|
Contributed by: phuochung |
Views: 4.164
Nguyễn Tiến Hưng
Hết hồn, anh phi công cuống cuồng gọi radio về trung
ương. Đêm đã về khuya, bầu không khí nóng nực lúc giao
mùa đang đè lên thành phố. Ngoài phi trường, chỉ còn
ánh đèn leo lét dọc theo phi đạo. Động cơ phản lực của
chiếc máy bay vận tải khổng lồ rú lên ầm ầm. Máy bay
chuẩn bị cất cánh. Bất chợt phi đạo hình như có vấn
đề. Nhân viên phi hành đoàn mở cửa ngó ra ngoài, hoảng
sợ ! Tại sao cả một toán lính võ trang nặng lại bao vây
lấy chiếc máy bay?
Đó là quang cảnh ở Tân Sơn Nhất vào lúc 10 giờ đêm
ngày Chủ Nhật, 20 tháng 4, 1975. Trung tâm điều hành di tản
của cơ quan quân sự Mỹ DAO (sát bên phi trường dân sự)
nhận được cú điện thoại cầu cứu. Đại tá R.D.
Delligatti vội phóng xe tới nơi xem sao. Ông vừa bước
xuống chiếc xe jeep, Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên thong thả
tiến tới. "Có nhiều người VN ra đi trái phép đang ở
trên máy bay này,"Tướng Tiên nhếch mép. Một cách đe
dọa, bàn tay ông mân mê khẩu súng .45 ly đeo ngang hông.
"Thưa ông, trên máy bay cũng có những nhân viên an ninh Mỹ,
và họ sẽ nổ súng nếu có ai tấn vào,"Delligati đáp lại.
Nói xong, ông gọi radio về cho Tướng Homer Smith, Chỉ Huy
Trưởng DAO để cầu cứu. "Anh cứ đứng chờ, tôi sẽ
làm những gì cần thiết,"Smith trả lời. Vài phút sau, ông
gọi lại cho Delligatti: "Anh hãy thông báo cho Tướng Tiên
biết rằng Thiếu Tướng Bình đã cho phép máy bay cất
cánh."Quắc mắt nhìn Delligatti, ông Tiên ra dấu hiệu cho
những người lính giải tán.
Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên là tư lệnh Sư Đoàn 5 Không
Quân. Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình là Tư Lệnh Cảnh
Sát kiêm Tổng Giám Đốc Trung Ương Tình Báo.
Kể từ ngày trước hôm đó, 19 tháng 4 khi Tòa Đại sứ
Mỹ nhận được quyền cho tạm dung nới rộng, bao gồm
thêm một số người Việt được di tản (như đã đề
cập tới trong cuốn "Khi Đồng Minh Tháo Chạy,"trang 353),
những chuyến máy bay C-141s di tản người Mỹ và một số
người Việt làm việc cho Mỹ lên xuống tấp nập ở phi
trường Tân Sơn Nhất.
Phải chớp nhoáng bốc người Mỹ
Sau cái cảnh quân dân ào ạt ra phi trường Đà Nẵng, máy
bay di tản phải phóng bừa đi để cất cánh, bây giờ lại
bắt đầu có khó khăn ở Tân Sơn Nhất. Ngũ Giác Đài
càng hoảng sợ và xúc tiến cho thật mau để chớp nhoáng
di tản người Mỹ. Tuần báo Time (ngày 21 tháng 4) tiết
lộ: "Sự nguy hiểm là Cộng sản sẽ pháo kích các phi
trường. Cũng có một khả năng ác liệt khác là quân
đội Miền Nam sẽ quay súng bắn phi trường Tân Sơn Nhất
... nếu những người Mỹ rục rịch di tản."Như đã thuật
lại trong cuốn "Khi Đồng Minh Tháo Chạy": vào thời điểm
đó, một kế hoạch di tản có mật hiệu là "Talon Vise"đang
được bàn định. Lựa chọn thứ nhất cuả kế hoạch này
là di tản bằng máy bay từ Tân Sơn Nhất.
