|
Contributed by: phuochung |
Views: 4.313
Thiên Đức
Hằng nằm cứ vào ngày 6-2 âm lịch lể kỷ niệm hai bà
Trưng được cử hành tại nhiều nơi có người Việt sinh
sống. Đây là một sinh hoạt có tính lịch sử truyền
thống.
Vào năm 40 sau công nguyên Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị
quê ở Mê Linh đã dựng cờ khởi nghĩa trước là trả
thù cho chồng sau là đánh đuổi quân xâm lượt, Hai Bà
đã lấy được 65 thành trì và sau đó là xưng vương họ
Trưng.
Năm 42 scn Mã Viện theo đường biển xua quân đánh trở
lại. Trước thế giặc mạnh, quân hai bà chống cự không
nổi, rút lui về Cẩm Khê và tan hàng từ đó.
Sau khi xâm chiếm đất Giao Chỉ Mã Viện cho thực hiện hai
công trình là: Dựng trụ đồng Mã Viện tại động Cổ
Sâm, châu Khâm và xây thành Kiên Giang hình tổ kén ở
Phong Khệ
Đền thờ Hai Bà Trưng tại xã Hát Môn, Sơn Tây đang trong
giai đoạn trùng tu
Nguồn: Thiên Đức 8/2005
Trang lịch sử này đã gây nhiều tranh cãi về nhiều vấn
đề như là :
- Nguyên do khởi nghĩa của hai bà vì thù chồng hay vì nợ
nước?
- Hai bà lập nên chế độ mẫu hệ đầu tiên ở VN
chăng?
- Ngày lễ kỷ niệm của hai bà cũng có sự khác biệt?
Ngày 6/2 hay 6/3 Âm lịch?
- Nguyên do cái chết của hai bà nhảy sông tự tử hay bị
chém đem đầu về Trung Quốc?
Cho dù có đặt nghi vấn như thế nào chăng nữa chúng ta
cũng phải thừa nhận một điều là Bà Trưng là vị nữ
vua đầu tiên tại VN, một vị vua thành tựu do công sức
và tài trí trực tiếp đánh quân xâm lược. Bà Trưng
dựng cờ khởi nghĩa do lòng yêu nước chân chính của
mình, xuất thân từ giai cấp quí tộc, chứ không phải
từ quan niệm đấu tranh giai cấp như nhà sử học XHCN lý
giải.
Hai bà Trưng đã tạo dựng nên truyền thống vẻ vang nữ
anh hùng dân tộc trong lịch sử VN.
Một câu hỏi đặt ra là: tại sao trong suốt gần 2000 năm
kế tiếp dân tộc ta vẫn không xuất hiện được một
vị nữ anh hùng thứ hai có tầm cỡ Bà Trưng cho dù lịch
sử VN là lịch sử của chiến tranh chống ngoại xâm từ
đó cho đến nay? Phải chăng người phụ nữ VN yếu hèn?
Hay là có sự cản trở bởi một huyền lực nào đó xuất
phát từ thời gian sau khi Hai Bà Trưng thua trận, đất
nước rơi vào sự đô hộ của người Hán, mà lịch sử
chưa làm sáng tỏ chăng?
Thật vậy nghi vấn đó phát xuất từ hai hành vi cụ thể
đầy bí ẩn của Mã Viện sau khi xâm chiếm đất nước ta
chưa được lý giải rõ ràng.
Theo Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục trang 24-25
ghi :"Trưng vương cùng em gái là Nhị cự chiến với quân
Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị thất trận chết. Mã
Viện đuổi đánh tàn quân của hai bà là bọn Đô Dương
đến huyện Cư Phong thì hàng phục được họ. Mã Viện
lập cột đồng để ghi địa giới tận cùng của Nhà
Hán...
Sách Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên chép rằng: Mã Văn
Uyên (tức Mã Viện) dựng cái mốc đồng để làm giới
hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Quốc....
