Viet Nam Network

Welcome to VN.NET
04/02/12

20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955 - 1975
  |      Contributed by: phuochung  |  Views: 3.512
Nguyễn Văn Lục

Văn học dịch kể như không có trong mắt một số nhà văn, nhất là một số người làm công tác phê bình văn học nghệ thuật. Nhà văn Võ Phiến có bộ sách dày gần 2000 trang về Văn học miền Nam nhưng đối với mảng Văn học dịch thì ông hà tiện lắm: vỏn vẹn có hai trang. Trong hai trang đó, ông lại dành để nói lên cái nỗi lo sợ của một số người làm văn hoá lúc bấy giờ vì sự tràn ngập sách dịch ở miền Nam vào cuối những thập niên 60 và đầu 70.

Võ Phiến đã có công lập một danh sách những người làm văn nghệ trong Nam như các nhà thơ, các nhà văn... ngay cả những người viết về Triết, về Sử, các người làm nghiên cứu về ngôn ngữ học, những người viết về chính trị như ông Vũ Tài Lục hay Nguyễn Bảo Trị cũng có tên nhưng lại không lập danh sách các dịch giả. Vì trong tập mở đầu Văn học miền Nam tổng quan, Võ Phiến đã có lời hứa: ""Các tập kế tiếp sẽ được dành cho từng bộ môn sáng tác". Thế là rõ ràng rồi, phải sáng tác mới được. Thật cũng chẳng muốn làm khó Võ Phiến, nội cái việc chọn người này, không chọn người kia cũng đủ làm ông mệt rồi.

Riêng những người làm công việc dịch thuật thì kém may mắn thật. Tên họ đã không có. Chẳng hạn như chị em Phùng Thăng, Phùng Khánh rồi Vũ Đình Lưu, Hải Triều, Ngọc Thứ Lang, Nguyễn Văn Sơn, Trần Thiện Đạo, Bửu Ý, Phạm Kim Khôi, Nguyễn Hữu Hiệu, Đinh Bá Kha hay các dịch giả dịch tiểu thuyết Tàu như Hàn Giang Nhạn, Liêu Quốc Nhĩ và hằng trăm người khác.

Họ không có mặt.

Điều đó chúng ta phải nghĩ thế nào? Phải chăng sách dịch là thứ văn hóa ngoại lai không đáng được nói tới? Vậy mà cái thị phần sách dịch theo Võ Phiến đã có một thời vào năm 1970 chiếm đến 60% và đến năm 1972 đã lên đến 80% toàn bộ đầu sách xuất bản ở miền Nam. Trần Trọng Đăng Đàn, trong Văn Hoá, Văn Nghệ Nam VN 1954.1975 cũng đưa ra con số chính xác như Võ Phiến. Cũng theo Trần Trọng Đăng Đàn, sau kết quả điều tra, tiến hành vào tháng 7.1976, số sách dịch của miền Nam trong 20 năm bao gồm: Đức 57 đầu sách, Ý 58, Nhật 71, Anh 97, Mỹ 273, Pháp 499, Đài Loan và Hương Cảng 358, Nga 120, còn lại các nước khác 38 [1]. Những con số vừa nêu trên đáng để ta suy nghĩ lắm chứ?

Trong những năm đầu, từ 1955 đến 1960 số đầu sách dịch kể ra còn thưa thớt. Không phải chính quyền không lưu ý đến điều đó, bên cạnh công tác dịch thuật của các cơ quan văn hóa như Cơ quan viện trợ Á Châu (Asian Foundation), Phòng thông tin Hoa Kỳ, Hội Việt Mỹ, Phù Luân Hội và nhất là Hội văn hoá Á Châu (Asian culture association), ngay từ cuối 1955 Bộ thông tin dưới thời tổng thống Ngô đình Diệm đã ban hành nghị định về: Thủ tục kiểm duyệt ấn phẩm nước ngoài nhập cảng - ấn định thủ tục duyệt các sách dịch - về tiền thù lao dịch thuật và các loại sách được nhập cảng vào VN.

Đến thời tổng thống Nguyễn văn Thiệu, đã thành lập Ủy ban dịch thuật do ông Mai Thọ Truyền làm chủ tịch. Năm 1970 đã thiết lập Hội đồng chấm giải dịch thuật. Năm 1971, tổng thống Thiệu đã xuất quỹ một triệu bốn trăm ngàn đồng cho các giải về dịch thuật. Nhưng tất cả những nỗ lực từ phía chính quyền và các cơ quan Văn Hóa thật sự chẳng có ảnh hưởng là bao nhiêu đến sinh hoạt dịch thuật ở miền Nam, đôi khi còn gây phản tác dụng có hại.