Kế hoạch này gồm bốn bước (xem hình):
TQLC Mỹ bay vào, chiếm và bao vây phi trường Tân Sơn
Nhất;
Trực thăng bốc người di tản từ Toà Đại sứ và các
điểm khác trong nội thành bay ra phi trường;
Các máy bay vận tải lớn chở đoàn di tản sang phi cảng
Clark ở Phi Luật Tân; và
Khu trục cơ Mỹ bao phủ vòm trời từ Tân sơn Nhất ra Vũng
Tầu để yểm trợ.
Tờ Newsweek (28 tháng 4, 1975) còn viết thẳng ra: "Thực
vậy, kế hoạch phòng hờ để bảo vệ người Mỹ được
soạn thảo ra dường như là để đối phó với những
người lính Miền Nam đang liều mạng tìm lối thoát hoặc
uất hận vì bị bỏ lại, còn nhiều hơn là đối phó với
đoàn quân Cộng sản đang tiến tới."
Vì sao lại chỉ lo đối phó với những người lính Miền
Nam? Cựu Đại sứ Nga Xô tại Washington, ông Anatoly Dobrynin
đã cho ta câu trả lời. Hồi ký In Confidence của ông này
thuật lại là khi Miền Nam sụp đổ Hoa Kỳ nhờ Nga can
thiệp với Hànội: "Ngày 19 tháng 4, 1975, ông Kissinger đưa
cho tôi một "thông điệp khẩn thiết"để chuyển cho
Tổng bí thư Brezhnev. Thông điệp này yêu cầu Nga Xô giúp
sắp xếp để có một cuộc ngưng chiến tạm thời nhằm
tránh thiệt hại về nhân mạng, và có được một thời
gian di tản mà không bị gián đoạn để đưa người Mỹ và
một số người Việt do họ bảo trợ ra đị"Ngày 24,
Brezhnev trả lời là phía Hànội đã cho hay "họ sẽ không
can thiệp vào việc di tản người Mỹ ra cho nhanh, và họ
không có ý định làm tổn thương tới uy tín của Hoa
Kỳ."Ông thêm: "Tổng Thống Ford nghe vậy đã thở
phào."Hết lo về phía Hànội, như vậy, kế hoạch đem TQLC
vào để bảo vệ di tản chỉ là để phòng hờ sự phẫn
nộ của quân, dân Miền Nam.
Đại sứ Graham Martin cực lực phản đối việc này và gọi
đó là một "kế hoạch điên rồ"Sau khi sụp đổ, ông
tường trình lại cho Quốc Hội Hoa Kỳ:
"Tình báo của chúng tôi đã có rất nhiều những báo cáo
chính xác là nếu chúng ta mang số đông TQLC vào để di
tản người Mỹ, chúng ta sẽ phải chiến đấu để mở
đường tháo chạy. Không Quân VN sẽ bắn rơi các máy bay
vận tải của mình, khi chúng ta bỏ rơi chiến hữõu, phó
mặc họ cho Bắc Việt".
Vì e ngại phi công là những phần tử uất hận nhiều
nhất nên có thể phản ứng, và vì vậy ông đã giúp họ
và gia đình di tản : "Tôi có một sự lo nghĩ trong lòng
nhưng nó đã được giải quyết trước ngày cuối cùng
của cuộc di tản, đó là một phần đông không quân Miền
Nam đã được bay sang căn cứ Utapao ở Thái Lan. Như vậy
là đã di chuyển được khả năng (chiến đấu) của một
số phi công chống đối trên bầu trời, họ có lẽ là
phần tử uất hận nhất trong các quân chủng. Và để trả
thù, họ sẽ ngăn chặn cuộc di tản cuối cùng của chúng ta"
Tại sao Đại sứ Martin lại quá lo nghĩ về không quân ?