Sách Nhất Thống Chí nhà Đại Thanh có chép: Tương truyền
cột đồng ở về động Cổ Sâm châu Khâm, Mã viện có
thề rằng: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt"nghĩa là
"Cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị diệt", nên người
Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi
đắp lên mãi thành gò đống cao. Đó vì sợ cột đồng
ấy bị đổ gãy.
Mã Viện nhà Hán đắp thành Kiển Giang
Vì thấy huyện Tây Vu có đến ba vạn ba nghìn hộ, Mã
Viện xin chia ra làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua
Hán y cho Mã Viện lại lập hành quách, đặt tỉnh ấp (xóm
làng), đắp thành Kiển Giang ở Phong Khệ Thành này hình
tròn như cái Tổ kén. Nên gọi là thành Kiển giang. Ba năm
sau Mã Viện về nước.
http://viethoc.org/eholdings/sach/kdvstgcm.pdf
Ạ Trụ Đồng Mã Viện: Trải qua một thời gian dài bị đô
hộ dưới thời Hán thuộc, trụ đồng Mã Viện đã hoàn
toàn mất hết dấu tích nhưng vẫn còn để lại nhiều
nghi vấn lịch sử như sau:
Ị Sự thật của trụ đồng:
Trụ đồng Mã Viện là một câu chuyện có thật, đã
được ghi vào sử liệu của cả hai nước Trung Hoa và VN.
Đây không phải là một huyền thoại hay là hư cấu.
Vào đời vua Trần Thánh Tôn đã cho người đi tìm lại
dấu tích cột đồng nhưng không thấy.
"Tháng 4 mùa hạ.( 1272) Sai viên ngoại lang là Lê Kính Phu
sang hội với người nhà Nguyên biện luận việc cương
giới. Nhà Nguyên sai Ngột Lương sang hỏi giới mốc đồng
trụ ngày trước, nhà vua phái Lê Kính Phu đi hội đồng
khám xét. Kính Phu nói với Nhà Nguyên rằng: "Chỗ cột
đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay
không thể biết ở chỗ nào được."Việc đó sau cũng
thôi. ...( KDVSTGCMCB Quyển VII tr. 219)
"Tháng 8 mùa thu (1345) Sai sứ sang nhà Nguyên. Nhà Nguyên sai
Vương Sĩ Hành sang hỏi địa giới cột đồng ngày trước.
Nhà vua sai Phạm Sư Mạnh sang Nguyên biện bạch sự việc
này."(KDVSTGCMCB quyển IX Tr.279)
IỊ Vị trí của trụ đồng:
Đa số sử liệu đã thống nhất vị trí của trụ đồng
như sau:
- Sách Nhất Thống Chí nhà Đại Thanh chép: Cột đồng ở
về động Cổ Sâm, châu Khâm
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư Ngoại Ký của Lê Văn Hưu
Quyển III Tr. 22 ghi : Mã Viện bèn dựng cột đồng làm
giới hạn cuối cùng của nhà Hán. Cột đồng tương
truyền ở trên động cổ Lâu, châu Khâm.
Tóm lại theo sử liệu trên có thể kết luận là trụ
đồng nằm ở vùng Châu Khâm tại động Cổ Sâm hay Cổ
Lâu thuộc vùng biên giới cực bắc Giao Chỉ cũng là cực
nam nhà Hán.
Một vấn đề cần được sáng tỏ nữa là: châu Khâm là
huyện biên giới giữa Giao Chỉ và Nam Hán hiện nay nằm
ở đâu?
Theo tài liệu nghiên cứu mới nhất của bác sĩ Trần Đại
Sỹ, Giám đốc Trung Quốc sự vụ, viện Pháp Á "Thử tìm
lại biên giới cổ của VN bằng cổ sử, bằng triết học,
bằng di tích và hệ thống DNA"
http://www.vietnamsante.com/trandaisy/tds-nguongoctocviet.pdf
Sau khi dẫn chứng lịch sử thời hai bà Trưng, di tích, cổ
vật, cùng kết quả thử nghiệm DNA đã kết luận rằng:
Biên giới cổ của nước VN với các triều đại Hồng
Bàng, Âu Lạc, Lĩnh Nam phía Bắc quả tới hồ Động đình,
phía Tây giáp Tứ Xuyên.
