Viet Nam Network

Welcome to VN.NET
27/11/14

Nhớ thi sĩ Nguyên Sa
  |      Contributed by: phuochung  |  Views: 2.371
Nguyễn Xuân Hoàng

LTS: Nguyên Sa tác giả những bài thơ lừng danh như Áo Lụa Hà Đông, Tuổi Mười Ba, Paris Có Gì Lạ Không Em, Tháng Sáu Trời Mưa, Nga,É đã chia tay chúng ta ngày 18 tháng Tư, 1998.

Ông tên thật Trần Bích Lan, sinh ngày 1 tháng Ba, 1932, Hà Nội. Năm 1949 du học Pháp. Đậu tú tài năm 1953 ông ghi danh học ban Triết ở Sorbonnẹ Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thúy Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà trở về nước.

Ông dạy môn Triết ở trung học Chu Văn An và mở những lớp dạy Triết cho học sinh chuẩn bị thi tú Tài hai. Sau đó do lời mời của giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, ông nhận lời dạy Triết tại Đại Học Văn Khoạ

Năm 1975, gia đình ông định cư ở Pháp, nhưng ba năm sau thì gia đình rời Pháp sang Hoa Kỳ, định cư ở Californiạ Tại đây ông hoạt động văn học và báo chí: chủ nhiệm, chủ bút các tạp chí Đời, Phụ Nữ VN và tuần báo Dân Chúng. Ông làm thơ trở lại, sáng tác rất đều và đã ấn hành nhiều tác phẩm. Đáng kể nhất là Thơ Nguyên Sa tập 2, Thơ Nguyên Sa tập 3. Ngay khi nằm trên giường bệnh ông chuẩn bị in Thơ Nguyên Sa tập 4.

Ngày 18 tháng Tư, 1998 ông rời bỏ cõi tạm ra đi.

Tưởng niệm ngày mất của nhà thơ lớn Nguyên Sa, chúng tôi xin đăng lại bài viết của Nguyễn Xuân Hoàng trên tạp chí Văn, số đặc biệt về Nguyên Sa, tháng Sáu, 1998.

Thả bộ trên đường

Bolsa, nhớ tác giả

Áo Luạ Hà Đông

Người đầu tiên gọi báo cho tôi biết tin anh Nguyên Sa không còn nữa là hoạ sĩ Khánh Trường. Lúc đó là bốn giờ ba mươi chiều thứ Bảy, 18 tháng Tư, 1998. Tôi vừa từ phi trường John Wayne trở về. Chuyến bay của hãng Continental khởi hành từ Virginia ghé trạm chính ở Houston vì bị bão. Phi cơ nhồi xốc dữ dội. Bầu trời ngoài khung cửa mù mịt mây đen. Cái cảm giác lạc mất giữa không gian làm tôi run sợ. Ở trạịm Houston, hành khách đi Cali chờ đợi sốt ruột. Chuyến bay trễ gần hai tếng đồng hồ.

Sau này tôi mới biết anh Nguyên Sa ra đi đúng vào thời gian tôi chuẩn bị bước lên khoan máy bay ở phi trường Houston.

Tháng Chín 1996, khi nhận làm số báo Văn đầu tiên do Mai Thảo giao, tôi xin anh Nguyên Sa bài. Không những Nguyên Sa cho bài mà anh còn gửi cho Văn tiền. Anh bảo: "Để H. yên tâm xây dựng tờ báo." Có anh Nguyên Sa, tôi yên tâm thực sự. Bài viết đầu tiên của anh dành cho số báo đầu tiên của tôi là một trích đoạn trong hồi ký văn nghệ của tác giả Áo Lụa Hà Đông. Hồi ký này sau đó anh cho in trên Văn được ba kỳ, nhưng đến số 17, tháng Năm, 1998 thì phần trích ở đĩa số một vừa hết. Nguyên Sa hẹn sẽ đưa phần tiếp, thế nhưng, trong tuần lễ từ 6 đến 11 tháng Tư anh trở bệnh. Trước đó mấy ngày, tôi báo cho anh biết là tôi sắp đi Virginia thăm gia đình. Nguyên Sa bảo H. đi về anh sẽ đưa thêm cho Văn phần tiếp và mấy bài thơ mới nhất. Nguyên Sa nói hồi này anh làm được nhiều thợ Bao giờ cũng vậy, anh luôn luôn cho Văn hai bài: một tự do và một lục bát. Những bài thơ tự do của anh càng về sau càng cho thấy cái phong triết học nằm ẩn sâu bên dưới những chữ dùng rất thông thường. Và hình ảnh trong thơ anh ngày càng mới mẻ, lấp lánh một trí tưởng tượng vô cùng phong phú. Thơ lục bát anh cũng vậy. Hình ảnh và cách sử dụng từ luôn luôn mới.