Mời bạn đọc theo rõi thêm hai mật điện sau đây cuả ĐS
Martin đánh về Washington, đề ngày 15 tháng 4 và 16 tháng
4, 1975:
1.Tướng Nguyễn Ngọc Loan.
Trong Mật điện số # WH 50679 để trả lời về việc
Washington cứ hối thúc ông phải di tản cho thật lẹ,
trước hết ông Martin nói tới Thiếu tướng Nguyễn Ngọc
Loan:
Ngày 15 tháng 4, 1975
Gửi Ngoại trưởng Henry Kissinger:
Người gửi: Đại sứ Graham Martin
"Ý định cuả tôi là sẽ thu gọn số người Mỹ #
tại VN lại cho thật nhanh theo như sức người có thể để
mang được họ ra mà vẫn còn sống nguyên vẹn.
"Trước đây, trong công điện "Sàigòn 683", tôi đã thông
báo cho ông Ngoại Trưởng biết những lời bình luận cuả
Tướng (Nguyễn Ngọc) Loan về việc gì sẽ có thể xẩy ra
trong trường hợp Mỹ di tản toàn bộ.
"Khi nghe những lời tuyên bố cuả các nghị sĩ Mansfield,
Church, Jackson trên radiô, cũng như đọc báo chí, và những
bài xã luận trên tờ New York Times, với tất cả những
tiết lộ phát xuất từ Washington về cuộc di tản, kể cả
cái mật hiệu cuả nó là "Talon Vise,"và khi thấy những áp
lực đang gia tăng ở Mỹ, thì tôi đã biết thế nào ông
cũng sẽ gửi thông điệp cho tôi.
"Sự hoảng hốt ở Sàigòn vì những hành động cuả chúng
ta tại Washington, và bản chất những hành động cuả chúng
ta tại đây, cũng như những lời tuyên bố inh ỏi ngày
càng gia tăng, những bình luận cuả báo chí, đều là mối
lo lắng cho tôi còn lớn hơn cả khả năng tấn công cuả
quân đội Bắc Việt, cho dù khả năng này là rất đáng
ngại."
Tuy cho tới nay, chúng tôi cũng chưa được xem mật điện
"Sàigòn 683"viết về những "bình luận"cuả Thiếu Tướng
Loan, nhưng theo mạch văn cuả công điện trên và trong khung
cảnh lúc đó, chắc chắn là ông Loan, một con người
trực tính, đã có những lời lẽ cảnh cáo rõ ràng và
thẳng thắn đối với phiá Mỹ. Dù lúc đó tướng Loan
đã về hưu nhưng ông vẫn còn uy tín và liên lạc nhiều
với các anh em Không Quân. Giờ đây, ông đã đi về thế
giới bên kia, nhưng chắc chắn vẫn còn những cộng tác
viên hoặc gia đình hay bạn bè cuả ông biết rõ về
chuyện này.
2. Trung tướng Nguyễn Cao Kỳ (cách gọi trước 30/4/1975)
Về phía không quân, ngoài ông Loan, ông Martin còn nói tới
ông Kỳ. Trong công điện số WH 50694 gửi về cho Chánh Văn
Phòng Tổng Thống Ford ở Tòa Bạch Ốc, ông yêu cầu là
cứ để cho ông bình tĩnh sắp xếp việc di tản ở
Sàigòn vì ông đã có cách, chớ có mang TQLC Mỹ vào, vì :
Ngày 16 tháng 4, 1975 Gửi Ông Brent Scowcroft Người gửi:
Đại sứ Graham Martin
"...Đây là cách tốt nhất để có thể rút ra khỏi nơi
này mà không phải dùng quân lực Mỹ đánh nhau với đồng
minh trước đây cuả chúng ta, hoặc sát hại những người
thường dân VN.
