|
Contributed by: phuochung |
Views: 2.370
RFA
Tranh Đông Hồ vừa là nét đẹp xưa lại vừa là di sản
văn hóa VN. Đã hơn năm thế kỷ trôi qua giờ đây tranh
Đông hồ tuy không còn cực thịnh nữa nhưng nét đẹp của
chúng không vì thế mà mất đị
Những ngày Tết cách đây chỉ vài chục năm, tranh Đông
Hồ là một trong những yếu tố không thể thiếu được
trong nhiều gia đình VN, đặc biệt tại miền Bắc.
Chương trình văn học nghệ thuật kỳ này lại trùng vào
ngày Tết, Mặc Lâm mời quý thính giả về lại làng tranh
Đông Hồ để tìm hiểu thêm những nét độc đáo của
dòng tranh dân gian này.
Dải mây trắng đỏ lòm trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon.
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ,
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ.
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu.
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.
Sương trắng dỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa.
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh.
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.
Con trâu đứng vờ dim hai mất ngủ,
Để lắng nghe người khách nói bô bộ
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ,
Tìm đến chỗ đông người ngồi dở bán.
Một thầy khóa gò lưng trên tấm phản,
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân.
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu.
Áo cụ lý bị người chen sấn kéo.
Khăn trên đầu đương chít cũng tung ra.
Bài thơ "Chợ Tết"quý vị vừa nghe có lẽ đã vẽ ra một
bức tranh sống động của sinh hoạt Tết của miền quê VN
của thập niên 40, trong đó Đoàn Văn Cừ, tác giả bài thơ
không quên chi tiết của một anh hàng tranh mà hình ảnh
"kĩu kịt"quẩy tranh ra chợ bán trong ba ngày Tết đã khắc
họa lên được một thời vàng son của những bức tranh
dân gian như tranh Hàng Trống (Hà Nội), tranh Làng Sình
(Huế), tranh Kim Hoàng (Hà Tây) nhưng trên hết vẫn là
tranh làng Đông Hồ thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Làng Đông Hồ
Làng Đông Hồ thuở xa xưa có tên là Làng Mái. Từ cuối
thế kỷ 19 đến năm 1944 là thời kỳ cực thịnh của dòng
tranh Đông Hồ. Lúc ấy, tất cả những người trong làng
đều tham gia việc làm tranh và họ xem đây là một nghề
cao quý của làng. Tranh Đông Hồ được tiêu thụ nhiều
nhất vào dịp Tết, vì vậy việc làm tranh tập trung nhất
vào khoảng tháng 7, tháng 8, cả làng tất bật để chuẩn
bị cho mùa tranh Tết.
Theo nhiều tài liệu viết lại, lúc đó khắp làng rực
rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống
nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi
giấy: từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường
làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc nhà, nóc bếp
và người ta vừa làm tranh vừa sống trong không khí lễ
hội.
Có lẽ vì thế, tính cách đình đám ảnh hưởng rất lớn
vào tranh Đông Hồ, những nét viền mạnh mẽ hòa cùng bố
cục cứng cáp cũng như màu sắc rực rỡ chân quê khiến
người xem bị thuyết phục vì tính chất quần cư lộ rõ
trên từng chủ đề một.
Nghệ thuật tạo hình dân gian của nhiều dân tộc trên
thế giới thường được xem xét qua nhiều khía cạnh mà
một trong những khía cạnh quan trọng nhất là sự tái
hiện lại giai đọan lịch sử của dân tộc đó.
Sinh hoạt hàng ngày và những nghi thức mang đậm nét văn
hóa hoặc tôn giáo thường hiển hiện trên từng nét vẽ
trong những tác phẩm hội họa hoặc các motif đặc trưng
trong tác phẩm điêu khắc mà mỗi dân tộc sở hữu
riêng. Dòng tranh Đông Hồ so niên đại thì còn rất trẻ
đối với nhiều nền mỹ thuật tuy nhiên không vì thế mà
bản sắc riêng không có.
Kỹ thuật chế bản
Nét riêng ở đây không thể không kể đến kỹ thuật
chế bản mà tính chất mộc mạc dân gian lên đến mức cao
nhất. Kỹ thuật tranh Đông Hồ bắt đầu với những tờ
giấy được chế tạo công phu được gọi là giấy dó mà
theo tư liệu của Wikipedia thì giấy dó là một loại giấy
được sản xuất từ vỏ cây dó có đặc tính xốp nhẹ,
bền dai, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc
giòn gẫy, ẩm nát. Với đặc tính chống ẩm, giấy dó
giúp cho các tác phẩm nghệ thuật không bị ẩm mốc và
có tuổi thọ tương đối cao.