Sự phát hiện này có thể xác quyết một điều là vị
trí trụ đồng nằm ở biên giới phía Bắc VN qua thời
gian đô hộ đã bị Trung quốc lấn chiếm và vùng đất
động Cổ Sâm (Cổ Lâu) hiện nằm sâu trong lãnh địa
Trung Quốc hiện nay.
IIỊ Ý nghĩa câu "Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt"
Trong hầu hết cổ sử Trung Quốc và sử Việt ghi chép
lại, giải thích câu này chỉ là một lời thề. Điểm này
có nhiều nghịch lý.
1. Đây không thể là một lời thề, thật vậy Mã Viện
là người đi chinh phục và vui mừng thắng trận, nên
không có động cơ nào để tạo ra một lời thề ghi trên
trụ đồng. Vì vậy sách sử gọi đây là lời thề là
không đúng sự thật.
2. Ý nghĩa câu chữ "Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt"ngầm
ý hăm dọa cũng như gây hận thù với dân tộc Giao Chỉ
rất là phi chính trị. Theo sử sách cho biết Mã Viện là
một danh tướng văn võ song toàn giỏi quân sự lẫn chính
trị, có thể nào ngây ngô đưa ra một lời thề phi chính
trị như trên hay không? Tất nhiên là không, vì thế Mã
Viện cố tình ghi khắc câu này tất phải có mưu đồ sâu
độc nào đó đối với đất nước Giao Chỉ vậy.
3. Đa số sách sử Trung Hoa cũng như VN đều giải thích
câu: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt là trụ đồng gãy
thì dân Giao chỉ bị giết. Chữ CHIẾT mà dịch là gãy
đúng với ngôn ngữ , thế nhưng trong trường hợp này có
điều không ổn. Vì rằng một cột trụ đồng kim loại,
đặt ruột dựng giữa thiên nhiên thì làm sao có thể gãy
được? nếu so với một cây cau, một cây dừa thân mộc,
cao, tán cây rộng lung lay trước gió bão còn có thể
đứng vững. Thì đây là một nghịch lý.
Do vậy sự dịch thuật câu chữ này hoàn toàn sai lầm
một cách cố tình nhằm che dấu một bí mật lịch sử mà
người viết sẽ phân tích ở phần sau.
IV. Công dụng của trụ đồng:
Hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi và cũng chưa có lời
đáp thích hợp.
1) Theo sử gia Phạm Văn Sơn chuyện cột đồng Mã Viện
thiết tưởng không đáng tin lắm chỉ nên coi là một giai
thoại không hơn không kém... Nếu coi cột đồng Mã Viện
là một mỹ đàm thì chép vào sử để làm một câu
chuyện kể chơi cho có thú vị thiết tưởng không hại gì.
(Việt sử Tân Biên tr.199). Đây chỉ là lối nói huề vốn
khi không lý giải được những nghịch lý của câu chuyện
trụ đồng, do vậy không đáng tin cậy. Viết lịch sử của
một dân tộc cần sự nghiêm túc chứ không phải là
chuyện mỹ đàm, kể chơi cho vuị
2) Theo tác giả Trương Thái Du trong bài "Một cách tiếp
cận những vấn đề cổ sử VN (Talawas - lịch sử)
Cột đồng Mã Viện dựng năm 43 ở quận Giao Chỉ và Tây
Đồ Di cũng chính là đài quan trắc thiên văn ... Trong
công tác thiên văn thời Mã Viện, để xác định những
vùng đất mới, cần phải tiến hành quan trắc các chỉ
số năm này qua năm khác. Cột thiên văn chuẩn phải vừa
tránh được thời tiết xâm hại, vừa bền vững nên
chất liệu đồng đã được chọn. Muốn đo đầy đủ thì
phải cử người ở lại làm việc, ít nhất là hằng năm
tập hợp số liệu đem về kinh độ Chuyện dân gian VN
kể rằng Mã Viện từng dựng cột đồng ở Bắc Việt
lại càng khẳng định đây là cột thiên văn chứ không
phải mốc giới. Chẳng ai đem mốc giới để giữa nơi
đô hội, để mỗi người đi qua ném một hòn đá vào
đấy mong cột đừng đổ. Câu "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ
diệt"của Mã Viện ngầm bảo phải coi sóc "đài thiên
văn"bỏ túi kia cẩn thận. Cơ sự là thế! Con toán thiên
văn nhỏ của tôi ở tiểu mục 1 là minh họa suốt bài viết
này.
