|
Contributed by: phuochung |
Views: 4.495
Phạm Phong Dinh
Đất nước VN anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Những
đấng tiền nhân tiên liệt đã chiến đấu và viết nên
những trang sử chống xâm lược chói lọi nhất trong lịch
sử nhân loại.
Giở lại những trang sử chiến đấu dũng mãnh và hào
hùng của Quân Lực VNCH, nhân tưởng niệm ngày 30-04, là
ngày nước VNCH thôi tồn tại, chúng tôi muốn kể lại cho
các bạn trẻ VN công nghiệp chiến đấu và những giây
phút chói chang cuối cùng của những vị thần tướng làm
rạng danh nước Nam trên trường quốc tế: Thiếu Tướng
Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng
Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê
Nguyên Vỹ.
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là hậu duệ của dòng họ
Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ
tổ từ đời này sang đời nối tiếp đều có công trạng
giúp Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi về phương Nam, mà
điểm dừng là mũi Cà Mau. ược hun đúc từ truyền
thống ấy, Thiếu Tướng Nam thuở còn ở tuổi học sinh
siêng năng chăm học, rất hiếu thảo với cha mẹ, ông
thường nghiền ngẫm kinh Phật, sách triết học và Nho
học. Người cũng rất say mê hội họa, âm nhạc và giỏi
về nhạc lý. Sau này khi đã trở thành vị tướng Tư Lệnh
Sư Đoàn 7 Bộ Binh và rồi lên Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân
Khu IV người nổi tiếng là vị tướng từ ái, thương
lính yêu dân, rất được quân và dân Miền Tây kính
trọng và yêu thương. Mỗi lần Thiếu Tướng Nam bay đến
các tiểu khu (tỉnh) hay các đơn vị chiến trường nào,
ông cũng đều không muốn làm phiền thuộc cấp vì
chuyện ăn uống. Lắm lúc ông chỉ cần vài trái bắp
luộc là đã xong cho một bữa trưa. Nếu ở Bộ Tư Lệnh
thì người luôn luôn xuống Câu Lạc Bộ cùng dùng cơm
với các sĩ quan, có gì ăn nấy. Là một Phật tử thuần
thành, Thiếu Tướng Nam ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố
gắng tôn trọng những giới cấm, tránh sát giới nhưng
vẫn chu toàn bổn phận của một người lính chiến đấu
bảo vệ tổ quốc. Bà con thân hữu đến thăm ông thì
được, nhưng để xin ân huệ hay nhờ vả đều nhận
được sự từ chối thẳng thắn. Cuộc sống của người
quá giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa,
không gì hết, đơn giản đến mức trở thành huyền
thoại.
Tướng Dương Văn Minh, người được Quốc Hội VNCH bỏ
phiếu đa số chấp thuận lên nắm quyến Tổng Thống vỏn
vẹn mới có ba ngày đã vội vã ra lệnh toàn Quân Lực
VNCH buông súng thôi chiến đấu từ 10 giờ sáng ngày
30.04.1975.
Dưới Quân Khu IV (Miền Tây) các tướng lãnh của quân ta
nào đâu chịu đầu hàng một cách nhục nhã như vậy. Đại
cuộc không thành, thành mất thì tướng phải tuẫn tiết
theo thành. Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan
Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của
người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến
hồi đen tối, chiến hữu gãy súng và thương phế binh
chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la
trên hè phố bụi đất với những vết thương còn lở
lói và rướm máu, đã làm cho đôi mắt của người sưng
húp lên. Đến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư
Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó quân Khu IV đã
nổ súng tuẫn tiết trong văn phòng tại trại Lê Lợi.
Đến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ
phục trắng của Quân Lực VNCH, với ngù vai, dây biểu
chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm
chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lệnh.
Rồi người đưa khẩu Browning lên bắn vào màng tang,
đầu người gục xuống về phía trái. Ngày hôm sau, các
sĩ quan còn ở lại Bộ Tư Lệnh đã đứng nghiêm chào
người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa
Trang Quân Đội Cần Thợ Trong đầu năm 1994, thân nhân
của Thiếu Tướng Nam đã xuống Cần Thơ bốc mộ, hỏa
thiêu và mang tro cốt đem về thờ trong chùa Gia Lâm trên
đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, Saigon.