"Sự quan trọng cuả việc này được phản ảnh trong lời
nhắn dưới đây mà tôi vưà nhận được từ Tướng Kỳ,
như sau:
"Trích dẫn 1 (cuả lời nhắn) Ngày 15 tháng 4, 1975 Trung
tướng Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng Thống và Cựu Thủ
Tướng có nói rằng nếu Quốc Hội không chịu cấp bất
cứ mức quân viện nào thì tình hình sẽ "trở nên tan
rã"hầu như ngay tức khắc. Ông ta muốn lưu ý ông Đại
sứ rằng nếu Mỹ không cấp quân viện nữa thì cũng nên
tuyên bố cho hết sức cẩn thận .
Ông ta e ngại cho mạng sống cuả những người Mỹ. Ông nói
rằng việc TT Ford tuyên bố là sẽ cho những gia đình
người Việt làm việc cho Mỹ được di tản đã làm cho
những sĩ quan tác chiến cuả quân lực VNCH phẫn nộ;
những người này là những người đã trung thành phục
vụ, và đặc biệt là do họ mà ông Kỳ lo lắng cho sự an
toàn cuả người Mỹ.
"Trích dẫn 2 (cuả lời nhắn).
Tướng Kỳ hy vọng rằng một ít quân viện, tỷ như vài ba
trăm triệu sẽ được cung cấp. Việc này sẽ nâng cao tinh
thần và hy vọng cuả quân đội và nhân dân. Lý tưởng
nhất là nếu Hoa Kỳ có thể sắp xếp để có được
một nhóm lãnh đạo mới cho Chính Phủ VNCH và có được
áp lực từ phiá các cường quốc đối với Hànội, thì
ông ta tin rằng một cuộc điều đình có ý nghiã sẽ có
thể thành tựu. HẾT
Trích dẫn ông Kỳ xong, ông Martin kết luận:
"Tôi sẽ làm dịu lòng Tướng Kỳ xuống và hy vọng ông ta
cũng sẽ làm dịu lòng các sĩ quan tác chiến cuả ông ta
xuống.Thế nhưng tôi không chịu đựng được quá nhiều
những can thiệp từ Bộ Ngoại Giao khi ông Henry (Kissinger)
còn đi vắng. Cho nên, nếu Bộ có gửi những công điện
nào vô nghiã thì tôi sẽ cứ lờ đi (không trả lời) cho
tới khi trao đổi được với chính ông, và ông khẳng
định cho tôi rằng đó là ý muốn cuả Tổng Thống."
Nhưng ngoài không quân, lại còn bao nhiêu lực lượng võ
trang khác. Khi nhận được tin tức càng ngày càng rõ về
kế hoạch di tản do Ngũ Giác Đài đang chuẩn bị, Đại sứ
Martin lại phản đối mạnh hơn. Ngày 8 tháng 4, TT Ford đã
yêu cầu rõ ràng với Quốc Hội cho phép dùng quân lực
Mỹ để thực hiện "một mục tiêu giới hạn là bảo vệ
mạng sống người Mỹ bằng cách đảm bảo cuộc di tản cuả
họ, nếu trở nên cần thiết."Khi nghe chính Tổng Thống
nói tới "dùng quân lực"ông Martin hết hồn. Bây giờ ông
lại được báo cáo về việc rắc rối ở Tân Sơn Nhất.
"Lúc đó đã có bao nhiêu những kế hoạch điên rồ (crazy
plans) được mang rạ Tôi phải cố ngăn chận lại. Suýt
nữa thì hoàn toàn đổ vỡ, chẳng ai đi được mà còn
có thể gây ra thảm họa lớn,"Đại sứ Martin kể lại với
tôi năm 1985.
Trình bày cho Quốc Hội về việc này sau khi Miền Nam sụp
đổ, ông Martin nói tiếp:
"Tôi cho rằng mang quân đội Mỹ vào là một sai lầm lớn
vì, thưa quý vị, nếu quý vị đứng vào hoàn cảnh cuả
người VN thì quý vị sẽ phản ứng như thế nào?"Đêm ngày
17 tháng 4, trong một thông điệp rất dài gửi Ngoại
Trưởng Henry Kissinger, ông đã nhấn mạnh:
"Tất cả những tin tức lặt vặt nhận được về phản
ứng (cuả phiá VNCH) đều xác định đây là điều chúng ta
không nên làm..."