Người làm thơ lục bát cũng như người đi trên giây xiếc cần một cây sào dài giữ thăng bằng, nếu không sẽ bị ngã nặng. Và lúc đó thơ lục bát sẽ trở thành những bài vè mà người Quận Cam vẫn thường bị trừng phạt. Người đọc lục bát Nguyên Sa cảm thấy có vẻ như anh làm thơ dễ dàng, nhưng rõ ràng qua cách sử dụng chữ nghĩa của anh, những từ rất đơn giản thông thường, thơ anh đã lôi cuốn người đọc vào một thế giới nghệ thuật, "lãng mạn một cách triết học."

Những năm Sáu Mươi ở Saigon, trong khi người ta còn loay hoay với những bài thơ tình tiền chiến của Xuân Diệu, Huy Cận,É thơ Nguyên Sa ra đời đã mang đến một không khí thi ca mới, thổi vào trái tim những tình nhân thời đại những lời tình tự mới, một ngôn ngữ mới. Thơ Nguyên Sa nói hộ cho những ngưòi yêu nhau những điều mà họ có thể cảm nhưng không thể thốt nên lời. Thơ Nguyên Sa đã và đang làm thành kỷ niệm của những mối tình. Những bài thơ của anh chắc chắn sẽ còn ở lại với chúng ta lâu dài, trong nhiều thế hệ sắp tới. Bao lâu trái đất này còn những người yêu nhau, thơ Nguyên Sa sẽ còn mãi mãi ở với chúng ta.

3Nguyên Sa không chỉ viết cho Văn, gửi cho Văn tiền, anh còn lo cho sự sống còn của Văn nữa. Anh thường hỏi đã đem báo đi in chưa, bao giờ lấy báo. Bài vở số này ra sao? Hoặc "Anh nhận được Văn rồi. Kỳ này thơ của X. được lắm." Có lần anh giận Văn vì một bài trả lời trên hộp thư của Th. H. Bài trả lời vui, và người viết rất trân trọng anh như một ông anh thân mến. Nhưng không ngờ anh giận. Anh nói với một người bạn của tôi là anh rất bực mình. Tôi thích đùa nghịch cho vui, không ngờ bị anh giận, tôi xin lỗi anh. Và anh đã bỏ quạ Hôm đưa tiễn anh đi, anh Lưu Trung Khảo, người viết và đọc tiểu sử Nguyên Sa trước mộ, nói với tôi là trong những cuộc trò chuyện với anh, anh Nguyên Sa vẫn thường nhắc tôi, cho nên khi anh Nguyên Sa vừa ra đi, người đầu tiên anh Khảo gọi báo tin là tôi, "nhưng H. đi đâu, cả nhà không ai trả lời điện thoại hết." Anh không biết lúc đó tôi đang chờ chuyến bay trở lại Quận Cam ở phi trường Houston.

Thỉnh thoảng Nguyên Sa nhắc lại những ngày anh chia giờ Triết của anh ở trường Văn Học cho tôi. Mặc dù hồi đó, anh đang rất giận anh T.P.G., thư ký toà soạn Văn lúc bấy giờ. Những ngày gần cuối tháng bao giờ anh cũng gọi nhắc: "H. đã đem báo đi in chưa? Báo kỳ này ra chậm phải không?" Hoặc "Anh nhận được báo rồi. Bià kỳ này được lắm. Số tới có gì đặc biệt?"

Hôm Mai Thảo mất, biết tôi làm số đặc biệt, anh hỏi "Đã có bài của ai rồi? Tôi kể anh nghe một số bài. Anh bảo mình cần có bài cho ba giai đoạn Mai Thảo: Thời ở Hà Nội, thời trong nước trước tháng Tư 1975 và thời ở Mỹ. Anh bảo nên chia như vậy để có cái nhìn nhất quán về Mai Thảo. Tôi đã làm số Mai Thảo theo cái dàn bài đó.

