|
Contributed by: phuochung |
Views: 3.512
Nguyễn Văn Lục
Văn học dịch kể như không có trong mắt một số nhà văn,
nhất là một số người làm công tác phê bình văn học
nghệ thuật. Nhà văn Võ Phiến có bộ sách dày gần 2000
trang về Văn học miền Nam nhưng đối với mảng Văn học
dịch thì ông hà tiện lắm: vỏn vẹn có hai trang. Trong hai
trang đó, ông lại dành để nói lên cái nỗi lo sợ của
một số người làm văn hoá lúc bấy giờ vì sự tràn
ngập sách dịch ở miền Nam vào cuối những thập niên 60
và đầu 70.
Võ Phiến đã có công lập một danh sách những người
làm văn nghệ trong Nam như các nhà thơ, các nhà văn... ngay
cả những người viết về Triết, về Sử, các người
làm nghiên cứu về ngôn ngữ học, những người viết về
chính trị như ông Vũ Tài Lục hay Nguyễn Bảo Trị cũng có
tên nhưng lại không lập danh sách các dịch giả. Vì trong
tập mở đầu Văn học miền Nam tổng quan, Võ Phiến đã
có lời hứa: ""Các tập kế tiếp sẽ được dành cho
từng bộ môn sáng tác". Thế là rõ ràng rồi, phải sáng
tác mới được. Thật cũng chẳng muốn làm khó Võ
Phiến, nội cái việc chọn người này, không chọn người
kia cũng đủ làm ông mệt rồi.
Riêng những người làm công việc dịch thuật thì kém may
mắn thật. Tên họ đã không có. Chẳng hạn như chị em
Phùng Thăng, Phùng Khánh rồi Vũ Đình Lưu, Hải Triều,
Ngọc Thứ Lang, Nguyễn Văn Sơn, Trần Thiện Đạo, Bửu Ý,
Phạm Kim Khôi, Nguyễn Hữu Hiệu, Đinh Bá Kha hay các dịch
giả dịch tiểu thuyết Tàu như Hàn Giang Nhạn, Liêu Quốc
Nhĩ và hằng trăm người khác.
Họ không có mặt.
Điều đó chúng ta phải nghĩ thế nào? Phải chăng sách
dịch là thứ văn hóa ngoại lai không đáng được nói
tới? Vậy mà cái thị phần sách dịch theo Võ Phiến đã
có một thời vào năm 1970 chiếm đến 60% và đến năm
1972 đã lên đến 80% toàn bộ đầu sách xuất bản ở
miền Nam. Trần Trọng Đăng Đàn, trong Văn Hoá, Văn Nghệ
Nam VN 1954.1975 cũng đưa ra con số chính xác như Võ Phiến.
Cũng theo Trần Trọng Đăng Đàn, sau kết quả điều tra,
tiến hành vào tháng 7.1976, số sách dịch của miền Nam
trong 20 năm bao gồm: Đức 57 đầu sách, Ý 58, Nhật 71, Anh
97, Mỹ 273, Pháp 499, Đài Loan và Hương Cảng 358, Nga 120,
còn lại các nước khác 38 [1]. Những con số vừa nêu trên
đáng để ta suy nghĩ lắm chứ?
Trong những năm đầu, từ 1955 đến 1960 số đầu sách
dịch kể ra còn thưa thớt. Không phải chính quyền không
lưu ý đến điều đó, bên cạnh công tác dịch thuật của
các cơ quan văn hóa như Cơ quan viện trợ Á Châu (Asian
Foundation), Phòng thông tin Hoa Kỳ, Hội Việt Mỹ, Phù Luân
Hội và nhất là Hội văn hoá Á Châu (Asian culture
association), ngay từ cuối 1955 Bộ thông tin dưới thời
tổng thống Ngô đình Diệm đã ban hành nghị định về:
Thủ tục kiểm duyệt ấn phẩm nước ngoài nhập cảng -
ấn định thủ tục duyệt các sách dịch - về tiền thù lao
dịch thuật và các loại sách được nhập cảng vào VN.