Những ai khác đã bắn chỉ thiên (Warning Shot) ?
Chắc chắn là ngoài Tướng Loan và Tướng Kỳ, Đại sứ
Martin đã nhận được nhiều tin tức tình báo về khả
năng này. Ta thử tưởng tượng xem n hững gì có thể
xẩy ra nếu Mỹ mang TQLC vào chiếm đóng Tân Sơn Nhất,
rồi tới Toà Đại sứ; sau đó, trực thăng và từng đoàn
xe chở người Mỹ và một số rất nhỏ người Việt tới
phi trường. Khi thấy sự phản bội quá lộ liễu như
thế, liệu các đơn vị quân đội, cảnh sát, nghiã quân,
điạ phương quân, và dân chúng có để yên hay không? Chỉ
một quả lựu đạn ném vào đoàn xe di tản làm chết vài
người là đã có chuyện lớn rồi. Dầu sôi lửa bỏng là
như vậy. Vào đầu tháng 4, sau những buổi họp tại Dinh
Độc Lập và Phủ Thủ Tướng, tôi cũng đã bắt đầu nghe
thấy hai chữ "đ.m."Ngày 13 tháng 4, sau khi Tân Thủ Tướng
Nguyễn Bá Cẩn yêu cầu chúng tôi tiếp tục giữ chức
Tổng Trưởng Kế Hoạch trong chính phủ mới do ông thành
lập, ông tổ chức một buổi họp để tham khảo Nội Các.
Tôi còn nhớ chính ông cũng như nhiều thành viên rất băn
khoăn, lo ngại, đi đến chỗ có thể nói là phẫn nộ về
việc người Mỹ ồn ào di tản, xây nhiều bãi đậu trực
thăng trên nóc một số cao ốc. Thật là khó khăn cho
chính phủ trong việc giữ an ninh, trật tự. Sau này nhiều
người cũng kể lại cho chúng tôi nghe sự phẫn nộ lúc
đó tại các đơn vị quân đội VNCH cũng như Cảnh Sát
khắp nơi (như đã thuật lại trong cuốn KĐMTC). Khả năng
bắt Mỹ làm con tin đã thực sự được người ta rỉ tai
nhau.
Sau đây là vài thí dụ về việc VNCH đã cảnh cáo đồng
minh. Trong điện số WH 50679, ông Martin nói tới hai nhân
vật khác: 1. Trung Tướng Đặng Văn Quang
"Vừa mới đây, tôi có nhận được một bản ghi nhớ
(về một cuộc họp giữa Mỹ và VNCH) nhấn mạnh tới ảnh
hưởng trầm trọng của những việc chúng ta đang làm đối
với những người bạn VN. Sau đây là Bản Ghi Nhớ:
Kính gửi: Ông Đại sứ
Vấn Đề: Sự lo ngại cuả giới chức cao cấp VNCH về
những hành động cuả Toà Đại sứ chuẩn bị di tản
người Mỹ và số nhân viên người Việt, hiện đang làm
cho nhân dân hốt hoảng.
"Trong buổi thảo luận ngày 15 tháng 4
(cuả chúng tôi) với Phụ tá Đặc biệt về Quân sự và An
Ninh Tổng Thống, Trung tướng Đặng Văn Quang và một trợ
lý cuả ông ta, rất nhiều thời giờ đã dành cho việc
duyệt xét lại những hoạt động gần đây cuả Toà Đại
sứ Mỹ trong việc chuẩn bị để di tản. Người trợ lý
Tướng Quang lưu ý chúng tôi rằng họ biết hiện đang có
một cuộc kiểm kê tại Toà Đại sứ để quyết định xem
những ai trong số nhân viên người Việt và người Mỹ
được ra đi ngay. Ông ta, người nói nhiều nhất trong
buổi họp, cho hay rằng một số bạn bè và họ hàng đã
liên lạc với ông
vì bị hoảng hốt khi nhìn thấy các hoạt động cuả Toà
Đại sứ Mỹ.
