|
Contributed by: phuochung |
Views: 2.470
Kim Định
1. Trống Đông sơn là một lâu đài văn hóa chung cho các
nứơc Đông Ắ và Thái Bình dương, xuất hiện vào quãng
đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước tây lịch. Cao 63cm.
Mặt rộng 79 cm. Tang rộng 85 cm. Những hình ảnh tạc trên
trống biểu thị một nền Minh Triết rất ơn ích mà ta có
thể tóm lại trong ba nguyên ly nền tảng sau là Thái Hòa,
Nhân Chủ, và Tâm Linh.
Có Minh Triết là khi nền triết nào đạt Thái Hoà.
Đạt Thái hòa là khi nối được hai thái cực lại thành
một như nối Có với Không, Vô với Hưũ. Đây là hai
thái cực cùng tột và thường được biểu thị bằng
hình tròn với vuông, hoặc số chẵn với số lẻ, nghĩa
là những cái đối cực nhau mà có thể hình dung ra
được, vậy mà phải hòa được với nhau. Hễ hòa được
thì gọi là Thái hòa.
Đây là cái Hòa căn để sinh ra mọi cái hòa bé nhỏ khác,
như trong xã hội không chia giai cấp chủ nô, hữu sản với
vô sản. Trong thực tế hầu không đâu đạt được nền
Thái Hòa nọ, mà chỉ có một bên mất bên kia, gọi chung là
duy tâm hay duy vật trong triết gọi đó là nhị nguyên đối
kháng, gây ra biết bao chia rẽ đau thương. Vì khi triết
đã duy vật một chiều, thì dù muốn hòa mấy đi nữa
vẫn không hòa được, như CS càng chống giai cấp thì lại
càng gây thêm giai cấp mới. Vì thế mà ta không gặp
thấy Thái Hòa đâu cả. Phải trở về mãi thời thái cổ
mới gặp được nét Thái Hòa, và gặp nhiều nhất là
nơi Thái Bình dương, thí dụ:
2. Thái Hòa thấy được trong trống đồng Đông Sơn rất
là đầy đủ. Trước hết khi xem toàn thể di vật thì
thấy Thái Hòa giữa mặt và tang trống.
- Mặt trống với tang trống được trình bày như hai
đối cực: một ngang, một dọc, dọc là tang trống, ngang
là mặt trống, Mặt chỉ tiên mẹ, tang chỉ rồng chạ 50 con
theo mẹ lên núi mặt, 50 con theo cha xuống biển tang. Tiên
mẹ được biểu thị bằng các lọai chim nứơc như hải âu
(Âu Cơ nghi mẫu) hồng hộc (hạc) vụ, lộ. Còn tang là cha
rồng biểu thị bằng 6 chiếc thuyền đã biến thể thành
6 con rồng đang nằm ngửa há miệng chờ cái hôn sâu tới
tận họng.
- Thứ đến riêng mặt trống thì trung cung là vầng nhật
được bao quanh bởi 14 Tam giác gốc. Con số 14 chỉ 2 tuần
trăng: 2 X 7= 14. Hai vừng nhật nguyệt biểu thị Thái cực
sinh lưỡng nghi được chỉ thị bằng hai bên chẵn lẻ.
-Chẵn ở bên chiêu: trên nóc nhà có hai chim, đoàn người
6, đòan chim 4 cặp. Lẻ ở bên mục: trên nóc nhà 1 chim,
đoàn người 7, đoàn chim 3 cặp.
- Ngòai ra còn nhiều cặp đối chọi khác như chim thì con
to con nhỏ, con đứng con bay. Mười con hươu sao thì con cái
con đực
- Tóm lại là hai đối cực được đặt nổi cách chói
chang, thế mà bao giờ cũng được nối lại cách rất
chặt chẽ bằng cái hôn giao chỉ: nên không thể chối cãi
được là có Thái Hòa. Mà đã đạt Thái Hòa thì tất có
khả năng gây mọi cuộc hòa nhỏ để áp dụng vào cõi nhân
sinh, như trong xã hội không hề có chế độ nô lệ,
không bên chủ bên nô, cũng không chia ra bên hữu sản với
vô sản, mà là Bình Sản cho hết mọi ngươì. Tòan dân chỉ
có một nền văn hóa chung tự vua chí dân y như nhau. Đó
là văn hóa của Con Người Nhân Chủ.