Giấy dó được nghệ nhân Đông Hồ sáng tạo lại thành
giấy của riêng làng mình bằng cách nghiền nát vỏ con
điệp, một loại sò sống ở biển và tráng bột này lên
mặt giấy dó. Bột điệp có đặc tính óng ánh khi ra
nắng và làm màu trắng của nền giấy có hiệu ứng xa
gần do được quét nhiều lớp chồng lên nhau.
Người ta dùng lá thông làm chổi để quét bột điệp
nên những khe hở của lá tạo các đường rãnh li ti khiến
cho mặt giấy có những đường gân lồi lõm nên khi sờ
lên có cảm giác thô ráp như sờ trên mặt vải thổ cẩm.
Hiệu ứng thứ đến là do cấu tạo thô ráp, tranh Đông
Hồ gần gũi với nét dân dã hơn do đó lột tả được
chủ đề mà dòng tranh này thường khai thác.
Màu sắc trong tranh cũng là một khai phá độc đáo của
dòng tranh Đông Hồ, Chúng tôi hỏi chuyện nghệ nhân
Nguyễn Đăng Chế, người được xem là một trong vài
người còn sót lại của làng Đông Hồ vẫn còn quan tâm
đến sự bảo tồn và phát triển của lọai tranh này. Ông
Chế cho chúng ta biết một vài khía cạnh độc đáo của
nghệ nhân Đông Hồ trong việc xử dụng và khai thác chất
liệu.
Tranh Đông Hồ được in hoàn toàn bằng tay với nhiều
bản màu; mỗi màu dùng một bản, và màu đen còn được
gọi là bản nét in sau cùng. Nhờ cách in này, tranh được
"sản xuất"với số lượng lớn và không đòi hỏi kỹ năng
cầu kỳ nhiều. Tuy nhiên vì in trên ván gỗ một cách thủ
công, nên tranh bị hạn chế về mặt kích thước, thông
thường các tờ tranh không lớn hơn 50 cm mỗi chiều.
Mang nhiều ý nghĩa
Tranh Đông Hồ được truyền tụng nhiều vì nét dí dỏm
xen lẫn tính chất nông dã của nó. Người dân Việt cảm
thấy gần gũi vì tranh lột tả những hình ảnh chung quanh
làng quê VN mà trong đó những sinh hoạt hàng ngày hiển
hiện lên mặt giấy khiến tranh Đông Hồ như một tấm
gương trong soi lấy cảnh đời của người sở hữu nó.
Tranh Đông Hồ ngày Tết càng đằm thắm hơn nữa khi mục
đích được nhắm tới là miêu tả hạnh phúc và sự sung
túc trong đời sống hàng ngày của người dân quệ Những
chủ đề thường được lập đi lập lại trong tranh Đông
Hồ là hình ảnh của những con vật tượng trưng được
sự cần cù chất phác nhưng cao thượng và chịu thương
chịu khó.
Gà tượng trưng cho hy sinh, đùm bọc được nhắc nhở
nhiều trong tranh Đông Hồ nhưng heo và cá cũng được
dùng để mô tả ý hướng vươn lên trong cuộc sống. Con
trâu được đem vào tranh với những nét ngộ nghĩnh chân
quê lột tả được cái tinh nghịch tiềm ẩn trong từng con
người nông dã. Cuộc sống đời thường cũng được mang
vào tranh, từ "đám cưới chuột"cho đến "đánh ghen",
"hái dừa"đều mô tả xuất sắc những sinh hoạt làng quê
trong cộng đồng nông nghiệp.
Cũng như nhiều hoạt động văn hóa khác của VN, Tranh Đông
Hồ cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi những dòng
tranh Trung Hoa trên những chủ đề quen thuộc mang tính khát
khao sự no đủ, giàu có.
Tuy nhiên qua những đường nét có tính ước lệ cao cũng
như ý hướng muốn vượt thoát khỏi tầm ảnh hưởng của
nước láng giềng được thấy rất rõ trên cách xử dụng
màu sắc và bố cục chặt chẽ, tranh Đông Hồ đã vượt
qua lằn ranh thủ công mỹ nghệ để tíến gần hơn với
nghệ thuật dân gian.
Một vài tờ tranh Đông Hồ bên cạnh mâm ngũ quả ngày
Tết sẽ là thứ mà các bà nội trợ ngày xưa không thể
quên khi đi chợ trong những ngày áp Tết. Sự hiện diện
của một bức tranh Đông Hồ trên vách trong ba ngày Tết
là một ấm áp có thể cảm nhận được dễ dàng trong
bất cứ gia đình VN nào. Nếu không như thế thì ông Tú
đất Vị Xuyên đã không sung sướng hô vang:
Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Om sòm trên vách bức tranh gà.
oOo
|