"Ông này còn lưu ý chúng tôi rằng tất cả những người
Mỹ nói được tiếng Việt đều đã cho nhân viên người
Việt cuả họ biết rằng họ đang sửa soạn ra đi rồi. Ông
ta nói tiếp rằng sự lo lắng trong lòng người dân đang
gia tăng vì họ tự hỏi tại sao "người Mỹ lại bỏ rơi
chúng tôi,"bỏ rơi cả chánh phủ lẫn toàn thể nhân dân.
"Người trợ lý nhấn mạnh:
đang khi tinh thần người dân "hết sức bết bát"và ở
vào một "thời điểm rất nguy hiểm,"mà người Mỹ lại
làm những chuyện "điên rồ"như thế này? Ông ta thêm
rằng người dân sẽ không còn nghe lời chính phủ nữa mà
chỉ nhìn vào việc người Mỹ sửa soạn ra đi, rồi chính
họ cũng muốn ra đi như vậy.
3. Chuẩn Tướng Phan Hoà Hiệp
Chuẩn Tướng Phan Hoà Hiệp, lúc đó cũng là Tổng
Trưởng Thông tin:
"Tiếp theo cuộc thảo luận này, Tướng Quang đã lập tức
đặt vấn đề với Tổng Trưởng Thông tin, Chuẩn Tướng
Phan Hoà Hiệp. Ông Quang lặp lại với ông Hiệp rằng
hiện Mỹ đang có cuộc chuẩn bị khổng lồ cho việc di
tản, và việc này đang gây ra sự hốt hoảng.
"Tướng Quang yêu cầu Tướng Hiệp nói thẳng với phiá
Mỹ về vấn đề này-tuy nói một cách nhẹ nhàng nhưng
phải cương quyết. Ông Hiệp phải nói rằng: cùng với bài
diễn văn cuả Tổng Thống Ford, hành động cuả Toà Đại
sứ Mỹ đang gây ra hoảng hốt và làm cho tinh thần người
dân hoang mang. Ngoài ra, ông Hiệp còn phải cho phiá Mỹ hay
rằng khi họ tiến hành cuộc thẩm định #
xem người nào được ra đi thì nên làm cho kín đáo, và
phải "giảm bớt những hoạt động (lộ liễu)
xuống,"đừng để cho người VN biết những gì đang diễn
ra (bên trong Toà Đại sứ), vì "người Việt sẽ loan
truyền tin tức đi khắp nơi"và sự hoảng hốt sẽ thực
sự xảy rạ HẾT. Martin
"Chớ Có Bắt Mỹ Làm con Tin"
Nhận được những thông tin ấy, Tòa đại sứ Mỹ hết
sức lo ngại về khả năng bị bắt làm con tin. Vào những
giờ phút căng thẳng nhất, ông Thomas Polgar, trùm CIA ở VN
đến gặp Thiếu Tướng Bình.
"Chúng tôi nghe thông tin là có những đoàn thể võ trang
định bắt người Mỹ làm con tin?"
Polgar gạ hỏi.
"Tôi nghĩ rằng có, nhưng chưa có gì là cụ thể, hay tổ
chức thành kế hoạch,"
ông Bình trả lời.
"Chúng tôi biết đã có một tiền lệ ở đây về việc
bắt cóc."
"Tiền lệ nào?
"Chắc Thiếu tướng còn nhớ vụ "Cité René Hérault?"