3. Nhân Chủ là Con Người nối kết được tiểu ngă với
Đại Ngã, mà Đại Ngã là vô biên. Chính cái vô biên đem
lai cho con người vị trí cao cả ngang hàng với trời cùng
đất như một vua trong ba vua: nếu Trời là vua, Đất là
vua, thì Người cũng là vuạ Đó là ba quyền lực tối cao
mà người là một, quen gọi là cõi người ta trở nên
một Tài trong tam Tài: Trời, Người, Đất. Trời được
đại diện do mặt Nhật ngự ở trung cung. Người chiếm
hai vòng giữa: vòng Tam giác gốc chỉ con người Đại Ngã,
rồi đến vòng tiểu ngã là các người đi kiệu đang ca
nhảy múa hát.
Hai vòng ngoài cùng gồm toàn chim muông nên chi thiên nhiên,
tức tài Địa.
Thật là rõ ràng: có đủ ba cõi: Trời, Đất, Ngừơi.
Nhờ vậy con người không bị nô lệ cho trời kiểu định
mệnh. Cũng không nô lệ cho đất, không nô lệ cho địa
lợi như duy vật. Cả hai đều gây khổ lụy cho con người
như ta thấy dọc dài qua ba mươi thế kỷ: những nước bị
thứ triết lý duy đó đều đói khổ, như duy tâm Ấn
độ, hay duy vật CS nay.
4. Còn điểm cuối cùng nữa là Tâm Linh.
-Tâm linh là cái linh đặt ngay trong tâm hồn con người.
-Nói kiểu tích cực thì phải tìm cái linh thiêng cao cả
ngay trong Tâm mình mà không được tìm cả bên ngòai nơi
vật thể. Bên ngoài là lý trí với hiện tương hữu
hình, chỉ được chiếm 2, còn 3 phải dành cho bên trong là
Tâm tình, là Tính thể viên dung nguồn mạch mọi phúc lạc,
nhưng vì thiếu chữ Chí Trung không thấy được đâu là
nguồn hạnh phúc, mới tìm ra bên ngòai.
-Nhưng tìm ra ngòai thì càng ra lại càng đói, vì những
cái hưũ hạn dù có chồng chất lên bao nhiêu cũng không
khỏa lấp nổi cơn đói khát cái vô biên, nên thấy còn
đói thì tưởng khối lượng trước chưa đủ, nên lại
thêm nữa, thêm nữa, càng ngày càng cần đến những
khối lượng khổng lồ, mà vẫn không no đủ, chỉ tổ gây
thêm đau khổ muôn trùng. Những "nghệ thuật" khổng lồ
như ziggurat, kim tự tháp v.v..đã mọc lên giữa muôn đau
khổ, y như những đội quân khổng lồ hiện nay vượt xa
tầm kích của nước thuộc cùng một lọai khổng lồ tuy
có khác hình thái nhưng vẫn gieo đau thương khổ lụy như
nhau.
5. Muốn tránh khổ lụy thì phải đi trở vào, càng vào thì
càng đi tới hòa hợp. làm cho tâm hồn được sảng khóai
vô vàn.
Vậy đó là đường lối Trống Đồng, một di vật mà
các nhà nghiên cứu gọi là nhạc khí vũ trụ vì nó chứa
đủ trời, đất, người, ấy thế mà nó lại được hiện
thực vào hình thái của cái cối giã gạo chày đứng, một
vật dụng ăn làm hằng ngày trong tầm tay mọi người,
không một tham vọng lượng chất nào hết, đến nỗi các
nhà nghiên cứu đã ghi nhận sự vắng bóng kích thước
khổng lồ làm nét đặc trưng văn hóa Đông Sơn.