Giả thiết này khó thuyết phục bởi những nghịch lý sau:
Một cột đồng đặc ruột thuần túy trồng giữa trời
mưa nắng không thể gọi là một đài (?)thiên văn được.
Theo người viết hiểu ý của tác giả là trụ đồng Mã
Viện được sử dụng như là một cái cột chuẩn để đo
lường sự di chuyển của bóng mặt trời, mặt trăng....
Nếu chỉ với công dụng như vậy thì chẳng cần phải dùng
cột đồng làm gì cho năng nhọc, thực hiện khó khăn (từ
việc gom đồng, đúc cột, điêu khắc, di chuyển, dựng
cột...), rất tốn kém tiền bạc, công sức và thời gian.
Ngoài ra còn viện lý do khỏi bị thời tiết xâm hại lại
không chuẩn.
Vì rằng cột đồng to và cao đủ để đo bóng mặt trời
thì rất nặng hằng tấn tạo sức ép trên một tiết
diện nhỏ thì với thời tiết mưa lụt khí hậu ẩm thấp,
đất ướt, mềm nở ra rất dễ bị lún, hay đổ ngã nguy
hiểm. Với độ lún hằng năm của trụ đồng, thì độ đo
đạt lại càng thiếu chính xác, sẽ làm giảm mất giá trị
công dụng nói ở trên. Với trụ gỗ tốt vừa nhẹ, bền,
dễ kiếm, dễ bảo quản, dễ thay thế, lại đạt yêu cầu
trên có lẽ hợp lý hơn cột đồng.
Với uy danh của một tướng lãnh thống trị đương thời
chắc chắn có rất nhiều cách để bảo quản trụ đồng
cần gì phải ngầm bảo dân bị trị phải coi sóc "đài thiên
văn"bỏ túi kia cẩn thận bằng câu "Đồng trụ chiết, Giao
chỉ diệt"vừa vô chính trị đối với một vị tướng văn
võ toàn tài, vừa mất tư cách đạo đức của một kẽ đi
thống trị. Với toán công tác thường trực ghi số liệu
báo cáo hằng năm không đủ sức bảo quản trụ khí tượng
hay sao, mà cần phải ngầm bảo dân bị trị coi sóc?
3) Theo cổ sử, cột đồng chỉ là cột mốc biên giới mà
thôi. Lối giải thích này cũng không thỏa đáng. Nếu là
cột mốc biên giới tại sao không ghi những thông tin cần
có của vùng biên giới lại ghi câu : "Trụ đồng chiết ,
Giao Chỉ diệt"trên cột đồng?.
Thứ nữa là cột mốc biên giới tại sao không đặt tại
những con đường đi giữa ranh giới của hai nước, mà
lại đặt tại một hang động trong vùng hẻo lánh?
B. Kiển Thành: Là công trình cụ thể thứ hai của Mã Viện
đã hoàn thành trước khi về nước. Theo sách sử giải
thích thành Kiển Giang có hình tổ kén của con tằm, như
vậy nó có hình tròn và dài túm hai đầu, chứ không đơn
giản là hình tròn ghi trong sử liệu, đã đem lại nhiều
ngộ nhận cho người đọc sử.