"Tôi nhớ, nhưng ông đừng lọ Dù sao, tôi cũng cho ông hay
là cả thủ đô đang đặt vấn nạn tại sao Mỹ chỉ cho một
số nhỏ người Việt được di tản?"
"Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức về việc này."
Biến cố "Cité René Hérault"xảy ra vào năm 1945. Cư xá này
nằm ở Tân định, phía tay phải trên đường từ Tân Sơn
Nhất vào thành. Phần đông là nơi người Pháp và lai
Pháp cư ngụ. Tôi nghe nói là có lúc Đại tá Nguyễn Văn Y
cũng ở cư xá này. Tình hình tại Sàigòn vào mùa hè năm
ấy hết sức sôi động. Bao nhiêu tranh chấp giữa các phe
phái:Nhật, Pháp, Việt Minh, lực luợng Đồng Minh do D.D.
Gracy (người Anh) chỉ huỵ Ngoài Việt Minh, lại còn các phe
phái VN khác. "Mờ sáng ngày 25 tháng 9, lực lượng Bình
Xuyên tấn công cư xá."Theo sử gia Stanley Karnow, 150 người
Pháp và lai Pháp bị hạ sát, trên 100 bị bắt làm con tin.
Nhưng theo Vũ Ngư Chiêu viết về diễn tiến tại Sàigòn
(Đặc San "Mũ Đỏ"Xuân Bính Tuất 2006) thì thực ra chỉ
vài ba nguời Pháp bị giết, khoảng 50 người bị bắt làm
con tin, rồi bị giết. Nhưng,"để hâm nóng dư luận quốc
tế, các cơ quan tuyên truyền Pháp phóng đại số nạn nhân
lên "hàng trăm"Pháp kiều vô tội."
"Sẽ không một người VN nào bước lên máy bay hay tàu Mỹ
nếu..."
"Này Thiếu Tướng, chúng ta là đồng minh đã mấy chục
năm, chết sống với nhau trên chiến trường "
Đại sứ Martin nói với Tướng Bình,
"Bây giờ đến lúc kết thúc, ta phải làm sao cho êm đẹp,
"terminer en beauté"."
Với một giọng nói nghẹn ngào và chân thành, ông nói
tiếp:
"Tôi sẽ cố gắng tranh đấu hết sức của tôi để di tản
một số người Việt đông nhất có thể, nhưng tôi cần
ông giúp một việc quan trọng nhất lúc này."
"Việc gì, thưa Đại sứ ?"
"Ông phải làm sao giữ được an ninh tại Sàigòn cho tới
giờ phút chót. Và quan trọng nhất là chớ có để xảy ra
vụ bắt cóc người Mỹ, dù quân sự hay dân sự."
"Thưa Đại sứ, an ninh thủ đô là mối quan tâm nhất của
tôi. Và giờ phút này, theo lệnh của Tổng Thống Thiệu,
lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến đóng ở Vườn Tao Đàn và
dưới quyền điều khiển trực tiếp của tôi đang làm
việc ngày đêm cho công tác này."
Đại sứ Martin nhìn thẳng mắt Tướng Bình, rồi dằn
từng tiếng:
"Cám ơn Thiếu Tướng, vì nếu có xảy ra dù chỉ một vụ
bắt cóc hay lộn xộn, tôi bảo đảm với ông là sẽ không
một người VN nào bước lên máy bay hay tàu Mỹ."
Sau một vài trao đổi, ông Martin tạm biệt ông Bình: "Tôi
cam kết với ông rằng nếu mọi chuyện tốt đẹp, tôi sẽ
là người cuối cùng bước lên máy bay."