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV;
Quân Khu IV đã tự sát trong văn phòng Tư Lệnh Phó tại
Trại Lê Lợi nằm trên đường Hòa Bỉnh, Cần Thơ, trước
Thiếu Tướng Nam vài tiếng đồng hồ. Tên tuổi của
Chuẩn Tướng Hưng được biết đến từ khi ông còn là
một sĩ quan chiến đấu trên chiến trường Miền Tây và
được xưng tụng là một trong những con mãnh hổ dũng cảm
nhất của Quân Lực VNCH. Từ chức vụ Đại Tá Trung Đoàn
Trưởng Trung Đoàn 31 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, ông
được điều động lên Quân Khu III làm Tư Lệnh Sư Đoàn
5 Bộ Binh và được vinh thăng Chuẩn Tướng chỉ vài tháng
trước khi chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa nổ lớn tại An
Lộc trong năm 1972. Định mệnh đã chọn Chuẩn Tướng Hưng
làm người tử thủ An Lộc và đánh thắng đến bốn sư
đoàn địch, vang danh quân sử VN và chiến sử thế giới.
Hình ảnh dũng cảm và quen thuộc mà chiến sĩ tử thủ An
Lộc ngưỡng mộ người Tư Lệnh của họ, là chiến sĩ Lê
Văn Hưng đầu đội nón sắt, quần lính, áo thun màu ô
liu, tay xách cây M16 như bất cứ một người lính khinh
binh nào, làm việc 24/24 giờ một ngày bên chiếc đèn
vàng mù mờ ánh sáng, hay ra chiến hào khích lệ tinh thần
binh sĩ và tỉ mỉ giảng giải cách sử dụng súng chống
chiến xa M72 để bắn xe tăng địch.
Dưới sự chăm sóc và chỉ huy của Thiếu Tướng Nam và
Chuẩn Tướng Hưng, Quân Đoàn IV gồm các Sư Đoàn 7, 9 và
21 Bộ Binh đã đem lại những ngày an bình cho người dân
Miền Tây. Hai vị Tướng đã là một cặp chiến binh kiệt
xuất tạo nên bức tường thành vững chắc cho Quân Khu IV.
Cho đến cái ngày oan nghiệt 30.04.1975, hai vị Tướng
nhiều lần nhận được lời đề nghị khẩn thiết của
người Mỹ muốn giúp hai vị và gia đình di tản sang Hoa Kỳ,
nhưng cả hai vị Tướng đã khẳng khái từ chối. Cho đến
4 giờ chiều cùng ngày, hai vị Thiếu Tướng còn cố liên
lạc với các đơn vị hỏi xem có nhận được lệnh hành
quân và phóng đồ bố trí chiến đấu chưa. Tất cả
đều trả lời không. Hóa ra viên đại tá được giao trọng
trách chuyển lệnh đã bỏ trốn mất. Hai vị Tướng tức
uất thở than cho vận nước. Danh từ đầu hàng từ đầu
cho đến tàn cuộc chiến rất xa lạ với người chiến sĩ
QLVNCH. Chuẩn Tướng Hưng vẫn với bộ quân phục tác
chiến bộ binh màu ô liu trở lại văn phòng Tư Lệnh Phó
gặp lại vợ con nói lời vĩnh biệt và ân cần khuyên nhủ
bà Chuẩn Tướng phu nhân gắng cắn răng sống nuôi con,
dạy dỗ con nên người, nói cho chúng biết về người cha
đã chết như thế nào cho tổ quốc. Người cũng trân
trọng từ biệt các chiến hữu:
"Tôi không bỏ các anh để đưa vợ con ra ngoại quốc. Tôi
cũng không thể chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng
cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi tôi có
rầy lạ Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu
có."
Những người lính ôm lấy lá cờ vàng và cây súng thân
thương vào lòng khóc nức nở. Họ biết giây phút vĩnh
biệt người chủ tướng đã điểm. Chuẩn Tướng Hưng
cố xô đẩy đuổi mọi người ra ngoài, bình thản đóng
kín cửa văn phòng lại. Có tiếng súng nổ chát chúa từ
bên trong vọng rạ Bà Hưng và các chiến hữu phá cửa xông
vào. Chuẩn Tướng Hưng nằm ngã người tựa vào giường
nửa trên nửa dưới, hai cánh tay dang ra và giật mạnh,
toàn thân run rẩy từng cơn, đôi mắt còn mở to uất
hờn. Người đã bắn vào tim để tỏ rõ tiết tháo một
người Tướng lãnh của Quân Lực VNCH. Máu từ trong tim
người thấm ướt mảng áo ngực và loang ra đỏ thắm tấm
drap trắng. Thời điểm người anh hùng thăng thiên đúng 8
giờ 45 tối ngày 30.04.1975. Khoảng 11 giờ khuya, Thiếu
Tướng Nam gọi điện qua chia buồn. Bà Thiếu Tướng Hưng
nghe rõ tiếng thở dài của người Tư Lệnh phía bên kia
đầu dây.