Đến thời tổng thống Nguyễn văn Thiệu, đã thành lập
Ủy ban dịch thuật do ông Mai Thọ Truyền làm chủ tịch. Năm
1970 đã thiết lập Hội đồng chấm giải dịch thuật. Năm
1971, tổng thống Thiệu đã xuất quỹ một triệu bốn
trăm ngàn đồng cho các giải về dịch thuật. Nhưng tất
cả những nỗ lực từ phía chính quyền và các cơ quan
Văn Hóa thật sự chẳng có ảnh hưởng là bao nhiêu đến
sinh hoạt dịch thuật ở miền Nam, đôi khi còn gây phản
tác dụng có hại.
Khung cảnh lúc bấy giờ ở miền Nam, nhất là sau khi Sáng
Tạo ra đời vào tháng 10.1956, có một không khí nở rộ,
tưng bừng. Mọi sinh hoạt văn học như bừng trỗi dậy: thơ
văn, sách báo tiểu thuyết, hội họa. Báo có Ngôn Luận,
Tự Do thu hút được nhiều cây viết có tài. Nhạc có
Phạm Duỵ Hội họa có Tạ Tỵ, Thái Tuấn, Duy Thanh. Triết
Tây có Nguyễn Văn Trung và Nguyễn Nam Châu với hai cuốn:
Những nhà văn hoá mới (1958) và Sứ mệnh Văn Nghệ (1958)
[2].. Hai cuốn sách này đã gây thích thú cho nhiều độc
giả thời kỳ đó. Chỉ tiếc rằng, sau đó Nguyễn Nam Châu
đi du học rồi làm giáo sư ở Bỉ không thấy xuất hiện
nữa. Báo tuần có Sáng Tạo khua động, phất trống mở
cờ với lời tuyên bố của Mai Thảo trong Sáng Tạo, số 1,
1956: ""Sàigòn thay thế cho Hànội, từ một đô thị miền
Nam trở thành thủ đô tinh thần của toàn thể đất
nước. Sàigòn sáng tạo và suy tưởng". Tiếp theo là Văn
Hoá Ngày Nay, Bách Khoa, Hiện Đại, Thế Kỷ 20, v.v..
Sự có mặt của Sáng Tạo vô tình đã đẩy lui một số
khuôn mặt những nhà văn, nhà thơ cũ vào im lặng, tệ
hơn nữa vào bóng tối. Họ là những Đông Hồ, Vũ Bằng,
Quách Tấn, Thiên Giang, Thẩm Thệ Hà, Tam Lang, Vi Huyền
Đắc và đặc biệt là Nhất Linh với tờ Văn Hóa Ngày
Nay.
Khi số báo đầu tiên của Văn Hóa Ngày Nay ra ngày
27.06.1958 đã bán được 10.000 số. Sự tò mò háo hức
tìm lại Tự Lực Văn Đoàn nhanh chóng trở thành nỗi
thất vọng: Vẫn thế... Không ai ngờ sau đó độc giả bỏ
rơi Nhất Linh. Nghĩ lại cái thời từ 1930-1945, Nhất Linh
huy hoàng quá, không ai hơn ông đuợc. Làm sao ông không
buồn? Nói cho cùng cũng chẳng phải tại Sáng Tạo. Cuộc di
cư của người Bắc vào Nam đã bỏ lại sau lưng gần như
toàn bộ quá khứ một cách không tương nhượng, cả một
truyền thống văn học, một nếp sống, nếp nghĩ vào
đến trong Nam theo quy trình hội nhập đã tự động cởi
rũ để hội nhập. Sáng Tạo có mặt vì đem lại một cái
gì mới, chặt cầu với cái cũ, giới thiệu cái ngày hôm
nay, dù ngày hôm nay chưa định hình và chưa biết hôm nay
là cái gì... Văn Hóa Ngày Nay muốn làm sống lại thời 45,
điều đó đi ngược lại tiến trình hội nhập xã hội
khiến bị loại là điều khó tránh được.