Khung cảnh lúc bấy giờ ở miền Nam, nhất là sau khi Sáng Tạo ra đời vào tháng 10.1956, có một không khí nở rộ, tưng bừng. Mọi sinh hoạt văn học như bừng trỗi dậy: thơ văn, sách báo tiểu thuyết, hội họa. Báo có Ngôn Luận, Tự Do thu hút được nhiều cây viết có tài. Nhạc có Phạm Duỵ Hội họa có Tạ Tỵ, Thái Tuấn, Duy Thanh. Triết Tây có Nguyễn Văn Trung và Nguyễn Nam Châu với hai cuốn: Những nhà văn hoá mới (1958) và Sứ mệnh Văn Nghệ (1958) [2].. Hai cuốn sách này đã gây thích thú cho nhiều độc giả thời kỳ đó. Chỉ tiếc rằng, sau đó Nguyễn Nam Châu đi du học rồi làm giáo sư ở Bỉ không thấy xuất hiện nữa. Báo tuần có Sáng Tạo khua động, phất trống mở cờ với lời tuyên bố của Mai Thảo trong Sáng Tạo, số 1, 1956: ""Sàigòn thay thế cho Hànội, từ một đô thị miền Nam trở thành thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước. Sàigòn sáng tạo và suy tưởng". Tiếp theo là Văn Hoá Ngày Nay, Bách Khoa, Hiện Đại, Thế Kỷ 20, v.v..

Sự có mặt của Sáng Tạo vô tình đã đẩy lui một số khuôn mặt những nhà văn, nhà thơ cũ vào im lặng, tệ hơn nữa vào bóng tối. Họ là những Đông Hồ, Vũ Bằng, Quách Tấn, Thiên Giang, Thẩm Thệ Hà, Tam Lang, Vi Huyền Đắc và đặc biệt là Nhất Linh với tờ Văn Hóa Ngày Nay.

Khi số báo đầu tiên của Văn Hóa Ngày Nay ra ngày 27.06.1958 đã bán được 10.000 số. Sự tò mò háo hức tìm lại Tự Lực Văn Đoàn nhanh chóng trở thành nỗi thất vọng: Vẫn thế... Không ai ngờ sau đó độc giả bỏ rơi Nhất Linh. Nghĩ lại cái thời từ 1930-1945, Nhất Linh huy hoàng quá, không ai hơn ông đuợc. Làm sao ông không buồn? Nói cho cùng cũng chẳng phải tại Sáng Tạo. Cuộc di cư của người Bắc vào Nam đã bỏ lại sau lưng gần như toàn bộ quá khứ một cách không tương nhượng, cả một truyền thống văn học, một nếp sống, nếp nghĩ vào đến trong Nam theo quy trình hội nhập đã tự động cởi rũ để hội nhập. Sáng Tạo có mặt vì đem lại một cái gì mới, chặt cầu với cái cũ, giới thiệu cái ngày hôm nay, dù ngày hôm nay chưa định hình và chưa biết hôm nay là cái gì... Văn Hóa Ngày Nay muốn làm sống lại thời 45, điều đó đi ngược lại tiến trình hội nhập xã hội khiến bị loại là điều khó tránh được.

Riêng Sáng Tạo, mặc dầu được tài trợ của chính quyền cũng chỉ có mặt vỏn vẹn có 31 tháng. Mặc dù vậy, đó là những giai đọan đem lại nhiều thay đổi, nhiều triển vọng sau này cho các lớp nhà văn trẻ nam và nữ của thập niên 60.

Trước tình hình như thế, sinh hoạt dịch ra sao? Thật ra miền Nam lúc đó không thiếu những người có đầy đủ uy tín và trình độ để dịch thuật. Họ có vốn liếng tiếng ngoại quốc Anh và Pháp ngữ, đi du học về. Chẳng hạn, tờ Sáng Tạo cứ mang tiếng là cửa ngõ đem chủ nghĩa Hiện Sinh vào VN. Nào đã có ai dịch cái gì đâu? Chỉ có rải rác một vài bài sau đây: Văn chương và Siêu Hình Học, Nguyễn văn Trung, số 10 tháng 7.1957; Nhận định đại cương về triết học Hiện Hữu, Nguyên Sa, số 14 tháng 11.1957; Khái niệm về chủ nghĩa Hiện Sinh, Quang Minh, số 28.29 tháng 1 và 2.1959; Trình bầy và phê bình hai quan điểm nổi loạn của Camus, Thạch Chương, số tháng 9.1960. Dịch và giới thiệu: Người đàn bà ngoại tình của Camus, Nguyễn Văn Trung, số tháng 12.1960.

Hình như chỉ có vậy.

Trong khi đó, trên tờ Bách Khoa, có tất cả 21 bài viết liên quan đến triết học Hiện Sinh. Phần lớn do Trần Hương Tử, tức Trần Thái Đỉnh viết từ Kierkergaard, Heidegger đến Husserl, Sartre, Camus [3].. Thật sự triết học Hiện Sinh được giới thiệu và được nói tới nhiều từ tạp chí Đại Học Huế, có 23 bài viết về triết học Hiện Sinh [4].. Nhưng số sách dịch và biên khảo về chủ nghĩa này chỉ ảnh hưởng nơi một số sinh viên, nhất là những sinh viên Văn Khoạ