Trong cái ngày đau buồn ấy, tại bệnh viện Grall (Đồn
Đất) Saigon, người ta đưa vào thi hài của Thiếu Tướng
Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu II, một
chiến binh mà các cấp bậc đi lên đều được trao gắn
vinh thăng tại mặt trận. Thiếu Tướng Phú đã uống
thuốc độc chết cùng với vận nước. Từ cái ngày
người bị trọng thương và sa vào tay giặc ở Điện Biên
Phủ tháng 05.1954, rồi được trả về cho VNCH sau ngày ký
Hiệp Định Geneva 20.07.1954, Thiếu Tướng Phú đã thề
với lòng là người thà chết chứ không chịu nhục nhã
lọt vào tay giặc một lần nữa. Lời thề ấy người đã
giữ trọn, người chết đi mang theo một nỗi hận mất
nước và một nỗi oan khuất về cuộc triệt thoái Quân
Khu II không mong muốn. Còn nhớ tại trận Điện Biên Phủ,
toàn tiểu đoàn của Đại Úy Phú chỉ còn có 100 tay súng
mà phải ngăn chống một số lượng quân địch đông gấp
hai mươi lần, ông dẫn quân lên đánh cận chiến với
địch và giành lại được hơn 100 thước chiến hào.
Đại
Úy Phú và một số các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn đều
bị đạn địch quật ngã và một vài giờ sau đó bị sa vào
tay giặc. Trong thời gian bị giặc bắt làm tù binh, bệnh
phổi của Đại Úy Phú tái phát và ông mang bệnh lao. định
mệnh vẫn còn muốn cho người anh hùng được sống, để
tiếp tục chiến đấu cống hiến nhiều hơn nữa cho nền
tự do của tổ quốc, sau tháng 07.1954 Đại Úy Phú được
trả về cho VNCH. Vị Tướng mảnh khảnh người, khuôn mặt
xương nhưng có cái bắt tay mềm mại ấm áp ấy đã nhanh
chóng trở thành một trong những vị Tướng xuất sắc
nhất của Quân Lực VNCH, lần lượt đảm nhiệm những
chức vụ quan trọng: Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tư
Lệnh Biệt Khu 44 thuộc Miền Tây, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ
Binh, và sau hết Tư Lệnh Quân Đoàn II; Quân Khu IỊ Chính
là ở vị thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú
phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm
vóc quốc gia, mà đã vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của
ông. Người ta cho rằng việc thất thủ Ban Mê Thuột là do
lỗi thiếu phán đoán của Thiếu Tướng Phú. Người ta
chỉ có thể dùng quân luật và quân lệnh để bắt buộc
Thiếu Tướng Phú thi hành lệnh rút quân, thậm chí đặt
ông vào tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe ngay
trong ngày 14.03.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút
quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau lòng theo dõi
các mũi tiến quân của địch, như những vết dầu loang
nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lãnh thổ VNCH.
Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của mình cũng co ngắn
lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những
chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đã
tràn ngập khắp phố phường Saigon trong ngày 30.04.1975,
người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống
độc dược, để tỏ rõ ý chí bất khuất của người làm
Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có
thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục
được tiết tháo của những người lính Quân Lực VNCH.