Hình dáng của Kiển Thành cũng đem là nhiều nghi vấn.
Thật vậy đây là loại thành quách quân sự rất hiếm
thấy trong sử sách, là loại hình dài và ốm có rất
nhiều nhược điểm như sau:
- Dễ bị tàn phá bởi thời tiết gió bão, thật vậy một
trường thành dài và ốm sẽ hứng chịu nhiều sức tàn
phá của gió bão hơn là một bức thành ngắn, tròn hay
vuông và rộng.
- Mục đích xây thành cho dân ở vì dân số đông mà lại
xây thành hình ốm và đài là không kinh tế và khó có
thể thỏa mãn đầy đủ nhu cầu phát triển cư dân về
lâu dài.
- Về mặt quân sự một trường thành dài rất khó trấn
thủ vì tốn kém nhiều nhân lực canh gác, và khó tiếp
ứng từ đầu này đến đầu khác.
Vì thế câu hỏi đặt ra là tại sao không xây thành hình
vuông, đa giác lồi hay hình tròn bình thường như những
thành quách khác mà lại xây thành hình cái kén? Ẩn ý của
kiến trúc này là gì vẫn chưa được giải đáp trong sử
sách.
Tóm lại, những nghịch lý trên của lịch sử đã trải qua
gần 2000 năm vẫn chưa được lý giải minh bạch dưới
nhãn quang của các nhà sử học hay nhà khảo cổ. Thế
nhưng, nếu nhìn sự việc trên đây bằng nhãn quang của
một nhà phong thủy thì tất cả mọi nghi vấn trên đều
được giải đáp thỏa đáng.
Thật vậy đây là một trận đồ phong thủy mà Mã Viện
bày ra nhằm hãm hại đất nước Giao Chỉ. Hai Bà Trưng
đối với VN là những anh hùng dân tộc, thế nhưng theo
quan niệm của triều đình Hán hai bà Trưng chỉ là yêu
tặc.
Theo An Nam Chí Lược (trang 40) do tác giả Lê Tắc là
người VN, chạy qua sống ở Trung Hoa và viết sử theo quan
niệm của Trung Hoa như sau:
Năm Kiến Võ thứ 16 của Hán Quang Vũ Đế (sau công nguyên
40), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc làm phản, quận
Cửu Chân và quận Nhật Nam đều hưởng ứng theo. đành
các quận ấp, cướp được 60 thành, rồi tự lập làm
vuạ..
Đến năm Kiến Võ thứ 19 Mã Viện chém yêu tặc là Trưng
Nhị (Nhị là em gái của Trưng Trắc) và đánh luôn dư
đảng, bọn Đô Lương, đến huyện Cư Phong, bọn này chịu
đầu hàng...
http://viethoc.org/eholdings/sach/ancl.pdf
Vào thời đại nhà Hán, thuật phong thủy, địa lý rất
thịnh hành, tất cả những công trình xây dựng mồ mả,
lâu đài đều tuân hành nghiêm túc quy luật địa lý phong
thủy.
Ảnh hưởng bởi quan niệm này, Mã Viện sau khi trừ diệt
được hai Bà Trưng(?)đã bày một trận đồ phong thủy
để diệt tận gốc yêu quái, trừ hậu hoạn, nhằm hãm
hại đất nước ta không còn vua nữ giới nữa bằng
những hành động như sau:
1) Mã Viện cho dựng một trụ đồng tại động Cổ Sâm
hay Cổ Lâu, nghi vấn đặt ra là tại sao không đặt nơi
đồng bằng trống trải dễ thấy hay tại những con
đường đi lại giữa hai nước như là cột mốc bình
thường mà lại đặt tại một hang động? Chỉ có thể trả
lời là động Cổ Sâm chính là huyệt hàm rồng kết phát
làm vua của đất Giao Chỉ nên Mã Viện muốn phá hủy để
đất nước không còn vua nữa, dễ bề cai trị.
