lại, không thức khuya dậy sớm sao được?
Rồi phát cỏ, quét dọn, làm như đàn ông vậy. Chàng lo
nhà nghèo túng, không đủ ăn. Cô gái nói:
- Chỉ xin chàng cứ việc buông màn đọc sách không phải
hỏi đến thiếu đủ, không đến nỗi phải chết đói.
Rồi nàng bỏ tiền sắm khung cửi dệt vải, lại thuê vài
mươi mẫu ruộng, mướn người cày cấy, vác phạng đi
phát tranh, kéo lá lợp nhà, hàng ngày như thế, coi là
việc thường. Làng xóm nghe nói có vợ hiền càng vui lòng
giúp đỡ. Chừng nửa năm sau, cảnh nhà thịnh vượng, như
thể một nhà giàu lớn.
Một hôm chàng nói:
- Sau lúc tro tàn, nhờ mình tay trắng gây dựng lại, nhưng
còn một việc chưa được thoả mãn, biết làm thế nào?
Nàng hỏi là việc gì, chàng đáp:
- Kỳ thi sắp đến, mà khăn áo chưa lấy lại được?
Cô gái cười nói:
- Trước đây thiếp đã lấy bốn lạng vàng gửi lên quan
quảng văn đã lấy lại được tên vào sổ. Đợi chàng
nhắc thì đã lỡ lâu rồi còn gì?
Chàng càng cho là thần. Khoa ấy, chàng đỗ thi Hương.
Bấy giờ tuổi vừa ba mươi sáu, ruộng tốt liền bờ,
nhà cửa cao rộng. Cô gái với thân hình vẫn mảnh dẻ
tưởng như gió thổi là bay, mà làm lụng quá con nhà nông.
Tuy mùa đông rét buốt vẫn chịu khó làm, mà bàn tay vẫn
mềm mại. Tự nói là ba mươi tám tuổi, người ta trông
chỉ chừng đôi mươi.
oOo
|