Riêng Sáng Tạo, mặc dầu được tài trợ của chính quyền
cũng chỉ có mặt vỏn vẹn có 31 tháng. Mặc dù vậy, đó
là những giai đọan đem lại nhiều thay đổi, nhiều triển
vọng sau này cho các lớp nhà văn trẻ nam và nữ của thập
niên 60.
Trước tình hình như thế, sinh hoạt dịch ra sao? Thật ra
miền Nam lúc đó không thiếu những người có đầy đủ
uy tín và trình độ để dịch thuật. Họ có vốn liếng
tiếng ngoại quốc Anh và Pháp ngữ, đi du học về. Chẳng
hạn, tờ Sáng Tạo cứ mang tiếng là cửa ngõ đem chủ
nghĩa Hiện Sinh vào VN. Nào đã có ai dịch cái gì đâu?
Chỉ có rải rác một vài bài sau đây: Văn chương và Siêu
Hình Học, Nguyễn văn Trung, số 10 tháng 7.1957; Nhận định
đại cương về triết học Hiện Hữu, Nguyên Sa, số 14
tháng 11.1957; Khái niệm về chủ nghĩa Hiện Sinh, Quang Minh,
số 28.29 tháng 1 và 2.1959; Trình bầy và phê bình hai quan
điểm nổi loạn của Camus, Thạch Chương, số tháng 9.1960.
Dịch và giới thiệu: Người đàn bà ngoại tình của Camus,
Nguyễn Văn Trung, số tháng 12.1960.
Hình như chỉ có vậy.
Trong khi đó, trên tờ Bách Khoa, có tất cả 21 bài viết
liên quan đến triết học Hiện Sinh. Phần lớn do Trần
Hương Tử, tức Trần Thái Đỉnh viết từ Kierkergaard,
Heidegger đến Husserl, Sartre, Camus [3].. Thật sự triết
học Hiện Sinh được giới thiệu và được nói tới
nhiều từ tạp chí Đại Học Huế, có 23 bài viết về
triết học Hiện Sinh [4].. Nhưng số sách dịch và biên
khảo về chủ nghĩa này chỉ ảnh hưởng nơi một số sinh
viên, nhất là những sinh viên Văn Khoạ
Sách dịch Jean Paul Sartre
Phần lớn sách dịch về Sartre là ở phần văn chương
Hiện Sinh, phần tiểu thuyết của Sartrẹ Những tác phẩm
về triết lý Hiện Sinh như L" Etre et le Néant (1943),
Critique de la raison dialectique (1960) đã không được dịch.
Có muốn dịch cũng không phải dễ. Về Sartre có những
dịch phẩm sau:
Cuộc tranh luận về văn nghệ giữa Sartre, ỴBerger, Simon
{Trần Thiện Đạo}, báo Văn số đặc biệt về J.P Sartrẹ
Sartre tỏ rõ thêm về quyển Les Mots, bài của J. Platier
{Trần Thiện Đạo}. Tiền Phong là gì? {Lê Huy Oanh}. Sartre
nói về Sartre {Trần Thiện Đạo}. Ạ Camus, J.P. Sartre {Trần
Thiện Đạo}. Guồng máy L" engrenage {Trần Phong Giao}. Ả
giang hồ La pute respectueuse {Nguyễn Minh Hoàng}. Không một
nấm mồ Morts sans sépultures rồi Les séquestrés d" Alton và
Sự đã rồi Les jeux sont faits {Trần Phong Giao}. Những
ruồi Les Mouches và Buồn nôn La nausée {Phùng Thăng}, nxb
AnTiêm. Bức tường Le mur {Lê Thanh Hoàng Dân} [5]..