*
"Được rồi, Jim,"Ngoại Trưởng Kissinger gọi cho Bộ
Trưởng Quốùc Phòng Schlesinger,"anh phải nói thẳng với
ông ta đi, vì nếu anh không nói "đây là lệnh Tổng
Thống"thì ông ta không chịu ra đi đâu.""Xong rồi, tôi sẽ
làm chuyện đó,"Schlesinger trả lời. "Như anh biết, ông ta
đã mất một người con ở VN."Kissinger tiếp. "Thật vậy,
ta phải thán phục ông tạ"
*
Đúng 4 giờ 45 phút sáng ngày 30 tháng 4, có anh phi công
vạm vỡ bay chiếc trực thăng mang bảng hiệu Lady Ace 09ø
lượn đi lượn lại rồi đáp xuống bãi đậu trên nóc
toà Đại sứ Mỹ. Anhø ta gỡ một miếng giấy đã buộc
sẵn vào đùi, rồi đưa cho ông Martin: "Đây là lệnh của
Tổng Thống, Đại sứ phải ra đi trên chuyến bay cuối
cùng này."Nếu không, theo như tiết lộ về sau của Đô
đốc Gayler (Tư lệnh Thái Bình Dương): "Tôi đã có thẩm
quyền để áp giải trong trường hợp ông Đại sứ không
tuân lệnh của Tổng Thống."Thế là hết đường tháo luị
Đại sứ Martin bơ phờ ôm lá cờ Mỹ bước lên chiếc Lady
Ace 09 vào lúc 4 giờ 58 phút. Anh phi công phát sóng "Tiger,
Tiger, Tiger"(Con hổ, Con hổ, Con hổ), mật hiệu là đã
đưa được ông Đại sứ lên trực thăng rồi.
Sự có mặt của Hoa Kỳ tại Miền Nam tới đây đã hoàn
toàn chấm dứt (KĐMTC, trang 403-407).
Mấy tiếng đồng hồ sau, vào 10 giờ sáng ngày 30 tháng
tư, 1975, quân đội Bắc Việt tiến vào Sàigon. Ngay
trước lúc ấy (9 giờ 59 phút), Sàigòn vẫn còn êm ả:
điện, nước, cầu tiêu vẫn đều hòa; radio, TV, điện
thoại, xe taxi, xe buýt, vẫn họat động như thường lệ.
Giây phút đó đã kết thúc một thời gian trên hai năm
kể từ khi quân đội Mỹ triệt thoái khỏi VN. Ít người
trong chúng ta để ý tới một sự kiện lịch sử quan
trọng. Đối với chúng tôi, nó hầu như là "một phép
lạ."Đó là trong trên hai năm vô cùng khó khăn về mọi
mặt: quân sự, chính trị, và kinh tế, tài chánh, Sàigòn
và các đô thị lớn được hầu như hoàn toàn an ninh.
Không có đốt nhà, phá phách, cướp bóc, ám sát, đảo
chính, biểu tình quy mô hay đình công. Và tới giờ phút
chót, Sàigòn lại đến sát bên bờ vực thẳm, nhưng rồi
nhờ ơn Trên nên đã thoát được. Âu cũng là một niềm
yên ủi cho tất cả những con người VN.
Liệu Baghdad có được may mắn như vậy hay không khi
đồng minh tháo chạy? Và liệu đồng minh có thoát được
cảnh bị bắt con tin (như đã xảy ra ở Teheran, Iran vào năm
1979-1980)? Mấy tuần qua, Báo Cáo Baker về Iraq đã được
giới truyền tin đề cập rộng rãi. Trong những ngày
tháng sắp tới, ta sẽ thấy Tân Quốc Hội nhóm họp và
bàn cãi không ngơi. Nhưng nói gì thì nói, bàn gì thì bàn,
có điều chắc chắn là cuộc rút quân khỏi Iraq sẽ bắt
đầu nội trong năm 2007 (năm trước tuyển cử), và thực
sự rút (ít nhất cũng một phần lớn) trước tháng 11,
2008 tức là tháng tuyển cử, như chúng tôi đã tiên đoán
lúc ra mắt cuốn KĐMTC.
Đứng trước thềm năm mới, ta hãy cám ơn Trời, và cầu
xin sự an lành cho những người dân vô tội xứ Babylon.
oOo
|