Nếu tự nhiên Mã Viện cho đào sâu xuống để chôn hoàn
toàn một trụ đồng mà không có lý do chính đáng thì mọi
người sẽ nghi ngờ, và gặp nhiều khó khăn trong thực
hiện, vả lại cũng kém hiệu quả về mặt phong thủy. Vì
thế mà Mã Viện đã thâm độc, cho dựng đứng trụ
đồng không cần phải chôn sâu và ghi khắc câu chữ "Trụ
Đồng chiết, Giao Chỉ diệt"bề ngoài như là hăm dọa,
nhưng thực chất là khiêu khích lòng tự ái dân tộc của
dân Giao Chỉ, sau đó ngầm hỗ trợ cho người dân mỗi
ngày ném gạch đá vào trụ đồng để chôn lấp. Sự việc
này có hai tác dụng thứ nhất là giữ cho trụ đồng không
bị nghiêng ngả với thời gian, thứ hai trụ đồng nặng
hàng tấn tạo một sức ép mạnh trên một tiết diện nhỏ
thì dễ dàng từ từ lún sâu vào lòng đất mỗi khi thời
tiết mưa ẩm, đất nở và mềm rạ Có như vậy mới che
dấu được quỷ kế thâm độc của mình và tác dụng phong
thủy lại càng tăng cao.
2) Ý nghĩa thật sự của câu: "Đồng trụ chiết... Giao Chỉ
Diệt", Đây là một câu thần phù còn ẩn dấu một hai
chữ để che đậy âm mưu phá huyệt phong thủy. Thật vậy
chữ chiết ở đây không có nghĩa là gãy mà có nghĩa là
tách làm hai, ví dụ như chiết cành chẳng hạn. Do đó câu
trên nên giải thích là "trụ đồng tách huyệt (đế
vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết."Chứ không thể
dịch là trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết hoàn toàn
phi lý. Như vậy câu trên có hai chữ bi ẩn dấu là chữ
huyệt và chữ vương.
3) Kiển Thành hình cái kén, nếu chúng ta tách rời hai sự
kiện này ra thì sẽ không thấy âm mưu sâu độc của Mã
Viện, vì thế người viết, kết hợp cả hai sự kiện
này bằng một hình vẽ tượng hình, bạn đọc sẽ thấy rõ
ràng hơn:
Hình dáng Kiển Thành, tổ con tằm, Âm, Thủy, tượng hình
của người đàn bà, kết hợp với hình dáng trụ đồng
Mã Viện, Dương, Hỏa, tượng hình của người đàn ông.
Theo Kinh Dịch lý thuyết Vũ trụ: Thái Cực - Lưỡng Nghi -
Tứ Tượng - Bát Quái.
Theo thuật phong thủy, nói về nhà cửa thường sử dụng
bùa bát quái để trấn yểm hướng xấu. Trong phạm vi
rộng lớn của một đất nước, bùa bát quái không có
hiệu lực, vì thế Mã Viện đã sử dụng một loại bùa
rất hiếm hoi đề cập trong sách vở đó là loại bùa
Lưỡng Nghi tức là bùa Âm Dương có hiệu lực cao hơn
bùa bát quái hai bậc theo Kinh Dịch.
Loại bùa này được thực hiện bởi hai công trình: Kiển
Thành, Âm thủy và trụ Đồng Mã Viện, Dương Hỏa.
Ngoài ra, nói theo kiểu dung tục thì Mã Viện đã chơi một
trò rất thô bỉ là "Đóng cọc người đàn bà Giao
Chỉ"nhằm triệt tiêu con đường kết phát vương quyền
cho nữ giới VN sau này. Với chứng cứ đê tiện này cũng
có thể chứng minh truyền thuyết quân Mã Viện lúc giao
chiến với đội quân nữ giới của Hai Bà đã chơi trò
đồng loạt "Truồng cởi"làm hổ thẹn nữ binh không phải
là không có lý.