Một trong những hồi ức rất đẹp và rất hào hùng mà
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ còn để lại trong chiến sử
VN, là lúc ông cầm khẩu súng chống chiến xa M72 nhoài
người lên khỏi hầm chỉ huy của Chuẩn Tướng Lê Văn
Hưng tại An Lộc bắn cháy một chiếc T54 chạy lần quầng
sát một bên, trong lúc Chuẩn Tướng Hưng đã thủ sẵn
một trái lựu đạn trong tay để cùng chết với quân
địch. Đại Tá Vỹ đích thực là một khuôn mặt lừng
lẫy của Miền Đông khi ông về phục vụ dưới cờ của Sư
Đoàn 5 Bộ Binh từ năm 1968. Đại Tá Vỹ nổi danh là một
chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có
tài tham mưu và chỉ huỵ Sau chiến thắng An Lộc, Đại Tá
Vỹ được đề bạt lên làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ
Binh, cho đến gần cuối năm 1974, sau một khóa học Chỉ Huy
và Tham Mưu Cao Cấp bên Hoa Kỳ về, cái ghế và văn phòng
Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đang chờ đợi ông, cùng với
chiếc lon mới Chuẩn Tướng. Chuẩn Tướng Vỹ dưới con
mắt nể trọng của chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh, là một
vị chỉ huy siêng năng và đáng kính. Người nổi tiếng
thanh liêm và chống tham nhũng, bản tính của người bộc
trực và dễ nổi nóng trước cái ác và cái xấu. Một
số sĩ quan trong sư đoàn làm chuyện càn quấy, ăn chận
trên xương máu của chiến sĩ đều bị người trừng trị
thẳng cánh. Chuẩn Tướng Vỹ là một trong những vị
Tướng hiếm hoi có tinh thần tự trọng cao độ, không bao
giờ ỷ lại vào mọi sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ. Người
ta nhìn thấy ở ông một tinh thần tự lực cánh sinh và
có nhiều sáng kiến khi phải đương đầu với những vấn
đề khó khăn. Về mặt quân sự, người có một tầm
nhìn chiến lược rất bao quát và thường hay bày tỏ với
các sĩ quan tham mưu:
"Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh mình ngoài này mà sẽ
tìm cách len lỏi đi thẳng về Saigon".
Sự phán đoán đó về sau đã hoàn toàn đúng. Một quân
đoàn Bắc Việt không giao chiến với Sư Đoàn 5 Bộ Binh,
mà tìm cách len lỏi xuyên qua những điểm bố trí của sư
đoàn, hối hả tiến về Saigon để dứt điểm Tướng
Dương Văn Minh. Sáng ngày 30.4.1975 họp tham mưu sư đoàn
xong, Chuẩn Tướng Vỹ và toàn ban sĩ quan ngồi bên chiếc
máy thu thanh chờ nghe Tướng Minh đọc nhật lệnh quan
trọng. Trong thâm tâm Chuẩn Tướng Vỹ, người cứ tưởng
là Tướng Minh sẽ kêu gọi toàn quân chiến đấu đến
cùng, hoặc di tản về Miền Tây tiếp tục đánh. Thực
chất chỉ là một bản nhật lệnh ngắn ngủi, khô khan, kêu
gọi chiến sĩ Quân Lực VNCH các cấp buông súng, ai ở
đâu thì ở đó và chờ binh đội cộng quân đến bàn
giao.
Chuẩn Tướng Vỹ nghiến răng miễn cưỡng ra lệnh cho binh
sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp
giải tán. Trước khi chia tay, Chuẩn Tướng Vỹ đã mời
các sĩ quan cùng ăn một bữa cơm cuối cùng với ông.
Nhìn khuôn mặt trầm buồn và ánh mắt u uất của vị Tư
Lệnh, các sĩ quan đoán chắc thế nào ông cũng tử tiết
để bảo toàn danh dự người làm Tướng, nên họ đã khéo
léo giấu hết súng. Bữa cơm vĩnh biệt được dọn ra,
những hạt cơm trắng ngần trong khoảnh khắc đó dường
như có vị mặn của máu và cứng ngắc như những hạt sỏi.
Mọi người còn đang dùng cơm thì Chuẩn Tướng Vỹ bỗng
bỏ ra ngoài đi nhanh về hướng chiếc trailer dùng làm văn
phòng tạm cho Tư Lệnh. Các sĩ quan kinh hoàng nghe hai tiếng
nổ đanh gọn phát ra từ chiếc trailer. Mọi người hối hả
chạy ùa tới mở cửa thì thấy Chuẩn Tướng Vỹ nằm
trên vũng máu và người đã thực sự ra đi, trên tay còn
cầm khẩu Beretta 6.35 mà mọi người không nhớ là nó còn
nằm trong chiếc trailer. Chuẩn Tướng Vỹ đã bắn vào
phía dưới cằm, đạn đi trổ lên đầu. Khi các sĩ quan
và binh đội CS vào tiếp quản doanh trại. sĩ quan sư đoàn
cao cấp của địch đã nghiêng mình kính phục khí tiết của
Chuẩn Tướng Vỹ và nói: "Đây mới xứng đáng là con nhà
Tướng."