Sự nghiệp của Sartre đồ sộ như thế, không lạ gì mà
đám ma ông vào năm 1980 được xem như một sự tiễn
biệt một trí thức hàng đầu, một nhà văn cuối cùng
của nước Pháp, đã nhắc nhở người ta nghĩ tới đám ma
của Victor Hugo một thế kỷ trước. Nhưng những ảnh
hưởng về triết học từ tác giả này đối với người
đọc VN phải kể là nhỏ nhoị Trừ những sinh viên theo ban
Triết.
Sách dịch Albert Camus
Camus đã được dịch khá nhiều. Giữa Sartre và Camus,
độc giả VN chọn đọc Camus nhiều hơn. Vũ Đình Lưu dịch
Người đàn bà ngoại tình. Trần thiện Đạo dịch Gió về
Djémilạ Nguyễn Minh Hoàng dịch Cắt nghĩa cuốn Người xa
lạ, J.P. Sartrẹ Bên cạnh đó còn Ngộ nhận, Bạo chúa
Caligula, Con người phản kháng, Mùa hè-sa mạc cũng đã
được dịch.Riêng cuốn L" étranger, theo dịch giả Trần
Thiện Đạo đã được các tác giả sau đây chuyển ra
tiếng Việt: Người xa lạ, Ạ Camus{Võ Lang}, nxb Thời Mới
1965. Kẻ xa lạ {Dương Kiền và Bùi ngọc Dung}, nxb Ngày Nay
1965. Kẻ xa lạ {Lê Thanh Hoàng Dân và Mai Vi Phúc}, nxb Trẻ
1973. Người dưng {Dương Tường}, nxb Văn Học, Hà Nội
1995. Và mới đây nhất Kẻø xa lạ {Nguyễn Văn Dân}, nxb
Văn Hóa, Hà Nội 2002. Tại sao có sự dịch trùng lập đến
lạ lùng như vậy? Vì tác giả nổi tiếng quá? vì cuốn L"
étranger hay quá? Vì những người đi trước dịch dở quá?
Vì nhu cầu độc giả mê đọc? Hay dịch lại từ bản dịch
trước thì đỡ tốn công sức? Khoảng cách thời gian
giữa bản dịch đầu đến bản dịch cuối cách nhau 35 năm
có nói lên điều gì hay không? Trên báo Văn, số tưởng
niệm ẠCamus 1.1.1965 có những bài sau đây: Trần Phong Giao
dịch "La Peste"Dịch hạch. Vũ đình Lưu dịch Nền tảng Đạo
Đức luận của Camus. Trần Phong Giao dịch Sứ mệnh văn
nghệ hôm nay.
Nhưng thật sự mà nói, chủ nghĩa Hiện Sinh giới hạn vào
một số thành phần sinh viên, trí thức rất chọn lọc.
Nghe thì ai cũng nghe, biết loáng thoáng thì có, nhưng biết
khá một chút thì không dễ. Vì thế, triết lý này chỉ
ảnh hưởng rõ nét trên cái mốt sống Hiện Sinh, hay cái
phong thái Hiện Sinh. Cái đó thì có rất nhiều và có
tràn lan. Miền Nam lúc bấy giờ, bất cứ cái xì căng đan
nào cũng đều đổ oan lên đầu triết lý Hiện Sinh. Một
vụ tự tử, một chuyện tình ái lăng nhăng, người ta
vội nói: do ảnh hưởng chủ nghĩa Hiện Sinh. Cái "thương
hiệu" đó sau này, những người CS khi vào tiếp thu cũng
cứ nhắm mắt kết án liều một cách hồ đồ. Mấy ai
trong họ đủ điều kiện, đủ hiểu biết để phê phán?
Phê phán những bèo bọt, bên lề với dụng ý chính trị mà
cứ lầm tưởng rằng mình đang làm một cuộc phê phán
văn học, triết học?
oOo
|
|