Vậy đã là đặc biệt nhưng còn đặc biệt hơn nữa là
các hình vẽ đều hòa hợp với nhau để làm nên con
đường xóay ốc vào trung cung. Sách Trung dung thu gọn vào
câu"Chí trung hòa". Câu đó có thể giải rộng rằng: càng
tiến vào trung bao nhiêu thì càng đi vào hòa bấy nhiêu.
Đây có Chí Hòa thì tất có vụ đang tiến vào cõi Chí
Trung:. Mà quả thật cả đòan đang tiến vào Trung Cung cách
động đích.
6. Hãy xem vòng ngòai cùng có 36 chim vừa chỉ 4 phương 4
mùa, vừa chỉ 4 chiếc hoa quỳ 9 cánh. Gọi là hoa quì vì nó
hướng dương tức tiến về phía tả nhậm, là phía mặt
trới mọc, nên nó như đòan chim phượng hướng tới để
chào mặt trời ban mai, gọi là "minh phượng triều dương",
hàm ý tiến vào cõi Tính thể. Nên khi ngắm đòan chim
tiến ngược kim đồng hồ ta dễ liên tưởng tới câu
phong dao:
"Hoa quỳ chăm chắm hướng về Thái dương."
Nhờ vậy mà cả đoàn có thái độ hoan lạc phong lưu. Theo
nguyên nghĩa thì phong là gió, lưu là nước, hai chữ chập
lại chỉ lối sống an vui thanh thóat được biểu thị bằng
những cánh chim vươn dài như làm cho tấm thân trở thành
nhẹ nhõm lâng lâng như thân chim toan cất cánh, nó biểu
lộ tâm hồn siêu thóat thênh thang.
7. Đó chính là kết quả của nền Minh Triết dựa trên ba
nguyên lý đầy nhân chủ tính là:
-Thái Hòa, được minh họa bằng mẹ tiên trên mặt, cha
rồng dưới tang. Giữa mặt trống là Nhật Nguyệt, rồi
chia hai bên chẵn lẻ. Chẵn số 2, lẻ số 1 mà vẫn hợp
hòa khăng khít bằng cái hôn đắm đuối Giao Chỉ.
- Nhân chủ, được giới thiệu bằng vị thế Người
đứng giữa Trời cùng Đất. Tiếp với Trời là những
Đại Ngã. Tiếp với Đất là những tiểu ngã đang ca vũ
làm thành một cõi người tạ
- Tâm linh. biểu thị bằng những vòng vũ xóay ốc vào
trung cung nguyệt nhật thái hợp, thái hòa, tạo nên một
nền Thống nhất lẫm liệt trên cấp vũ trụ.
Đó là ba nguyên lý của nền Minh Triết đã gây dựng cho
các dân nước biết noi theo được hưởng một nếp sống
đầy an vui phúc lạc. Nền triết này chắc sẽ góp phần
lớn vào việc kiến tạo một nền văn minh mới thế cho
nền văn minh hiện nay thiếu nguyên lý mẹ, tức đang bị
điều động bởi ba nguyên lý vật thể là Đồng Nhất,
Triệt Tam, và Nguyên ủy. Đó là bấy nhiêu sợi dây cột
chăt tâm thức con người vào vật thể làm cho đời sống
nếu không đầy sầu bi thống khổ, thì cũng tràn ngập lo
âu khắc nghị: chỉ biết cắm trọn mắt vào cõi hiện
tượng, không biết ngẩng mặt lên nhìn "Hóa Nhi Đa Hí
Lộng" để biết sống cuộc đời an vui thanh thóat giống
với trống đồng: tung tăng như đàn cá nước, nhởn nhơ
như những chim trời.
Dân tộc muốn đòan hợp an vui, nhân loại muốn thống
nhất hòa lạc thì không thể tìm được biểu hiệu nào
cao siêu và linh nghiệm hơn chiếc Trống Đông Sơn vậy. /.
Kim Định viết tại Garden Grove, ngày 17/5/1989 (Tài liệu này
do LM Trần Công Nghị giữ)
oOo
|