Tóm lại câu chuyện trên có thể kết luận như sau:
- Cột đồng Mã Viện là một dụng cụ phong thủy chôn tại
động Cổ Sâm nhằm mục đích phá vỡ huyệt kết phát
vương quyền của đất Giao Chỉ.
- Câu "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt"là một câu thần
phù hay nói đúng lời là một lời nguyền có hiệu lực
cho đến khi được giải mã (?)
- Hình dáng Kiển Thành kết hợp với trụ đồng Mã Viện
tạo nên một đạo bùa Lưỡng Nghi nhằm trấn yểm không
cho người đàn bà Giao Chỉ (mà thời nhà Hán gọi là yêu
nữ) tiếp nối truyền thống anh hùng dân tộc.
Sở dĩ loại bùa chú này có hiệu lực lâu dài bởi hội
đủ những điều kiện sau đây:
- Đặt đúng huyệt vị
- Điều quan trọng nhất không ai có thể hại mình bằng
chính mình hại mình. Dựa vào nguyên tắc này Mã Viện đã
thâm hiểm khích tướng để cho dân Giao Chỉ ném đá vào
trụ đồng để giữ vững cho chôn trụ đồng có thời gian
tự lún sâu vào huyệt đạo tạo thêm hiệu lực cho bùa
trấn yểm.
- Thời gian hiệu lực của bùa chú càng lâu dài nếu bí
mật của nó chưa được tiết lậu, các sử gia Trung Quốc
vì quyền lợi Trung Quốc đã che đậy sự việc này và
dối trá cho đây chỉ là cột mốc biên giới đơn thuần
mà không có giải thích toàn bộ sự kiện. Và theo truyền
thuyết bùa ngải, phong thủy, nếu một người mà dùng bùa
chú hại người khác nếu được cao nhân cứu giải thì
loại bùa chú đó sẽ trở lại tác động với chủ nhân của
nó. Vì thế người Trung Quốc rất sợ phản đòn và rất
kín miệng về sự việc này.
Ngoài ra để cho đất Giao Chỉ không còn huyệt phát vua
chúa nữa, Hán tộc đã âm thầm cướp trắng một phần
đất của Giao Chi, trong đó có vùng châu Khâm động Cổ
Sâm và xóa tan dấu tích để người dân Việt không còn
phương cách truy cứu. Và sự việc này cũng không được
ghi chép vào sử sách.
Trong thời đại không gian điện tử hiện nay, nhiều
người sẽ đánh giá câu chuyện kể trên thuộc vào loại
hoang đường nhảm nhí.
Tin hay không là tùy mỗi người, nhưng với chứng cứ và
lý luận khó có thể phản biện như trên, trong tư cách là
một người nghiên cứu phong thủy lâu năm, Thiên Đức
trân trọng bố cáo:
Trước trời đất và mọi người chứng giám rằng:
Những âm mưu đê tiện của Mã Viện người Trung Quốc
đã dùng thủ thuật phong thủy để ám hại dân tộc Giao
Chỉ, nay đã được phơi bày ra ánh sáng.
Phải chấm dứt ngay mọi uy lực của lời nguyền và trao
trả hiệu quả thảm hại lại cho cố chủ.
Cấp! Cấp! tuân lệnh!
Để tăng thêm uy lực hóa giải lời nguyền của Mã Viện,
khẩn mong các bạn có cơ duyên đọc bài viết này thì xin
cho một lời nguyền rủa từ đáy lòng mình trả lại cho
Trung Quốc là nơi xuất phát nguồn gốc của câu chuyện.
Thiên Đức mong mỏi các nhà viết sử tiếp nhận thông tin
này và tiếp tục làm sáng tỏ sự việc hòng trả lại sự
thật cho lịch sử với cầu mong giải tỏa lời nguyền rủa
gớm ghiếc để cho dân tộc VN có thể có những nữ anh
hùng dân tộc trong tương lai vậy.
Thiên Đức trân trọng trình báo.
oOo
|