Có lần Nguyên Sa hỏi lúc anh làm tờ Hiện Đại ở VN tôi có gửi bài không. Tôi nói có. Anh hỏi có phải bài lục bát tên là Mang Mang không. Anh nói đúng. Đó là bài lục bát viết khi tôi mới chân ướt chân ráo bước vào Viện Đại Học Dalat. Bài thơ được anh chọn đăng trên tờ Hiện Đại số mấy nay tôi không còn nhớ. Nhưng, tôi ngạc nhiên vì anh nói đúng bất ngờ. Chuyện đó đã hơn 30 năm, tôi ký một bút hiệu chỉ dùng một lần và không bao giờ lập lại nữa. Tôi hỏi tại sao anh biết. Tôi nghe tiếng anh cười trong điện thoại. "Vậy mà em tưởng chỉ có một mình Bùi Bảo Trúc biết." Nguyên Sa chỉ ngồi một chỗ nhưng kỳ lạ thay anh biết nhiều chuyện mà tôi không biết. Ngay chỗ tôi làm ra vô hàng ngày vậy mà có một số chuyện tôi cũng không rõ, mãi đến khi anh cho biết tôi mới giật mình.

Sau khi số đặc biệt Mai Thảo phát hành, Nguyên Sa bàn Văn nên thực hiện bốn số đặc biệt một năm. Số đặc biệt tới làm về Paris và văn chương. Sẽ có nhiều bài lắm. Nhiều người viết nữa. Không phải lọ Tôi đưa ý kiến Văn sẽ làm một số về các nhà văn nữ VN, gồm những người trong nước, người ngoài nước, kể cả những nhà văn nữ viết tiếng Anh (Lại Thanh Hà,É), tiếng Pháp (Linda Lê, Kim Lefevre). Anh nói được lắm. Như vậy là năm nay, ngoài số Mai Thảo, Văn có thể làm hai số đặc biệt. Nhưng nói thì nói vậy, tôi chưa kịp chuẩn bị gì hơn. Số về Paris tôi trông cậy vào tác giả "Paris Có Gì Lạ Không Em?" nhiều hơn. Nay có lẽ phải nhờ đến những nhà văn ở Paris nắm giùm chủ đề này.

Những buổi chiều ở tòa báo về, ngồi trước màn ảnh máy điện toán lo cho tờ Văn, tôi vẫn thường chờ điện thoại của anh. Tôi nói chờ điện thoại của Nguyên Sa vì tôi biết anh không khoẻ, gọi anh chỉ là để hỏi thăm sức khoẻ của anh. Điều mà tôi vẫn thường nghe anh trả lời là "Khoẻ, anh không sao, anh đang có mấy bài thơ mới cho emÉ" Tôi không dám nhắc anh đưa bài vì tôi thấy mình thật là không phải nếu giục anh. Thế nhưng, khoảng 8 giờ tối anh thường gọi tôi. Anh có một số nhận xét về bài vở,về người này, người nọ. Nhận xét anh rất sâu sắc. Anh cũng nói về kỹ thuật những bài thơ anh làm gần đây. Tôi hiểu tại sao thơ anh ngày càng trẻ. Nhiều người làm thơ bây giờ không chạy kịp theo anh. Năm 1994, sau một tháng ở Paris về, tôi kể cho anh nghe những nơi tôi đã đến, những người tôi đã gặp, Nguyên Sa bảo như vậy là chưa đủ, còn nhiều nơi H. phải đến. Lần tới, trước khi đi, gọi cho anh biết.

Hôm đưa tiễn anh, tôi gặp lại chị Trần Thị An, em gái anh - người mà tôi còn nợ một cuốn sách chưa kịp trả vì hứa giao sách cho chị vào tháng Năm, 1975 - chị bảo hồi còn đi học ở Pháp, chị ở một tỉnh khá xa Paris, thế mà Chủ Nhật nào anh cũng bỏ bạn bè và thú vui để lấy xe điện đi đón em và đi chơi với em. Nguyên Sa đã là người của gia đình từ những ngày còn rất trẻ.