Các chiến sĩ sư đoàn chuyển thi thể vị chủ tướng ra an
táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư Lệnh. Ít lâu
sau, thi thể Chuẩn Tướng Vỹ lại được thân nhân bốc
lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Saigon.
Năm 1987, bà cụ thân mẫu của Chuẩn Tướng Vỹ lặn lội
vào Nam hỏa thiêu hài cốt của người anh hùng và đem về
thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại quê nhà ở tỉnh Sơn
Tây.
Cũng với tấm lòng của những người mẹ thương con bao la
mênh mông như đại dương, bà cụ thân mẫu của Chuẩn
Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng còng còm cõi với
thời gian, đã mưu trí gạt được quân cộng đang tràn
ngập trong căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho, nơi đặt Bộ Tư
Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đem được thi thể vị Tư Lệnh
về Gò Vấp mai táng. Bà rưng rưng nước mắt nghẹn ngào
nhận gói di vật của con bà từ tay một vị Trung UÙy
thuộc cấp, trong đó có một vài vật dụng cá nhân và
số tiền hai tháng lương khiêm nhường của Chuẩn Tướng
là 70.000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi
ra đi người còn cố gửi về cho mẹ số tiền nhỏ bé
đó. Lúc còn sống Chuẩn Tướng Hai nổi tiếng là vị
Tướng thanh liêm, cuộc đời thanh đạm không có của cải
vật chất gì đáng kể, ngoài chiếc xe Jeep của quân đội
cấp cho, thì khi người ra đi, người chỉ để lại cho
hậu thế thanh danh thần tướng cùng tấm lòng sắt son
đối với dân tộc và tổ quốc.
Tài năng của Chuẩn Tướng Hai được xác định bằng
những chức vụ quan trọng trong hệ thống quốc gia như
Tỉnh Trưởng Phú Yên, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân,
Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II; Quân Khu II, Tư Lệnh Cảnh Sát
Quốc Gia và sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Đảm
nhiệm những chức vụ cao tột như vậy mà người vẫn
sống một cuộc sống bình dị, nghiền ngẫm kinh Phật,
trên tay lúc nào cũng thấy những loại sách học hỏi khác
nhau. Chuẩn Tướng Hai cũng nổi tiếng là vị Tướng
thương yêu và chăm lo cho đời sống chiến binh các cấp
dưới quyền hết mực, thậm chí coi thường cả mạng
sống. Như câu chuyện đã trở thành huyền thoại về Đại
Tá Hai, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân, đầu năm 1968
đã cùng vài sĩ quan đáp phi cơ C123 ra tận chiến trường
Khe Sanh và nhảy xuống, lặn lội ra tận từng chiến hào
tiền tuyến thăm hỏi khích lệ chiến sĩ Tiểu Đoàn 37
Biệt Động Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời
của địch.
Năm 1974 định mệnh đã đưa Chuẩn Tướng Hai về làm Tư
Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh để tên tuổi của người lưu
tại nghìn thu trong sử sách, bằng cái chết hào hùng mà
đã làm địch quân kinh hoàng.
Trước ngày 30.04.1975 chừng hơn một tuần, đích thân
Tổng Thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn
Tướng Hai di tản, mặc dù Chuẩn Tướng Hai không phải là
người thân cận hay thuộc phe phái của ông Thiệu, điều
đó cho thấy uy tín của người rất lớn. Chuẩn Tướng
Hai thẳng thắn từ chối và cương quyết ở lại sống
chết với chiến hữu của ông. Chuẩn Tướng Hai trong ngày
cuối cùng vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục tác
chiến ngồi trong văn phòng Tư Lệnh chờ quân địch đến.
Người ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và chiến binh thuộc
cấp trở về với gia đình, nhưng có một số vẫn nhất
quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của họ. Vì họ biết
Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao căn cứ Đồng Tâm,
hoặc nếu có bàn giao thì cái phương thức ông làm sẽ
không phải là phương thức kiểu đầu hàng.
oOo
|
|