Sách dịch Jean Paul Sartre

Phần lớn sách dịch về Sartre là ở phần văn chương Hiện Sinh, phần tiểu thuyết của Sartrẹ Những tác phẩm về triết lý Hiện Sinh như L" Etre et le Néant (1943), Critique de la raison dialectique (1960) đã không được dịch. Có muốn dịch cũng không phải dễ. Về Sartre có những dịch phẩm sau:

Cuộc tranh luận về văn nghệ giữa Sartre, ỴBerger, Simon {Trần Thiện Đạo}, báo Văn số đặc biệt về J.P Sartrẹ Sartre tỏ rõ thêm về quyển Les Mots, bài của J. Platier {Trần Thiện Đạo}. Tiền Phong là gì? {Lê Huy Oanh}. Sartre nói về Sartre {Trần Thiện Đạo}. Ạ Camus, J.P. Sartre {Trần Thiện Đạo}. Guồng máy L" engrenage {Trần Phong Giao}. Ả giang hồ La pute respectueuse {Nguyễn Minh Hoàng}. Không một nấm mồ Morts sans sépultures rồi Les séquestrés d" Alton và Sự đã rồi Les jeux sont faits {Trần Phong Giao}. Những ruồi Les Mouches và Buồn nôn La nausée {Phùng Thăng}, nxb AnTiêm. Bức tường Le mur {Lê Thanh Hoàng Dân} [5].. Sự nghiệp của Sartre đồ sộ như thế, không lạ gì mà đám ma ông vào năm 1980 được xem như một sự tiễn biệt một trí thức hàng đầu, một nhà văn cuối cùng của nước Pháp, đã nhắc nhở người ta nghĩ tới đám ma của Victor Hugo một thế kỷ trước. Nhưng những ảnh hưởng về triết học từ tác giả này đối với người đọc VN phải kể là nhỏ nhoị Trừ những sinh viên theo ban Triết.

Sách dịch Albert Camus

Camus đã được dịch khá nhiều. Giữa Sartre và Camus, độc giả VN chọn đọc Camus nhiều hơn. Vũ Đình Lưu dịch Người đàn bà ngoại tình. Trần thiện Đạo dịch Gió về Djémilạ Nguyễn Minh Hoàng dịch Cắt nghĩa cuốn Người xa lạ, J.P. Sartrẹ Bên cạnh đó còn Ngộ nhận, Bạo chúa Caligula, Con người phản kháng, Mùa hè-sa mạc cũng đã được dịch.Riêng cuốn L" étranger, theo dịch giả Trần Thiện Đạo đã được các tác giả sau đây chuyển ra tiếng Việt: Người xa lạ, Ạ Camus{Võ Lang}, nxb Thời Mới 1965. Kẻ xa lạ {Dương Kiền và Bùi ngọc Dung}, nxb Ngày Nay 1965. Kẻ xa lạ {Lê Thanh Hoàng Dân và Mai Vi Phúc}, nxb Trẻ 1973. Người dưng {Dương Tường}, nxb Văn Học, Hà Nội 1995. Và mới đây nhất Kẻø xa lạ {Nguyễn Văn Dân}, nxb Văn Hóa, Hà Nội 2002. Tại sao có sự dịch trùng lập đến lạ lùng như vậy? Vì tác giả nổi tiếng quá? vì cuốn L" étranger hay quá? Vì những người đi trước dịch dở quá? Vì nhu cầu độc giả mê đọc? Hay dịch lại từ bản dịch trước thì đỡ tốn công sức? Khoảng cách thời gian giữa bản dịch đầu đến bản dịch cuối cách nhau 35 năm có nói lên điều gì hay không? Trên báo Văn, số tưởng niệm ẠCamus 1.1.1965 có những bài sau đây: Trần Phong Giao dịch "La Peste"Dịch hạch. Vũ đình Lưu dịch Nền tảng Đạo Đức luận của Camus. Trần Phong Giao dịch Sứ mệnh văn nghệ hôm nay.

Nhưng thật sự mà nói, chủ nghĩa Hiện Sinh giới hạn vào một số thành phần sinh viên, trí thức rất chọn lọc. Nghe thì ai cũng nghe, biết loáng thoáng thì có, nhưng biết khá một chút thì không dễ. Vì thế, triết lý này chỉ ảnh hưởng rõ nét trên cái mốt sống Hiện Sinh, hay cái phong thái Hiện Sinh. Cái đó thì có rất nhiều và có tràn lan. Miền Nam lúc bấy giờ, bất cứ cái xì căng đan nào cũng đều đổ oan lên đầu triết lý Hiện Sinh. Một vụ tự tử, một chuyện tình ái lăng nhăng, người ta vội nói: do ảnh hưởng chủ nghĩa Hiện Sinh. Cái "thương hiệu" đó sau này, những người CS khi vào tiếp thu cũng cứ nhắm mắt kết án liều một cách hồ đồ. Mấy ai trong họ đủ điều kiện, đủ hiểu biết để phê phán? Phê phán những bèo bọt, bên lề với dụng ý chính trị mà cứ lầm tưởng rằng mình đang làm một cuộc phê phán văn học, triết học?

oOo

Truyện-VănChương

Story Options