Có lần Nguyên Sa bảo tôi "Này H., cái tên X. nó chơi xấu em, sao em làm ngơ vậy?" Tôi trả lời anh là tôi không quan tâm tới chuyện đó. Anh bảo "Đâu được, phải đáp lễ nó chứ." Nhưng tôi không bao giờ "đáp lễ." Tôi luôn luôn coi chuyện này là vặt vãnh và bỏ vào cái đáy lãng quên. Nếu phải trả lời, tôi chỉ trả lời một lần rồi thôi. Nhưng tôi biết anh rất bực mình về sự bất động của tôi. Tôi nhớ Mai Thảo trong bài viết về chân dung Nguyên Sa có nhắc một lần tác giả Áo Lụa Hà Đông kể với Mai Thảo là "vừa bị ai đó chơi xấu." Mai Thảo bảo ăn thua gì, bỏ đị Nhưng Nguyên Sa không chịu vậy. "Đâu được. Đứa nào phá tôi, tôi phá lại. Nó chơi coup bas, tôi cũng biết chơi lại coup bas." Kể lại câu chuyện này, Mai Thảo kết luận "Nguyên Sa, một phía này chậm chạp lừ đừ, một phía khác ba đầu sáu tay; trong cái nếp mềm mại của tơ lụa Hà Đông vậy mà có ẩn mũi nhọn và song chưởngÉ Khiến bên cạnh lục bát dịu dàng còn có bút chiến dữ dội; trong con người làm thơ trữ tình còn có con ngưòi làm báo, cây viết thành cây kiếm trên tay." Tôi hiểu tại sao anh Nguyên Sa bảo: "H. làm báo mà như thế thì hiền quá không được!"

Tôi không có thói quen đi bộ trên đường Bolsa, nhưng hôm thứ Bảy vừa qua, do chiếc xe thổ tả của tôi bị bệnh, thành ra tôi phải lội bộ ra tiệm phở Nguyễn Huệ. Bùi Bảo Trúc vừa từ Hoa Thịnh Đốn xuống và đang chờ tôi ở đó. Sau ngày Nguyên Sa mất, Bùi Bảo Trúc viết hai bài về người thi sĩ tài hoạ Trúc đã cho phát ngay một bài trên đài VOA, và một bài theo kiểu Thư Gửi Bạn Tạ Tôi thích cách anh mở đầu bài đọc trên VOA: "Năm 1956, cánh cửa thơ VN, những cánh cửa rất khó mở, có một người đập mạnh mấy tiếng và không chờ cho người ở trong mở ra, đã ném vào một bài thơ đầy giọng tinh nghịch, sỗ sàng với những câu đầu như thế này:

Hôm nay Nga buồn như con chó ốm 
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh 
Đôi mắt cá ương như sắp sửa se mình 
Để anh giận sao chả là nước biển"
Hai bài của Bùi Bảo Trúc là những khúc ngợi ca Nguyên Sa chân thật và tuyệt vời được viết sớm nhất, nhanh nhất từ một ngòi bút sắc sảo nhất hiện nay.

Thi sĩ Nguyên Sa không còn với chúng ta nữa, nhưng thơ anh mãi mãi vẫn còn ở với chúng ta.

Tôi muốn nói lời cám ơn anh, cám ơn những bài thơ tình của anh đã làm cho tuổi trẻ tôi phong phú và giàu có, cám ơn những ngày cuối đời của anh, anh đã dành cho tôi những giây phút tình cảm của một người anh trong gia đình. Khi tôi gọi điện thoại cho anh, mà người nhấc máy không phải là anh, thì bao giờ tôi cũng nghe tiếng một người phụ nữ ở bên kia đầu giây: "Chú H. đó hả? Anh đang ở trong buồng tắm. Chốc nữa H. gọi lại nhé! Hay để tôi nói anh gọi lại H. nhé!"

Chị Nga thân mến, em mong sao bây giờ mỗi lần gọi điện thoại đến ngôi nhà đầm ấm của chị ở Irvine vẫn được nghe chị trả lời như anh Nguyên Sa vẫn còn ở với chúng ta.

Quận Cam 27 tháng Tư, 1998

Truyện-VănChương

Story Options